BÌNH LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỀN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI

LS. PHẠM QUANG HUY – Trưởng Văn phòng Luật sư Hàn Sĩ Huy

Khi thị trường bất động sản (BĐS) phát triển rực rỡ tại Việt Nam vào thập kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ ba, trong vòng chưa đầy 10 năm, Việt Nam đã có trên 7.000 doanh nghiệp kinh doanh BĐS[1]. Trên thực tế đã xuất hiện các giao dịch mà đối tượng là tài sản/BĐS hình thành trong tương lai (các công trình xây dựng chưa có trên thực tế, thực địa). Hợp đồng chuyển nhượng BĐS hình thành trong tương lai (HĐCNBĐSTL) là một bước tiến lớn trong khoa học pháp lý nói chung và luật hợp đồng nói riêng.

1. Lược sử dân luật Việt Nam

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Việt Nam tồn tại ba bộ dân luật, gồm có: (1) Bộ Dân luật Giản yếu ban hành năm 1883 ở Nam phần; (2) Bộ Dân luật ban hành năm 1931 (thường được gọi là Bộ Dân luật Bắc) gồm 1455 Điều, chia làm Thiên sơ bộ và 04 Quyển[2] ở Bắc phần; (3) Nhằm “cốt để sửa sang hộ luật ở xứ Trung – Kỳ cho được rõ ràng và thích hiệp, đều là có thể theo y như luật hộ hiện thi hành ở Bắc Kỳ”[3] [1, tr.3], Đại Nam Hoàng đế Bảo Đại đã ban hành Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ Luật (thường được gọi là Bộ Dân luật Trung) gồm có Quyển thứ nhất theo đạo Dụ số 51 ngày 13/7/1936 (có hiệu lực thi hành từ 01/01/1937), Quyển thứ hai theo đạo Dụ số 95 ngày 08/01/1938 (có hiệu lực thi hành từ 31/8/1938), các Quyển thứ ba, thứ tư và thứ năm được ban hành theo đạo Dụ số 59 ngày 28/9/1939, có hiệu lực thi hành từ ngày 08/02/1940. Bộ Dân luật Trung này tổng cộng gồm 1709 điều[4].

Ngày 20/12/1972, tại miền nam Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Bộ Dân luật mới. Bộ Dân luật này gồm Thiên Mở đầu, Quyển I đến Quyển V và Điều khoản tổng quát, tổng cộng 1500 điều[5].

Sau khi thống nhất đất nước, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã hai lần thông qua Bộ luật Dân sự (BLDS): (1) Ngày 28/10/1995, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 8 đã thông qua BLDS năm 1995 gồm 07 Phần, 25 Chương, 868 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/1996 và (2) Ngày 14/6/2005 (sau gần tròn 10 năm), Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua BLDS năm 2005 gồm 07 Phần, 777 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006, thay thế BLDS năm 1995[6].

Đọc tiếp

DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

NGUYỄN HỒNG HÀ – Vụ Phát triển KH&CN Địa phương, Bộ KH&CN

THS. LÊ VŨ TOÀN – Trường quản lý KH&CN, Bộ KH&CN

Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặt ra và quyết tâm triển khai thực hiện. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, việc phát triển doanh nghiệp KH&CN ở nước ta còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Bài viết nêu tổng quan tình hình phát triển doanh nghiệp KH&CN trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển của loại hình doanh nghiệp đặc thù này ở nước ta trong thời gian tới.

1.Khái niệm doanh nghiệp KH&CN và điều kiện cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN

Doanh nghiệp KH&CN xuất hiện trên thế giới từ khoảng giữa thế kỷ XX, xuất phát từ mô hình spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) và start-up (doanh nghiệp khởi nghiệp) được hình thành ở các nước công nghiệp phát triển. Spin – off được khởi nguồn từ Trường đại học (tách ra hoạt động độc lập từ các Trường đại học), do các cá nhân tạo ra các tài sản KH&CN tham gia vào quá trình quản lý của doanh nghiệp. Start – up chỉ sự khởi nghiệp của một doanh nghiệp mới hình thành trên nền tảng kết quả KH&CN[31],[33]. Mặc dù có sự khác nhau giữa spin-off và start-up, nhưng giữa chúng đều có đặc điểm chung là: (1) Khởi đầu một doanh nghiệp mới dựa trên kết quả KH&CN; (2) Doanh nghiệp có khả năng thực hiện đổi mới và thương mại hóa các kết quả KH&CN để sản xuất các loại sản phẩm mà người tiêu dùng có nhu cầu.

Để khuyến khích các spin –off, start-up phát triển, chính phủ các quốc gia trên thế giới đều có những chính sách hỗ trợ phát triển, như khuyến khích thành lập các Vườn ươm công nghệ, các trung tâm chuyển giao công nghệ, văn phòng cấp phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư thiên thần (angel fund) – quỹ đầu tư cá nhân,…. [31],[32],[33] để hỗ trợ các doanh nghiệp KH&CN hình thành và phát triển. Theo số liệu của Hiệp hội các trường đại học quản lý công nghệ Mỹ (AUTM), trong giai đoạn 1980-2000, Mỹ có 3.376 doanh nghiệp KH&CN (spin offs) tại các trường đại học. Tốc độ gia tăng ngày càng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tại Anh, có 1.307 doanh nghiệp KH&CN tại các trường đại học trong năm 2007, với sự bổ sung 219 doanh nghiệp KH&CN từ 163 trường đại học trong năm 2008. Tốc độ tăng hàng năm khoảng 70 doanh nghiệp KH&CN từ 102 trường đại học tại Vương quốc Anh [35].

Đọc tiếp

NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

TS. MAI BỘ – Phó Chánh án Tòa án quân sự trung ương

1. Một số vấn đề lý luận về tranh tụng trong tố tụng dân sự

Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Còn tranh luận được hiểu là: “bàn cãi tìm ra lẽ phải”[1]; là một phần tố tụng của phiên tòa, được tiến hành sau khi kết thúc phần xét hỏi.[2] Tương ứng với các loại tố tụng có tranh tụng trong tố tụng hình sự, tranh tụng trong tố tụng hành chính và tranh tụng trong tố tụng dân sự. Tương ứng với các loại phiên tòa có tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm. Như vậy, tranh tụng trong tố tụng dân sự là một loại tranh tụng trong tố tụng, bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa và tranh trụng sau khi có quyết định giả quyết vụ án dân sự. Vì tố tụng dân sự là quá trình giải quyết vụ án dân sự cho nên tranh tụng trong tố tụng dân sự là tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự có thời điểm bắt và thời điểm kết thúc. Theo đó, có thể hiểu giới hạn của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.

- Theo nghĩa rộng, giới hạn của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự bắt đầu từ khi có tranh chấp dân sự và đương sự thể hiện nhu cầu giải quyết tranh chấp đó, kết thúc khi giải quyết xong tranh chấp dân sự bao gồm cả giai đoạn thi hành án dân sự. Nếu có tranh chấp dân sự nhưng đương sự không muốn giải quyết tranh chấp thì không xuất hiện nhu cầu tranh tụng để giải quyết tranh chấp. Việc đương sự là người thắng kiện trong vụ việc dân sự từ chối (không làm đơn) yêu cầu thi hành án dân sự trong thời hạn do pháp luật quy định có thể được hiểu là nội dung quyền tự định đoạt của đương sự và thể hiện quan điểm tranh tụng của đương sự. Bởi lẽ, trong thực tiễn có vụ tranh chấp dân sự, đương sự chỉ cần Tòa án ra phán quyết là mình thắng kiện mà không cần buộc bên thua kiện thi hành quyết định của Tòa án. Mặt khác, hiểu giới hạn của việc tranh tụng trong tố tụng dân sự theo nghĩa rộng có ý nghĩa rất lớn đối với việc Tòa án ghi nhận và cho thi hành kết quả hòa giải thành những tranh chấp dân sự trong nhân dân do Ban tư pháp và các đoàn thể chính trị cấp xã thực hiện. Việc giải quyết tranh chấp dân sự theo cơ chế pháp lý này sẽ hạn chế được rất nhiều vụ kiện dân sự mà Tòa án phải giải quyết, xét xử và đương nhiên sẽ giảm chi phí xã hội rất lớn cho việc giải quyết tranh chấp dân sự.

Đọc tiếp

TRAO ĐỔI VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP TIỀN GỬI TIẾT KIỆM

PHAN THỊ VÂN HƯƠNG – Tòa dân sự – TANDTC

1. Nội dung tranh chấp:

Ngày 01/2/2006, ông A gửi tiết kiệm số tiền 100.000.000 đồng tại Ngân hàng B, thời hạn 3 tháng, lãi suất 1%/tháng. Sổ tiết kiệm có ghi: “Đến kỳ hạn, khách hàng không đến nhận lại vốn hoặc làm thủ tục gửi tiếp thì số vốn đáo hạn sẽ không sinh lãi tiếp”. Ngày 01/5/2006, ngày 1/8/2006 ông A đến Ngân hàng làm thủ tục đáo hạn thêm tổng số 2 kỳ hạn (3 tháng) nữa, sau đó không tiếp tục đáo hạn.

Ngày 01/02/2011, ông A đem sổ tiết kiệm đến Ngân hàng để rút toàn bộ tiền gốc, lãi, yêu cầu trả lãi đến ngày 01/02/2011. Ngân hàng B chỉ chấp nhận trả ông A số tiền gốc 100.000.000 đồng và lãi của 3 kỳ mỗi kỳ 3 tháng, tổng số là 109.272.000 đồng, từ chối trả lãi từ 01/11/2006 đến 01/02/2011 với lý do ông A không đến đáo hạn theo thỏa thuận. Hai bên không thống nhất được số tiền Ngân hàng trả. Ngày 02/01/2012, ông A khởi kiện Ngân hàng B yêu cầu trả lãi từ 1/11/2006 đến ngày xét xử sơ thẩm, lãi theo thỏa thuận trong hạn, ngoài hạn tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước quy định với từng kỳ hạn 3 tháng lãi nhập gốc. Cách tính như sau: lãi trong hạn kỳ 1-2-3 theo lãi thỏa thuận 3%/kỳ- tính đến 31/10/2006 là 109.272.000 đồng; từ kỳ thứ 4 bắt đầu từ ngày 1/11/2006 lãi suất theo lãi cơ bản Ngân hàng Nhà nước đối với từng kỳ hạn 3 tháng: kỳ 4 (0,6875%/tháng- Quyết định số 1887/QĐ-NHNN ngày 29/09/2006) gốc và lãi đến kỳ 5 là 111.523.003 đồng; kỳ 5 từ 1/2/2007… tính đến ngày xử sơ thẩm tháng 5 năm 2011 là khoảng 165.000.000 đồng (tính tròn) .

2. Các quan điểm về việc giải quyết tranh chấp:

Ý kiến thứ nhất: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến thứ hai: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Ngân hàng B phải trả ông A 109.272.000 đồng gốc và lãi trong hạn (9 tháng) đến ngày 31/10/2006; trả lãi theo lãi suất cơ bản 9%/năm kể từ ngày 1/11/2006 đến ngày xét xử sơ thẩm 5/2011. Cụ thể số tiền phải trả là 158.000.000 đồng (tính tròn).

Đọc tiếp

SỬA QUY ĐỊNH VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: BƯỚC TIẾN HAY LÙI?

TS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC (Tác giả xin cảm ơn TS., LS. Franck Julien, Ngân hàng CREDIT AGRICOLE CORPORATE & INVESTMENT BANK (Paris) về các nhận xét và gợi ý liên quan đến bài viết).

Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi (Dự thảo) do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo dường như chỉ cố gắng đưa ra các khái niệm hay cơ chế mang tính học thuật và có phần đã lạc hậu so với sự phát triển chung của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Bài viết sẽ tập trung phân tích một số hạn chế của Dự thảo đồng thời nêu một số giải pháp hoàn thiện Dự thảo.

Một số ít ỏi điểm mới đáng ghi nhận

Dự thảo đã chính thức công nhận giá trị pháp lý của việc một bên cầm cố hay thế chấp tài sản của mình để đảm bảo nghĩa vụ cho một bên khác (điều 283 và điều 293). Chẳng hạn giám đốc một doanh nghiệp có thể thế chấp ô tô mà anh ta sở hữu để bảo đảm khoản vay cho doanh nghiệp này. Nói cách khác cầm cố hay thế chấp tài sản của người thứ ba được coi là giao dịch bảo đảm độc lập với việc cầm cố hay thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh.

Quy định này sẽ giúp khắc phục được khó khăn đang đặt ra trong thực tế hiện nay khi mà trước việc quy định của pháp luật chưa rõ ràng, một số tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp hay cầm cố tài sản của bên thứ ba ngoài quan hệ bảo lãnh.

Hơn nữa, Dự thảo cho phép bên nhận cầm cố được quyền cầm cố lại, nếu được bên cầm cố đồng ý (khoản 2, điều 291), qua đó tăng cường quyền của bên cầm cố.

Phân loại các biện pháp bảo đảm

Khái niệm “biện pháp bảo đảm” và “giao dịch bảo đảm” vốn khá dễ hiểu đã được Dự thảo thay thế bằng khái niệm “vật quyền bảo đảm”. Dự thảo đã đặt quy định về vật quyền bảo đảm (gồm quyền cầm cố, quyền thế chấp, quyền cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu) và quy định về các biện pháp bảo đảm khác (đặt cọc, ký cược, ký quỹ và bảo lãnh) trong hai phần quy định khác nhau.

Có thể hiểu vật quyền bảo đảm trước hết là quyền nên người viết Dự thảo cố gắng biến giao dịch cầm cố và thế chấp thành các quyền để tương thích với cách phân loại này. Tuy vậy, cách đặt tên “quyền cầm cố”, “quyền thế chấp” dễ gây nhầm lẫn và có xu hướng nôm na hóa khái niệm pháp lý.

Hơn nữa cách phân chia biện pháp bảo đảm vừa nêu của Dự thảo khá gượng ép bởi (i) đây đều là các biện pháp bảo đảm chỉ có điều bảo lãnh dựa trên cam kết cá nhân thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm trong khi các biện pháp bảo đảm còn lại là các biện pháp bảo đảm bằng tài sản;

Đọc tiếp

NHẬN TÀI SẢN BẢO ĐẢM LÀ PHẦN VỐN GÓP : TỪ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẾN THỰC TIỄN

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC & NCS khoa Luật, Đại học Paris 2 Panthéon Assas, Pháp.

Tóm tắt : Dù quy định pháp luật còn chưa thực sự rõ ràng, biện pháp bảo đảm phù hợp nhất đối với phần vốn góp là thế chấp. Có hai phương thức xử lý tài sản bảo đảm là phần vốn góp theo thỏa thuận mà chủ nợ có bảo đảm có thể sử dụng là bán phần vốn góp cho bên thứ ba và nhận phần vốn góp để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm. Nếu bên mua phần vốn góp hay bên nhận thế chấp nhận chính phần góp để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm là một doanh nghiệp nước ngoài thì bên này phải tuân thủ một số thủ tục theo quy định của pháp luật để đảm bảo giá trị pháp lý cho việc chuyển nhượng.

******

Bài viết tập trung phân tích loại hình giao dịch bảo đảm mà chủ nợ có thể nhận đối với tài sản bảo đảm là phần vốn góp và cách thức xử lý loại tài sản bảo đảm đặc biệt này. Đây là một vấn đề pháp lý khá phức tạp và bài viết này chỉ nhằm mục đích phác họa các nét lớn về chủ đề này. Cần lưu ý là chứng khoán như cổ phiếu của công ty đại chúng có thể được cầm cố theo quy định của pháp luật chuyên ngành (đặc biệt là điều 31 của Quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 87/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 22 tháng 10 năm 2007 được bổ sung, sửa đổi năm 2010, các điều từ 31 đến 34 của Quy chế hoạt động lưu ký chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 38/QĐ-VSD của Tổng Giám đốc Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam ngày 25 tháng 4 năm 2012 và điều 19.3, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm 2006 về Giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2012 (Nghị định 163)). Việc xác lập và xử lý cầm cố chứng khoán khá khác biệt so với quy định liên quan đến phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần và do đó không thuộc phạm vi nghiên cứu của bài viết này[1].

1. Xác lập và công bố giao dịch bảo đảm

Giao dịch bảo đảm nào phù hợp đối với phần vốn góp?

Bộ luật dân sự đặt ra một nguyên tắc chung theo đó quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp có thể dùng làm tài sản bảo đảm (khoản 1, điều 322). Cho dù rất khó xác định chính xác ý nghĩa của thuật ngữ quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp[2], có thể hiểu rằng Bộ luật dân sự thừa nhận giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp.

Đọc tiếp

LUẬN GIẢI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

HUỲNH THẾ DU – giảng viên tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và hiện đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard

Bài này được viết khi tác giả đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard. Tuy nhiên, bài viết không thuộc bất kỳ dự án hay được tài trợ bởi tổ chức hay cá nhân nào (kể cả Đại học Harvard và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nơi tác giả vẫn đang trong biên chế). Ý tưởng viết bài này được hình thành một cách tình cờ sau khi tác giả trao đổi với GS. Nguyễn Quang Thái về một số vấn đề liên quan. Bài viết hoàn toàn thể hiện quan điểm riêng của tác giả với mục tiêu duy nhất là đóng góp vào những thảo luận đến đường hướng phát triển cho Việt Nam hiện nay.

Để có thể hoàn thành bài viết, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người. Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS. Nguyễn Quang Thái với những trao đổi để tôi có thể hình thành bài viết cũng như việc cung cấp một số tài liệu và đọc các bản thảo với những nhận xét và góp ý vừa bao quát, vừa rất cụ thể. Tôi xin chân thành cảm ơn GS. Trần Hữu Dũng với những góp ý và bình luận hết sức thẳng thắn và xác đáng cho những nội dung cốt lõi của bài viết qua những bản thảo khác nhau. Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Trần Ngọc Anh, TS. Vũ Thành Tự Anh, bà Phạm Chi Lan, PGS. Phạm Duy Nghĩa, ông Trần Đức Nguyên, ông Nguyễn Vạn Phú, ông Nguyễn Xuân Thành, GS. Trần Văn Thọ và một số người khác đã đọc và có những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức quý báu cho bài viết. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bà Phạm Chi Lan đã chuyển bản thảo đến một số người đọc và góp ý giúp tôi. Tôi xin cảm ơn ông Phạm Vũ Lửa Hạ đã giúp tôi tìm hiểu một số thuật ngữ liên quan.

Tất cả những người đã đọc các bản thảo và góp ý cho tôi đều là những chuyên gia hàng đầu trong những lĩnh vực liên quan đến các nội dung chính của bài viết. Do vậy, tôi đã có được những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức sâu sắc từ bao quát đến cụ thể. Có những góp ý đơn giản chỉ là điều chỉnh hay thay đổi một vài câu chữ, nhưng đã làm cho các nội dung cốt lõi của bài viết nổi lên rõ ràng hơn rất nhiều. Điều này chỉ có thể đến từ những người thực sự am hiểu vấn đề. So với bản thảo đầu tiên, phiên bản này đã được bổ sung và phát triển thêm rất nhiều. Tuy nhiên, đây là một vấn lớn và liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng các nguồn lực  và khả năng của tác giả có hạn nên bài viết không thể phân tích hay lý giải tất cả các vấn đề được nêu ra một cách thấu đáo. Thêm vào đó, những điểm yếu, những sai sót là không thể tránh khỏi và lỗi này hoàn toàn thuộc về tác giả. Cuối cùng, bài viết chỉ là một phân tích, một tiếp cận của tác giả về một số khía cạnh trong chủ đề quan trọng này. Tác giả sẽ tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thêm về những vấn đề liên quan trong khả năng và nguồn lực của mình. Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để cùng tất cả mọi người chung tay làm rõ con đường phát triển của Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, tác giả rất mong nhận được những góp ý, bình luận và trao đổi của những người quan tâm đến vấn đề này nói riêng, vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam nói chung.

Cambridge Tháng 11, 2013

Đọc tiếp

TÍNH MỚI TRONG VIỆC BẢO HỘ SÁNG CHẾ ĐỐI VỚI CÁC BÀI THUỐC CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Chính sách phát triển y học cổ truyền được Nhà nước ta quan tâm, gần đây nhất Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2166 QĐ/TTg ngày 30.11.2010 Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược học cổ truyền Việt Nam đến năm 2020.

Xét về giá trị kinh tế do y học cổ truyền mang lại, tại Việt Nam, trong năm 2003 đã tập hợp được 39.381 bài thuốc cổ truyền, sản lượng xuất khẩu bài thuốc cổ truyền đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 10-20 triệu USD.[1]

Trong một nghiên cứu của Correa Carlos M. vào năm 2002 cho thấy, trên thế giới tổng giá trị mà thị trường thuốc cổ truyền mang lại vào khoảng 60 tỷ USD/năm với mức tăng trưởng hàng năm đạt từ 5% đến 15%.[2] Nghiên cứu của Xuezhong ZHU cho biết, chỉ trong năm 2007 Trung Quốc đã thu 15 tỷ USD do xuất khẩu dược liệu cổ truyền.[3]

Trên thế giới, cuộc chiến pháp lý để xác định chủ sở hữu đối với các bài thuốc cổ truyền đang diễn ra gay gắt giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển, ước tính rằng mỗi năm có khoảng 2.000 patent liên quan đến bài thuốc cổ truyền của Ấn Độ đã được cấp do sai lầm của các cơ quan sáng chế trên toàn thế giới, trong đó chỉ tính riêng tại Brussels đã cấp 285 patent liên quan đến bài thuốc cổ truyền của Ấn Độ.[4]

Tại Việt Nam, theo thống kê từ 1998 đến cuối 2012, Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) mới chỉ nhận 69 đơn đăng ký sáng chế đối với bài thuốc cổ truyền, bao gồm cả đơn của cá nhân/tổ chức từ Việt Nam và từ nước ngoài, trong đó số đơn bị từ chối chiếm tỷ lệ không nhỏ.

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, bài viết này đặt mục tiêu nghiên cứu đề xuất các giải pháp để bảo hộ hữu hiệu các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam.

Giới hạn nghiên cứu thuộc lĩnh vực y học cổ truyền trong bài viết này bao gồm các bài thuốc cổ truyền có nguồn gốc thảo dược (gọi tắt là bài thuốc cổ truyền).

Đồng thời để cho gọn, chúng tôi sử dụng thuật ngữ patent với hàm nghĩa là bằng độc quyền sáng chế (mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ này).[5]

Đọc tiếp

BÀN VỀ TRÌNH ĐỘ SÁNG TẠO TRONG VIỆC BẢO HỘ SÁNG CHẾ ĐỐI VỚI CÁC BÀI THUỐC CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Trong một nghiên cứu đăng trên Chuyên san Luật học của Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội[1] tác giả đã bàn về tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam, trong bài viết này tác giả xin bàn đến trình độ sáng tạo – một trong 3 điều kiện để bài thuốc cổ truyền được cấp bằng độc quyền sáng chế.

Trước hết, để cho gọn tác giả xin quy ước về các thuật ngữ được sử dụng trong bài viết này, bao gồm:

- Y học cổ truyền (Traditional Medicine): theo cách phân loại của Tổ chức Sở hữu trí tuệ (SHTT) Thế giới – WIPO thì y học cổ truyền là một bộ phận của tri thức truyền thống (Traditional Knowledge)[2].

- Bài thuốc cổ truyền: trong bài viết của Jerry I. và H. Hsiao thuộc Viện Nghiên cứu SHTT Queen Mary thuộc Đại học London (Queen Mary Intellectual Property Research Institute, University of London) đã phân loại các bài thuốc thảo dược (Herbal Medicine) là một trong những bộ phận thuộc y học cổ truyền[3]. Do đó, giới hạn nghiên cứu thuộc lĩnh vực y học cổ truyền trong bài viết này bao gồm các sang chế lien quan đến bài thuốc cổ truyền (gọi tắt là bài thuốc cổ truyền).

- Patent chỉ dùng với hàm nghĩa duy nhất là bằng độc quyền sáng chế bài thuốc cổ truyền có nguồn gốc thảo dược.

Như đã biết, theo quy định của pháp luật, bài thuốc cổ truyền không thể được cấp patent nếu nó bị coi là không đạt trình độ sáng tạo, tuy nhiên thuật ngữ “trình độ sáng tạo” lại được pháp luật mỗi quốc gia quy định theo cách riêng của mình, miễn là quy định này không mâu thuẫn với quy định quốc tế. Nhưng “cái biên” của quy định quốc tế về trình độ sáng tạo lại quá rộng, dẫn đến bài thuốc cổ truyền có thể không đạt trình độ sáng tạo theo quy định của pháp luật quốc gia này, nhưng lại được cấp patent tại quốc gia khác vì pháp luật của quốc gia đó coi nó đạt trình độ sáng tạo.

Xét về khía cạnh kinh tế của quyền SHTT thì việc cấp hay không cấp patent cho bài thuốc cổ truyền, thực chất là cuộc chiến pháp lý giữa một bên là các quốc gia phát triển với xu hướng độc quyền hóa các bài thuốc cổ truyền bằng cách cấp patent cho chúng, bên còn lại là các quốc gia đang phát triển – nơi lưu giữ nhiều bài thuốc cổ truyền với việc chống lại xu hướng trên.

Đọc tiếp

XỬ LÝ NỢ XẤU BẰNG BIỆN PHÁP CHUYỂN NỢ THÀNH VỐN GÓP TẠI VIỆT NAM – HIỆN TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

Ths. NGUYỄN VĂN THỌ (Vietcombank) –Ths. NGUYỄN NGỌC LINH (Baovietbank)

Thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện nay là xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, bởi nó làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Xử lý nợ xấu là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và có ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Có nhiều biện pháp để TCTD xử lý nợ xấu, tuy nhiên, chuyển nợ thành vốn góp được coi là một trong những biện pháp nhanh chóng, hiệu quả và mang lại lợi ích cho cả người vay và người nợ.

1. Khái niệm nội dung xử lý nợ xấu bằng biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

1.1. Khái niệm chuyển nợ thành vốn góp

Chuyển nợ thành vốn góp là việc chủ nợ hoặc tổ chức thay vì thu hồi tiền nợ đã cho doanh nghiệp vay, họ sẽ lấy khoản nợ phải thu đó để “mua” chính cổ phần của doanh nghiệp hoặc một đối tác quan tâm mua lại chính khoản nợ đó từ chủ nợ với giá tương đương hoặc theo thỏa thuận. Khi đó, chủ nợ hoặc người mua nợ sẽ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, đầu tư thêm vốn để tái cơ cấu lại toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức nhân sự đến hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển…

1.2. Ưu điểm của biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

  – Đối với TCTD: Việc áp dụng biện pháp này sẽ giúp ngân hàng sớm thoát khỏi nợ xấu, “làm đẹp” bản báo cáo tài chính, đồng thời giúp ngân hàng tăng nguồn vốn do vốn vay chuyển thành khoản đầu tư tài chính của ngân hàng.

  – Đối với doanh nghiệp: Việc chuyển nợ thành vốn góp sẽ ngay lập tức giúp doanh nghiệp bỏ áp lực trả nợ cho ngân hàng, có điều kiện khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh từ nguồn cấp vốn của các TCTD hoặc các nguồn vốn đầu tư khác.

Đọc tiếp

VƯỚNG MẮC VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI VÀ QUYỀN TÀI SẢN PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG VÀ  MAI THỊ THU – Vietcombank

Quyền có nhà ở là một trong những quyền cơ bản của công dân và được quy định trong Hiến pháp nước ta. Hiện nay, dân số Việt Nam đạt khoảng 90 triệu người với phần lớn có thu nhập ở mức trung bình và thu nhập thấp (thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt khoảng 1.960 USD1). Dân số tại hai thành phố lớn nhất của nước ta là khoảng 15 triệu người, trong đó dân số tại TP. Hồ Chí Minh xấp xỉ 8 triệu người và dân số tại TP. Hà Nội hơn 7 triệu người.

Nhu cầu có nhà ở của người dân là rất lớn, chủ yếu xuất phát từ thực tế: hàng năm có hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp các trường đại học và ở lại thành phố tìm việc làm, những người đến tuổi lập gia đình và tách ra khỏi hộ gia đình để ở riêng, diện tích nhà ở chật và kinh tế gia đình ngày được cải thiện, có đủ tiềm lực tài chính để mua một ngôi nhà ở khác có diện tích lớn hơn hoặc điều kiện tốt hơn, hộ gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống trong một nhà ở… Với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 44 triệu đồng/năm nêu trên (tức là khoảng 3,6 triệu đồng/tháng), khả năng tài chính của hầu hết người dân là có hạn so với giá mua nhà ở trên thị trường, nên nhiều người dân không đủ khả năng tài chính để mua nhà ở bằng nguồn thu nhập của mình mà chỉ có thể mua nhà ở theo phương thức trả dần, trả góp hoặc bằng nguồn vốn vay ngân hàng. Khi người dân có nhu cầu vay vốn mua nhà ở, trên cơ sở quy định của pháp luật và chính sách nội bộ của từng ngân hàng, các ngân hàng thường yêu cầu người dân có tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ để hạn chế rủi ro và bảo toàn nguồn vốn vay. Từ hoàn cảnh và điều kiện thực tế của mình, nhiều người dân chỉ có thể thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai và quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà ở để đáp ứng điều kiện cho vay vốn của ngân hàng. Mặc dù ngân hàng đã chủ động và linh hoạt chấp nhận nhận thế chấp loại tài sản này để cấp vốn vay cho đối tượng khách hàng nêu trên nhưng thực tiễn triển khai nhận thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai và quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà ở tại các ngân hàng đang gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định, đặc biệt là các thủ tục pháp lý liên quan đến việc nhận thế chấp và xử lý loại tài sản nêu trên.

Đọc tiếp

TÁC PHẨM VĂN HỌC CÓ ĐƯỢC XEM LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG?

NGUYỀN THị HUYỀN – Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế

Như chúng ta đã biết thì tác giả là người sáng tạo phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (gọi chung là tác phẩm). Quyền tác giả được bảo hộ tự động (không cần phải đăng ký) theo Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định tại Công ước Bener, các văn bản pháp luật Sở hữu trí tuệ quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Tại khoản 1 Điều 738 Bộ luật dân sự quy định  “Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm”. Như vậy, trong quyền tác giả có chứa yếu tố quyền tài sản. Trong thực tế, đã xảy ra nhiều trường hợp tranh chấp về “quyền tác giả” mà có nhiều quan điểm khác nhau khi giải quyết; đặc biệt là việc tranh chấp này lại xuất hiện trong vụ án hôn nhân gia đình. Tác giả xin đưa ra tình huống cụ thể sau đây:

Chị X là người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật, thỉnh thoảng có sở thích sáng tác thơ ngẫu hứng. Trước khi chị lấy chồng chị có sáng tác được 20 bài thơ, sau này mới in thành tập thơ riêng. Chị X lập gia đình với anh Y (hôn nhân hợp pháp) và sau khi lấy chồng, chị X vẫn tiếp tục sáng tác. Trong thời kỳ hôn nhân, chị X sáng tác được 50 bài thơ và chị đã cho in thành sách phát hành. Chị X trở thành người nổi tiếng và nhận được nhiều tiền nhuận bút vì có nhiều bài thơ được phổ nhạc. Sau đó, chị X và anh Y phát sinh mâu thuẫn và thuận tình ly hôn, nhưng có tranh chấp về tài sản. Tài sản tranh chấp trong trường hợp này là các bài thơ của chị X. Anh Y cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng, vì trong thời gian hôn nhân chị X đã sáng tác những bài thơ này và thời gian chị X dành làm thơ đồng nghĩa với anh việc phải cáng đáng việc nhà và chăm sóc con cái thay chị X; cho nên phải chia đôi 50 bài thơ do chị X sáng tác trong thời kỳ hôn nhân cũng như nhuận bút và những lợi nhuận đã phát sinh từ các tác phẩm của chị X cũng phải chia đôi cho anh một nửa. Chị X không đồng ý với ý kiến của anh Y, chị cho rằng: 50 bài thơ của chị là tác phẩm văn học, là tài sản sở hữu trí tuệ của chị, gắn liền với tên tuổi, nhân thân của chị nên không thể chia được. Chị cho rằng việc sáng tác của chị không làm ảnh hưởng gì đến cuộc sống gia đình, hầu hết chị sáng tác thơ tại phòng làm việc tại cơ quan lúc rảnh rỗi hoặc ở công viên.

Vụ việc trên được Tòa án thụ lý giải quyết và có hai quan điểm khác nhau xung quanh việc giải quyết yêu cầu của anh Y; cụ thể là:

Đọc tiếp

SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH CẦM CỐ TÀI SẢN – GÓC NHÌN TỪ THỰC TIỄN

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC & NCS Đại học Paris 2 Panthéon Assas, Pháp.

Theo quy định tại điều 326, Bộ luật dân sự (BLDS), “cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Đặc trưng quan trọng nhất của việc cầm cố tài sản là bên cầm cố giao tài sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khoản vay. Quy định pháp luật hiện hành còn chưa phân biệt một cách triệt để loại tài sản nào có thể chuyển giao về mặt vật chất cho bên chủ nợ và do đó có thể trở thành đối tượng của hợp đồng cầm cố, dẫn tới việc quy định về cầm cố một số loại tài sản còn chưa thực sự phù hợp. Thêm vào đó, việc đăng ký cầm cố và xử lý cầm cố trong trường hợp bên cầm cố lâm vào tình trạng phá sản vẫn là các mảng tối của chế định này. Bài viết sẽ tập trung phân tích các khía cạnh khác nhau của giao dịch bảo đảm này, đồng thời sẽ gợi mở một số hướng hoàn thiện quy định hiện hành, đặc biệt để khắc phục các hạn chế trên.

1. Quy định chung về cầm cố tài sản

a. Xác lập cầm cố

Quyền sở hữu tài sản cầm cố – Từ định nghĩa cầm cố nêu ở trên, có thể thấy tài sản cầm cố phải thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố bởi vì xét cho cùng nếu việc xử lý tài sản cầm cố diễn ra thì sẽ dẫn tới việc quyền sở hữu tài sản này sẽ được chuyển giao cho bên khác, cho nên bên cầm cố phải có quyền định đoạt tài sản này để việc chuyển giao đó có hiệu lực. Do đó, việc cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác là không có giá trị pháp lý. Hơn nữa, tài sản cầm cố phải là tài sản được phép giao dịch (điều 320 và các điều tiếp theo của BLDS). Thêm vào đó, bên cầm cố không nhất thiết phải là bên có nghĩa vụ được bảo đảm (khoản 2, điều 57, Nghị định số163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm 2006 về Giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi năm 2012 (Nghị định 163)).

Điều kiện hiệu lực – Điều 327, BLDS đặt ra quy định “việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”. Đây là một trong số các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cầm cố. Hợp đồng cầm cố có thể là hợp đồng được công chứng hoặc không có công chứng.

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO CỘNG ĐỒNG

LS. NGUYỄN HỮU DANH – ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM

Thời gian qua, vấn đề bồi thường thiệt hại cho hàng trăm, thậm chí hàng ngàn dân, trong các vụ ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, đã xảy ra tại nhiều địa phương như: Vụ công ty VEDAN xả chất thải gây ô nhiễm sông Thị Vải, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng ngàn nhân dân; … Trong vụ này, hơn 1000 dân ở 3 tỉnh, thành phố (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh) uỷ quyền cho 1 số luật sư để nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, những nông dân chưa nộp đơn khởi kiện thì Công ty VEDAN đã chủ động bồi thường thiệt hại theo sự kê khai của các hộ dân và thẩm định thiệt hại của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Vấn đề đòi bồi thường thiệt hại của hàng ngàn dân nói trên mang tính cộng đồng, được giải quyết theo Bộ luật dân sự như thế nào? Nói cách khác, Cộng đồng là chủ thể trong quan hệ dân sự không?

I. Về cộng đồng

Tự điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ năm 2000, nêu khái niệm cộng đồng: “Toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội; như: Cộng đồng làng xã, Cộng đồng ngôn ngữ, Cộng đồng người Việt ở nước ngoài

Cộng đồng là chủ thể nêu trong Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng, được ban hành kèm Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/04/2005 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt Quy chế giám sát).

Điều 1 của Quy chế nêu: “Giám sát đầu tư của cộng đồng là hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống trên địa bàn xã, phường hoặc thị trấn (sau đây gọi chung là xã) theo quy định của Quy chế này và các quy định pháp luật khác có liên quan, nhằm theo dõi, đánh gía việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, của chủ đầu tư, ban quản lý dự án các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư; phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các việc làm vi phạm các quy định về quản lý đầu tư đề kịp thời ngăn chặn và xử lý các việc làm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 669 other followers

%d bloggers like this: