SỬA QUY ĐỊNH VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: BƯỚC TIẾN HAY LÙI?

TS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC (Tác giả xin cảm ơn TS., LS. Franck Julien, Ngân hàng CREDIT AGRICOLE CORPORATE & INVESTMENT BANK (Paris) về các nhận xét và gợi ý liên quan đến bài viết).

Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi (Dự thảo) do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo dường như chỉ cố gắng đưa ra các khái niệm hay cơ chế mang tính học thuật và có phần đã lạc hậu so với sự phát triển chung của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Bài viết sẽ tập trung phân tích một số hạn chế của Dự thảo đồng thời nêu một số giải pháp hoàn thiện Dự thảo.

Một số ít ỏi điểm mới đáng ghi nhận

Dự thảo đã chính thức công nhận giá trị pháp lý của việc một bên cầm cố hay thế chấp tài sản của mình để đảm bảo nghĩa vụ cho một bên khác (điều 283 và điều 293). Chẳng hạn giám đốc một doanh nghiệp có thể thế chấp ô tô mà anh ta sở hữu để bảo đảm khoản vay cho doanh nghiệp này. Nói cách khác cầm cố hay thế chấp tài sản của người thứ ba được coi là giao dịch bảo đảm độc lập với việc cầm cố hay thế chấp tài sản để bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh.

Quy định này sẽ giúp khắc phục được khó khăn đang đặt ra trong thực tế hiện nay khi mà trước việc quy định của pháp luật chưa rõ ràng, một số tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp hay cầm cố tài sản của bên thứ ba ngoài quan hệ bảo lãnh.

Hơn nữa, Dự thảo cho phép bên nhận cầm cố được quyền cầm cố lại, nếu được bên cầm cố đồng ý (khoản 2, điều 291), qua đó tăng cường quyền của bên cầm cố.

Phân loại các biện pháp bảo đảm

Khái niệm “biện pháp bảo đảm” và “giao dịch bảo đảm” vốn khá dễ hiểu đã được Dự thảo thay thế bằng khái niệm “vật quyền bảo đảm”. Dự thảo đã đặt quy định về vật quyền bảo đảm (gồm quyền cầm cố, quyền thế chấp, quyền cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu) và quy định về các biện pháp bảo đảm khác (đặt cọc, ký cược, ký quỹ và bảo lãnh) trong hai phần quy định khác nhau.

Có thể hiểu vật quyền bảo đảm trước hết là quyền nên người viết Dự thảo cố gắng biến giao dịch cầm cố và thế chấp thành các quyền để tương thích với cách phân loại này. Tuy vậy, cách đặt tên “quyền cầm cố”, “quyền thế chấp” dễ gây nhầm lẫn và có xu hướng nôm na hóa khái niệm pháp lý.

Hơn nữa cách phân chia biện pháp bảo đảm vừa nêu của Dự thảo khá gượng ép bởi (i) đây đều là các biện pháp bảo đảm chỉ có điều bảo lãnh dựa trên cam kết cá nhân thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm trong khi các biện pháp bảo đảm còn lại là các biện pháp bảo đảm bằng tài sản;

Đọc tiếp

NHẬN TÀI SẢN BẢO ĐẢM LÀ PHẦN VỐN GÓP : TỪ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐẾN THỰC TIỄN

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC & NCS khoa Luật, Đại học Paris 2 Panthéon Assas, Pháp.

Tóm tắt : Dù quy định pháp luật còn chưa thực sự rõ ràng, biện pháp bảo đảm phù hợp nhất đối với phần vốn góp là thế chấp. Có hai phương thức xử lý tài sản bảo đảm là phần vốn góp theo thỏa thuận mà chủ nợ có bảo đảm có thể sử dụng là bán phần vốn góp cho bên thứ ba và nhận phần vốn góp để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm. Nếu bên mua phần vốn góp hay bên nhận thế chấp nhận chính phần góp để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm là một doanh nghiệp nước ngoài thì bên này phải tuân thủ một số thủ tục theo quy định của pháp luật để đảm bảo giá trị pháp lý cho việc chuyển nhượng.

******

Bài viết tập trung phân tích loại hình giao dịch bảo đảm mà chủ nợ có thể nhận đối với tài sản bảo đảm là phần vốn góp và cách thức xử lý loại tài sản bảo đảm đặc biệt này. Đây là một vấn đề pháp lý khá phức tạp và bài viết này chỉ nhằm mục đích phác họa các nét lớn về chủ đề này. Cần lưu ý là chứng khoán như cổ phiếu của công ty đại chúng có thể được cầm cố theo quy định của pháp luật chuyên ngành (đặc biệt là điều 31 của Quy chế đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 87/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 22 tháng 10 năm 2007 được bổ sung, sửa đổi năm 2010, các điều từ 31 đến 34 của Quy chế hoạt động lưu ký chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 38/QĐ-VSD của Tổng Giám đốc Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam ngày 25 tháng 4 năm 2012 và điều 19.3, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm 2006 về Giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2012 (Nghị định 163)). Việc xác lập và xử lý cầm cố chứng khoán khá khác biệt so với quy định liên quan đến phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần và do đó không thuộc phạm vi nghiên cứu của bài viết này[1].

1. Xác lập và công bố giao dịch bảo đảm

Giao dịch bảo đảm nào phù hợp đối với phần vốn góp?

Bộ luật dân sự đặt ra một nguyên tắc chung theo đó quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp có thể dùng làm tài sản bảo đảm (khoản 1, điều 322). Cho dù rất khó xác định chính xác ý nghĩa của thuật ngữ quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp[2], có thể hiểu rằng Bộ luật dân sự thừa nhận giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp.

Đọc tiếp

LUẬN GIẢI VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

HUỲNH THẾ DU – giảng viên tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright và hiện đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard

Bài này được viết khi tác giả đang nghiên cứu sau tiến sỹ về chính sách công và phát triển đô thị tại Đại học Harvard. Tuy nhiên, bài viết không thuộc bất kỳ dự án hay được tài trợ bởi tổ chức hay cá nhân nào (kể cả Đại học Harvard và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nơi tác giả vẫn đang trong biên chế). Ý tưởng viết bài này được hình thành một cách tình cờ sau khi tác giả trao đổi với GS. Nguyễn Quang Thái về một số vấn đề liên quan. Bài viết hoàn toàn thể hiện quan điểm riêng của tác giả với mục tiêu duy nhất là đóng góp vào những thảo luận đến đường hướng phát triển cho Việt Nam hiện nay.

Để có thể hoàn thành bài viết, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người. Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn GS. Nguyễn Quang Thái với những trao đổi để tôi có thể hình thành bài viết cũng như việc cung cấp một số tài liệu và đọc các bản thảo với những nhận xét và góp ý vừa bao quát, vừa rất cụ thể. Tôi xin chân thành cảm ơn GS. Trần Hữu Dũng với những góp ý và bình luận hết sức thẳng thắn và xác đáng cho những nội dung cốt lõi của bài viết qua những bản thảo khác nhau. Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Trần Ngọc Anh, TS. Vũ Thành Tự Anh, bà Phạm Chi Lan, PGS. Phạm Duy Nghĩa, ông Trần Đức Nguyên, ông Nguyễn Vạn Phú, ông Nguyễn Xuân Thành, GS. Trần Văn Thọ và một số người khác đã đọc và có những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức quý báu cho bài viết. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bà Phạm Chi Lan đã chuyển bản thảo đến một số người đọc và góp ý giúp tôi. Tôi xin cảm ơn ông Phạm Vũ Lửa Hạ đã giúp tôi tìm hiểu một số thuật ngữ liên quan.

Tất cả những người đã đọc các bản thảo và góp ý cho tôi đều là những chuyên gia hàng đầu trong những lĩnh vực liên quan đến các nội dung chính của bài viết. Do vậy, tôi đã có được những nhận xét, bình luận và góp ý hết sức sâu sắc từ bao quát đến cụ thể. Có những góp ý đơn giản chỉ là điều chỉnh hay thay đổi một vài câu chữ, nhưng đã làm cho các nội dung cốt lõi của bài viết nổi lên rõ ràng hơn rất nhiều. Điều này chỉ có thể đến từ những người thực sự am hiểu vấn đề. So với bản thảo đầu tiên, phiên bản này đã được bổ sung và phát triển thêm rất nhiều. Tuy nhiên, đây là một vấn lớn và liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng các nguồn lực  và khả năng của tác giả có hạn nên bài viết không thể phân tích hay lý giải tất cả các vấn đề được nêu ra một cách thấu đáo. Thêm vào đó, những điểm yếu, những sai sót là không thể tránh khỏi và lỗi này hoàn toàn thuộc về tác giả. Cuối cùng, bài viết chỉ là một phân tích, một tiếp cận của tác giả về một số khía cạnh trong chủ đề quan trọng này. Tác giả sẽ tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu thêm về những vấn đề liên quan trong khả năng và nguồn lực của mình. Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để cùng tất cả mọi người chung tay làm rõ con đường phát triển của Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, tác giả rất mong nhận được những góp ý, bình luận và trao đổi của những người quan tâm đến vấn đề này nói riêng, vì sự phát triển và thịnh vượng của Việt Nam nói chung.

Cambridge Tháng 11, 2013

Đọc tiếp

TÍNH MỚI TRONG VIỆC BẢO HỘ SÁNG CHẾ ĐỐI VỚI CÁC BÀI THUỐC CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Chính sách phát triển y học cổ truyền được Nhà nước ta quan tâm, gần đây nhất Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2166 QĐ/TTg ngày 30.11.2010 Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược học cổ truyền Việt Nam đến năm 2020.

Xét về giá trị kinh tế do y học cổ truyền mang lại, tại Việt Nam, trong năm 2003 đã tập hợp được 39.381 bài thuốc cổ truyền, sản lượng xuất khẩu bài thuốc cổ truyền đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 10-20 triệu USD.[1]

Trong một nghiên cứu của Correa Carlos M. vào năm 2002 cho thấy, trên thế giới tổng giá trị mà thị trường thuốc cổ truyền mang lại vào khoảng 60 tỷ USD/năm với mức tăng trưởng hàng năm đạt từ 5% đến 15%.[2] Nghiên cứu của Xuezhong ZHU cho biết, chỉ trong năm 2007 Trung Quốc đã thu 15 tỷ USD do xuất khẩu dược liệu cổ truyền.[3]

Trên thế giới, cuộc chiến pháp lý để xác định chủ sở hữu đối với các bài thuốc cổ truyền đang diễn ra gay gắt giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển, ước tính rằng mỗi năm có khoảng 2.000 patent liên quan đến bài thuốc cổ truyền của Ấn Độ đã được cấp do sai lầm của các cơ quan sáng chế trên toàn thế giới, trong đó chỉ tính riêng tại Brussels đã cấp 285 patent liên quan đến bài thuốc cổ truyền của Ấn Độ.[4]

Tại Việt Nam, theo thống kê từ 1998 đến cuối 2012, Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) mới chỉ nhận 69 đơn đăng ký sáng chế đối với bài thuốc cổ truyền, bao gồm cả đơn của cá nhân/tổ chức từ Việt Nam và từ nước ngoài, trong đó số đơn bị từ chối chiếm tỷ lệ không nhỏ.

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, bài viết này đặt mục tiêu nghiên cứu đề xuất các giải pháp để bảo hộ hữu hiệu các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam.

Giới hạn nghiên cứu thuộc lĩnh vực y học cổ truyền trong bài viết này bao gồm các bài thuốc cổ truyền có nguồn gốc thảo dược (gọi tắt là bài thuốc cổ truyền).

Đồng thời để cho gọn, chúng tôi sử dụng thuật ngữ patent với hàm nghĩa là bằng độc quyền sáng chế (mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ này).[5]

Đọc tiếp

BÀN VỀ TRÌNH ĐỘ SÁNG TẠO TRONG VIỆC BẢO HỘ SÁNG CHẾ ĐỐI VỚI CÁC BÀI THUỐC CỔ TRUYỀN CỦA VIỆT NAM

PGS.TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dẫn nhập

Trong một nghiên cứu đăng trên Chuyên san Luật học của Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội[1] tác giả đã bàn về tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với các bài thuốc cổ truyền của Việt Nam, trong bài viết này tác giả xin bàn đến trình độ sáng tạo – một trong 3 điều kiện để bài thuốc cổ truyền được cấp bằng độc quyền sáng chế.

Trước hết, để cho gọn tác giả xin quy ước về các thuật ngữ được sử dụng trong bài viết này, bao gồm:

- Y học cổ truyền (Traditional Medicine): theo cách phân loại của Tổ chức Sở hữu trí tuệ (SHTT) Thế giới – WIPO thì y học cổ truyền là một bộ phận của tri thức truyền thống (Traditional Knowledge)[2].

- Bài thuốc cổ truyền: trong bài viết của Jerry I. và H. Hsiao thuộc Viện Nghiên cứu SHTT Queen Mary thuộc Đại học London (Queen Mary Intellectual Property Research Institute, University of London) đã phân loại các bài thuốc thảo dược (Herbal Medicine) là một trong những bộ phận thuộc y học cổ truyền[3]. Do đó, giới hạn nghiên cứu thuộc lĩnh vực y học cổ truyền trong bài viết này bao gồm các sang chế lien quan đến bài thuốc cổ truyền (gọi tắt là bài thuốc cổ truyền).

- Patent chỉ dùng với hàm nghĩa duy nhất là bằng độc quyền sáng chế bài thuốc cổ truyền có nguồn gốc thảo dược.

Như đã biết, theo quy định của pháp luật, bài thuốc cổ truyền không thể được cấp patent nếu nó bị coi là không đạt trình độ sáng tạo, tuy nhiên thuật ngữ “trình độ sáng tạo” lại được pháp luật mỗi quốc gia quy định theo cách riêng của mình, miễn là quy định này không mâu thuẫn với quy định quốc tế. Nhưng “cái biên” của quy định quốc tế về trình độ sáng tạo lại quá rộng, dẫn đến bài thuốc cổ truyền có thể không đạt trình độ sáng tạo theo quy định của pháp luật quốc gia này, nhưng lại được cấp patent tại quốc gia khác vì pháp luật của quốc gia đó coi nó đạt trình độ sáng tạo.

Xét về khía cạnh kinh tế của quyền SHTT thì việc cấp hay không cấp patent cho bài thuốc cổ truyền, thực chất là cuộc chiến pháp lý giữa một bên là các quốc gia phát triển với xu hướng độc quyền hóa các bài thuốc cổ truyền bằng cách cấp patent cho chúng, bên còn lại là các quốc gia đang phát triển – nơi lưu giữ nhiều bài thuốc cổ truyền với việc chống lại xu hướng trên.

Đọc tiếp

XỬ LÝ NỢ XẤU BẰNG BIỆN PHÁP CHUYỂN NỢ THÀNH VỐN GÓP TẠI VIỆT NAM – HIỆN TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

Ths. NGUYỄN VĂN THỌ (Vietcombank) –Ths. NGUYỄN NGỌC LINH (Baovietbank)

Thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện nay là xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, bởi nó làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Xử lý nợ xấu là bước đi quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và có ảnh hưởng không nhỏ đến điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Có nhiều biện pháp để TCTD xử lý nợ xấu, tuy nhiên, chuyển nợ thành vốn góp được coi là một trong những biện pháp nhanh chóng, hiệu quả và mang lại lợi ích cho cả người vay và người nợ.

1. Khái niệm nội dung xử lý nợ xấu bằng biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

1.1. Khái niệm chuyển nợ thành vốn góp

Chuyển nợ thành vốn góp là việc chủ nợ hoặc tổ chức thay vì thu hồi tiền nợ đã cho doanh nghiệp vay, họ sẽ lấy khoản nợ phải thu đó để “mua” chính cổ phần của doanh nghiệp hoặc một đối tác quan tâm mua lại chính khoản nợ đó từ chủ nợ với giá tương đương hoặc theo thỏa thuận. Khi đó, chủ nợ hoặc người mua nợ sẽ trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp, đầu tư thêm vốn để tái cơ cấu lại toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp từ tổ chức nhân sự đến hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển…

1.2. Ưu điểm của biện pháp chuyển nợ thành vốn góp

  – Đối với TCTD: Việc áp dụng biện pháp này sẽ giúp ngân hàng sớm thoát khỏi nợ xấu, “làm đẹp” bản báo cáo tài chính, đồng thời giúp ngân hàng tăng nguồn vốn do vốn vay chuyển thành khoản đầu tư tài chính của ngân hàng.

  – Đối với doanh nghiệp: Việc chuyển nợ thành vốn góp sẽ ngay lập tức giúp doanh nghiệp bỏ áp lực trả nợ cho ngân hàng, có điều kiện khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh từ nguồn cấp vốn của các TCTD hoặc các nguồn vốn đầu tư khác.

Đọc tiếp

VƯỚNG MẮC VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI VÀ QUYỀN TÀI SẢN PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG VÀ  MAI THỊ THU – Vietcombank

Quyền có nhà ở là một trong những quyền cơ bản của công dân và được quy định trong Hiến pháp nước ta. Hiện nay, dân số Việt Nam đạt khoảng 90 triệu người với phần lớn có thu nhập ở mức trung bình và thu nhập thấp (thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt khoảng 1.960 USD1). Dân số tại hai thành phố lớn nhất của nước ta là khoảng 15 triệu người, trong đó dân số tại TP. Hồ Chí Minh xấp xỉ 8 triệu người và dân số tại TP. Hà Nội hơn 7 triệu người.

Nhu cầu có nhà ở của người dân là rất lớn, chủ yếu xuất phát từ thực tế: hàng năm có hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp các trường đại học và ở lại thành phố tìm việc làm, những người đến tuổi lập gia đình và tách ra khỏi hộ gia đình để ở riêng, diện tích nhà ở chật và kinh tế gia đình ngày được cải thiện, có đủ tiềm lực tài chính để mua một ngôi nhà ở khác có diện tích lớn hơn hoặc điều kiện tốt hơn, hộ gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống trong một nhà ở… Với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 44 triệu đồng/năm nêu trên (tức là khoảng 3,6 triệu đồng/tháng), khả năng tài chính của hầu hết người dân là có hạn so với giá mua nhà ở trên thị trường, nên nhiều người dân không đủ khả năng tài chính để mua nhà ở bằng nguồn thu nhập của mình mà chỉ có thể mua nhà ở theo phương thức trả dần, trả góp hoặc bằng nguồn vốn vay ngân hàng. Khi người dân có nhu cầu vay vốn mua nhà ở, trên cơ sở quy định của pháp luật và chính sách nội bộ của từng ngân hàng, các ngân hàng thường yêu cầu người dân có tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ để hạn chế rủi ro và bảo toàn nguồn vốn vay. Từ hoàn cảnh và điều kiện thực tế của mình, nhiều người dân chỉ có thể thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai và quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà ở để đáp ứng điều kiện cho vay vốn của ngân hàng. Mặc dù ngân hàng đã chủ động và linh hoạt chấp nhận nhận thế chấp loại tài sản này để cấp vốn vay cho đối tượng khách hàng nêu trên nhưng thực tiễn triển khai nhận thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai và quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua nhà ở tại các ngân hàng đang gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định, đặc biệt là các thủ tục pháp lý liên quan đến việc nhận thế chấp và xử lý loại tài sản nêu trên.

Đọc tiếp

TÁC PHẨM VĂN HỌC CÓ ĐƯỢC XEM LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG?

NGUYỀN THị HUYỀN – Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế

Như chúng ta đã biết thì tác giả là người sáng tạo phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (gọi chung là tác phẩm). Quyền tác giả được bảo hộ tự động (không cần phải đăng ký) theo Luật Sở hữu trí tuệ và các quy định tại Công ước Bener, các văn bản pháp luật Sở hữu trí tuệ quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Tại khoản 1 Điều 738 Bộ luật dân sự quy định  “Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm”. Như vậy, trong quyền tác giả có chứa yếu tố quyền tài sản. Trong thực tế, đã xảy ra nhiều trường hợp tranh chấp về “quyền tác giả” mà có nhiều quan điểm khác nhau khi giải quyết; đặc biệt là việc tranh chấp này lại xuất hiện trong vụ án hôn nhân gia đình. Tác giả xin đưa ra tình huống cụ thể sau đây:

Chị X là người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật, thỉnh thoảng có sở thích sáng tác thơ ngẫu hứng. Trước khi chị lấy chồng chị có sáng tác được 20 bài thơ, sau này mới in thành tập thơ riêng. Chị X lập gia đình với anh Y (hôn nhân hợp pháp) và sau khi lấy chồng, chị X vẫn tiếp tục sáng tác. Trong thời kỳ hôn nhân, chị X sáng tác được 50 bài thơ và chị đã cho in thành sách phát hành. Chị X trở thành người nổi tiếng và nhận được nhiều tiền nhuận bút vì có nhiều bài thơ được phổ nhạc. Sau đó, chị X và anh Y phát sinh mâu thuẫn và thuận tình ly hôn, nhưng có tranh chấp về tài sản. Tài sản tranh chấp trong trường hợp này là các bài thơ của chị X. Anh Y cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng, vì trong thời gian hôn nhân chị X đã sáng tác những bài thơ này và thời gian chị X dành làm thơ đồng nghĩa với anh việc phải cáng đáng việc nhà và chăm sóc con cái thay chị X; cho nên phải chia đôi 50 bài thơ do chị X sáng tác trong thời kỳ hôn nhân cũng như nhuận bút và những lợi nhuận đã phát sinh từ các tác phẩm của chị X cũng phải chia đôi cho anh một nửa. Chị X không đồng ý với ý kiến của anh Y, chị cho rằng: 50 bài thơ của chị là tác phẩm văn học, là tài sản sở hữu trí tuệ của chị, gắn liền với tên tuổi, nhân thân của chị nên không thể chia được. Chị cho rằng việc sáng tác của chị không làm ảnh hưởng gì đến cuộc sống gia đình, hầu hết chị sáng tác thơ tại phòng làm việc tại cơ quan lúc rảnh rỗi hoặc ở công viên.

Vụ việc trên được Tòa án thụ lý giải quyết và có hai quan điểm khác nhau xung quanh việc giải quyết yêu cầu của anh Y; cụ thể là:

Đọc tiếp

SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH CẦM CỐ TÀI SẢN – GÓC NHÌN TỪ THỰC TIỄN

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC & NCS Đại học Paris 2 Panthéon Assas, Pháp.

Theo quy định tại điều 326, Bộ luật dân sự (BLDS), “cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Đặc trưng quan trọng nhất của việc cầm cố tài sản là bên cầm cố giao tài sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khoản vay. Quy định pháp luật hiện hành còn chưa phân biệt một cách triệt để loại tài sản nào có thể chuyển giao về mặt vật chất cho bên chủ nợ và do đó có thể trở thành đối tượng của hợp đồng cầm cố, dẫn tới việc quy định về cầm cố một số loại tài sản còn chưa thực sự phù hợp. Thêm vào đó, việc đăng ký cầm cố và xử lý cầm cố trong trường hợp bên cầm cố lâm vào tình trạng phá sản vẫn là các mảng tối của chế định này. Bài viết sẽ tập trung phân tích các khía cạnh khác nhau của giao dịch bảo đảm này, đồng thời sẽ gợi mở một số hướng hoàn thiện quy định hiện hành, đặc biệt để khắc phục các hạn chế trên.

1. Quy định chung về cầm cố tài sản

a. Xác lập cầm cố

Quyền sở hữu tài sản cầm cố – Từ định nghĩa cầm cố nêu ở trên, có thể thấy tài sản cầm cố phải thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố bởi vì xét cho cùng nếu việc xử lý tài sản cầm cố diễn ra thì sẽ dẫn tới việc quyền sở hữu tài sản này sẽ được chuyển giao cho bên khác, cho nên bên cầm cố phải có quyền định đoạt tài sản này để việc chuyển giao đó có hiệu lực. Do đó, việc cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác là không có giá trị pháp lý. Hơn nữa, tài sản cầm cố phải là tài sản được phép giao dịch (điều 320 và các điều tiếp theo của BLDS). Thêm vào đó, bên cầm cố không nhất thiết phải là bên có nghĩa vụ được bảo đảm (khoản 2, điều 57, Nghị định số163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm 2006 về Giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi năm 2012 (Nghị định 163)).

Điều kiện hiệu lực – Điều 327, BLDS đặt ra quy định “việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”. Đây là một trong số các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cầm cố. Hợp đồng cầm cố có thể là hợp đồng được công chứng hoặc không có công chứng.

Đọc tiếp

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO CỘNG ĐỒNG

LS. NGUYỄN HỮU DANH – ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM

Thời gian qua, vấn đề bồi thường thiệt hại cho hàng trăm, thậm chí hàng ngàn dân, trong các vụ ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, đã xảy ra tại nhiều địa phương như: Vụ công ty VEDAN xả chất thải gây ô nhiễm sông Thị Vải, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng ngàn nhân dân; … Trong vụ này, hơn 1000 dân ở 3 tỉnh, thành phố (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh) uỷ quyền cho 1 số luật sư để nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, những nông dân chưa nộp đơn khởi kiện thì Công ty VEDAN đã chủ động bồi thường thiệt hại theo sự kê khai của các hộ dân và thẩm định thiệt hại của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Vấn đề đòi bồi thường thiệt hại của hàng ngàn dân nói trên mang tính cộng đồng, được giải quyết theo Bộ luật dân sự như thế nào? Nói cách khác, Cộng đồng là chủ thể trong quan hệ dân sự không?

I. Về cộng đồng

Tự điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ năm 2000, nêu khái niệm cộng đồng: “Toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội; như: Cộng đồng làng xã, Cộng đồng ngôn ngữ, Cộng đồng người Việt ở nước ngoài

Cộng đồng là chủ thể nêu trong Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng, được ban hành kèm Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ngày 18/04/2005 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt Quy chế giám sát).

Điều 1 của Quy chế nêu: “Giám sát đầu tư của cộng đồng là hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống trên địa bàn xã, phường hoặc thị trấn (sau đây gọi chung là xã) theo quy định của Quy chế này và các quy định pháp luật khác có liên quan, nhằm theo dõi, đánh gía việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, của chủ đầu tư, ban quản lý dự án các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư; phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các việc làm vi phạm các quy định về quản lý đầu tư đề kịp thời ngăn chặn và xử lý các việc làm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng.

Đọc tiếp

PHÁP LUẬT TƯƠNG TỰ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ

LS. TRẦN CÔNG LY TAO – Phó Chủ nhiệm ĐLS.Tp.HCM

Cho tới nay, pháp luật thực định về dân sự của Nhà nước ta chưa có quy định vận hành pháp luật tương tự. Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp dân sự gặp không ít khó khăn do khiếm khuyết quy định về áp dụng pháp luật tương tự. Trước thực trạng vừa nêu, gần đây, nhiều chuyên gia pháp luật bày tỏ quan điểm: cần quy định pháp luật tương tự như là nguồn pháp luật bổ sung để giải quyết các tranh chấp về dân sự. Nói khác, phải hình thành định chế án lệ (các bản án, quyết định hình thành từ các thẩm phán thâm niên trong nghề giàu kinh nghiệm trong việc xử lý các vụ án khó của tòa cấp trên như tòa phúc thẩm thuộc tỉnh, tòa phúc thẩm TANDTC, ủy ban thẩm phán TANDTC, Hội đồng thẩm phán TANDTC…) để các tòa án ở cấp sơ thẩm dùng làm căn cứ để giải quyết tranh chấp dân sự. Được biết, nền tư pháp các nước phát triển, đều ghi nhận nguyên tắc “bất khẳng thụ lý” tức là, Tòa án không được từ chối thụ lý giải quyết tranh chấp của các đương sự.

Án lệ được xem là nguồn pháp luật bổ sung góp phần giải quyết án bị tồn đọng do chưa có điều khoản luật tương ứng trong Bộ luật Dân sự (BLDS).

BLDS hiện hành của chúng ta, võn vẹn chỉ có một điều đề cập tới pháp luật tương tự, đó là Điều 3: Áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật, theo đó, trong trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán, nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này.

Do chưa được nhìn nhận pháp luật tương tự nên khi xảy ra các tranh chấp về dân sự ở vùng sâu, vùng xa, nơi có những tộc người thiểu số sinh sống, Tòa án gặp khó khăn, thậm chí bị bế tắc vì chưa có “mô hình” pháp luật tương tự để vận dụng giải quyết. Trong khi đó, thời phong kiến đã được phép vận dụng nguyên tắc giải quyết tranh chấp dân sự trong cộng động làng xã theo chế định “phép vua thua lệ làng”.

Việc giải quyết các xung đột quyền lợi xảy ra được căn cứ vào các quy định, các điều khoản của BLDS là chủ yếu, nhưng không thể không căn cứ vào luật tương tự, luật tập quán.

Đọc tiếp

VỀ MỐI QUAN HỆ SỐNG CHUNG CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH TRONG DỰ THẢO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (SỬA ĐỔI)

TRƯƠNG HỒNG QUANG – Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

1. Một số vấn đề chung về đồng tính và người đồng tính

Từ trước đến nay có quan niệm cho rằng đồng tính là giới tính thứ ba bên cạnh hai giới tính nam và nữ. Tuy nhiên, quan niệm này là hoàn toàn sai lầm. Thực chất trong xã hội chỉ có hai giới tính nam và nữ. Vấn đề đồng tính lại liên quan đến một khái niệm gọi là xu hướng tính dục.

Xu hướng tính dục[1] là khái niệm dùng để chỉ việc chịu sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới tính, khác giới tính hay đối với cả hai giới tính…[2]. Thực tế hiện nay có bốn xu hướng tính dục chính, đó là[3]:

(1) Dễ nhận thấy nhất, đông đảo nhất trong xã hội là xu hướng tính dục khác giới (bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với người khác giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra) và thường được gọi là người dị tính. Chính vì đây là xu hướng tính dục phổ biến nhất của loài người nên mô hình gia đình với sự kết hợp giữa một nam và một nữ là xu hướng đông đảo nhất trong xã hội, trở thành quan niệm truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới.

(2) Cùng giới (bị hấp dẫn với người cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra), không chỉ có ở nam giới (tiếng Anh gọi là gay) mà ở cả nữ giới (tiếng Anh gọi là lesbian), được gọi chung là người đồng tính.

(3) Xu hướng song tính (một người không cho rằng mình mang giới tính khác với giới tính sinh học của bản thân và bị hấp dẫn với cả hai giới tính nam và nữ). Trước đây, xu hướng này được sử dụng với thuật ngữ là lưỡng giới. Tuy nhiên, nếu sử dụng thuật ngữ này sẽ dễ dẫn đến cách hiểu là người đó mang trong mình cả hai giới tính nam và nữ. Thực chất, họ có cả hai xu hướng tính dục dị tính và đồng tính, không phải mang hai giới tính. Từ đó, thuật ngữ song tính được sử dụng để thay thế thuật ngữ lưỡng giới.

Đọc tiếp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÁT CẬP TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

HỒNG ANH

Hợp đồng bảo hiểm là một trong những chế định và nội dung quan trọng của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Các quy định liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm được quy định trong Bộ Luật dân sự 33/2005/QH11 năm 2005 (BLDS) và Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi số 61/2010/QH12 năm 2010 (Luật KDBH) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trên thực tế, trong thời gian vừa qua các quy định liên quan đến thực hiện hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) trong các quy định của pháp luật đã bộc lộ khá nhiều bất cập, vướng mắc gây khó khăn cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật.

1. Quy định về xử lý hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp có gian dối

Các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 đã có sự mâu thuẫn trong cách xử lý đối với trường hợp cung cấp thông tin sai sự thật, tuy nhiên nội dung này vẫn chưa được sửa đổi trong Luật sửa đổi Luật KDBH năm 2010.

Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 19 Luật KDBH về trách nhiệm cung cấp thông tin quy định: "Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây: a) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường…". Tại khoản 3 Điều 19 cũng quy định: "Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật".

Việc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm về bản chất là hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng. Như vậy, tại Điều 19 này có thể nhận thấy việc “cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết Hợp đồng” chỉ dẫn đến hậu quả pháp lý là bên kia có thể đơn phương đình chỉ hợp đồng là chưa phù hợp với các quy định của BLDS cũng như các nguyên tắc trong giao kết Hợp đồng, ngoài ra chưa phù hợp với các quy định khác trong chính Luật KDBH. Cụ thể, tại Điều 22 của Luật KDBH lại quy định về các trường hợp HĐBH vô hiệu, trong đó có trường hợp: “Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệm bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết Hợp đồng bảo hiểm”, và “Việc xử lý hợp đồng bảo hiểm được thực hiện theo quy định của Bộ Luật Dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan”. Theo quy định của BLDS, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận… và bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Như vậy, cùng một vấn đề đã có hai cách xử lý khác nhau cùng được quy định trong Luật KDBH.

Đọc tiếp

MẤY Ý KIẾN VỀ PHẦN QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

PGS,TS. NGUYỄN TRUNG TÍN

Hiện nay, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đang được xem xét để đưa ra Quốc hội sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề quan trọng nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Chúng tôi nêu một số ý kiến nhằm góp phần sửa đổi, bổ sung phần “Quan hệ dân sự (QHDS) có yếu tố nước ngoài (YTNN)”.

Trước hết về Điều 758 “QHDS có YTNN”, theo chúng tôi, cách xác định “QHDS có YTNN” trong BLDS hiện hành là vừa dài dòng và vừa không chuẩn xác.

Theo Điều 758, QHDS có YTNN là QHDS có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các QHDS giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài (PLNN). Trong khi đó, chủ thể của tư pháp quốc tế (TPQT) nói chung và bộ phận pháp luật điều chỉnh phần “QHDS có YTNN” (bộ phận của TPQT Việt Nam được ghi nhận trong BLDS 2005) nói riêng, là các cá nhân và pháp nhân. Do vậy, việc dùng cụm từ “QHDS có YTNN là QHDS có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài” để xác định QHDS có YTNN về mặt chủ thể là không chuẩn xác.

Ngoài ra cụm từ “các QHDS giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo PLNN, phát sinh tại nước ngoài” cũng không chuẩn xác và khó xác định. Bởi vấn đề là làm sao để chúng ta biết được rằng căn cứ xác lập, thay đổi và chấm dứt quan hệ đó được xác định theo PLNN. Những người am hiểu về TPQT đều hiểu rằng, để giải quyết vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có YTNN, một tòa án bất kỳ của Việt Nam cần xác định xem mình có thẩm quyền xét xử hay không, cần phải xác định vấn đề đầu tiên là vụ việc này có phải vụ việc QHDS theo nghĩa rộng có YTNN hay không (?). Xác định xong vấn đề này rồi thì tòa án có thẩm quyền mới xem các dấu hiệu khác để xem mình có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó hay không[1]. Đến khi giải quyết, tòa án mới xem xét vấn đề pháp luật Việt Nam hay pháp luật một nước ngoài nào đó được áp dụng để xác định các vấn đề liên quan đến vụ việc (trong đó có các vấn đề như căn cứ xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ). Vậy khi chưa giải quyết thì làm sao mà biết được căn cứ xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ theo pháp luật của ai?

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 646 other followers

%d bloggers like this: