ỦY QUYỀN KÝ, GIAO DỊCH LIÊN QUAN QUYỀN, NGHĨA VỤ THUẾ

LÊ VĂN CHẤN

Đại diện là việc một người (người đại diện) nhân danh một người khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện (theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005 có hiệu lực từ ngày 1/1/2006).

Theo Điều 140 và khoản 4 Điều 141 Bộ luật Dân sự (BLDS) thì “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định”; và “Người đại diện theo pháp luật là: “…Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;…” và theo khoản 1 Điều 142 và khoản 1 Điều 143 BLDS: thì “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”; và người được đại diện theo ủy quyền là: “cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”; và theo Điều 581 BLDS: “hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Mặt khác, tại khoản 4 Điều 143 Luật Doanh nghiệp (LDN) ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006 thì “Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”. Theo khoản 13 Điều 14 Luật Doanh nghiệp: “người quản lý doanh nghiệp là chủ sở hữu, Giám đốc Doanh nghiệp Tư nhân, thành viên hợp danh Công ty Hợp danh, Chủ tịch Hội đồng Thành viên, Chủ tịch Công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và các chức danh quản lý khác do điều lệ công ty quy định”, và theo khoản 3 Điều 9 LDN: một trong những nghĩa vụ của doanh nghiệp là: “Đăng ký mã số thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật”.

Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 103 BLDS: “Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và các tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện quy định tại điều 84 của bộ luật này là pháp nhân”.

Do đó, người đại diện theo pháp luật quy định phải chịu thực hiện các quy định của pháp luật nói chung và nghỉa vụ tài chính nói riêng trong đó có luật, pháp lệnh thuế hiện hành. Cơ quan thuế quản lý thuế đối với doanh nghiệp là người đứng đầu pháp nhân như: Chủ tịch Hồi đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc hoặc; hoặc Chủ tịch công ty; Chủ tịch hồi dồng quản trị; hoặc thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật công ty (theo điều 46; khỏa 5 điều 67; khoản 1 điều 116; khoản 1 Điều 137 LDN).

Tổng cục thuế hướng dẫn thực hiện thống nhất trong việc ủy quyền khi ký các tài liệu, hồ sơ, thực hiện giao dịch liên quan quyền, nghĩa vụ về thuế (Công văn số 1498/TCT – PCCS ngày 24/4/2006) như sau:

- Tại khoản 2, Điều 584 BLDS quy định người đại diện theo pháp luật gồm: “Báo cho người thứ 3 trong quan hệ thực hiện ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi ủy quyền”.

- Tại Điều 10 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 8/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư quy định thẩm quyền ký văn bản:

1. “Ở cơ quan, tổ chức lảm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả văn bản của cơ quan, tổ chức. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.

[...]

3. Trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể ủy quyền cho cán bộ phụ trách dưới mình một cấp ký thừa ủy quyền (TUQ) một số văn bản mà mình phải ký. Việc giao ký thừa ủy quyền phải được quy định bằng văn bản và giới hạn trong một thời gian nhất định. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người khác ký.

4. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể giao cho Chánh Văn phòng, Trưởng phòng hành chính hoặc trưởng một số đơn vị ký thừa lệnh (TL) một số loại văn bản. Việc giao ký thừa lệnh phải được quy định cụ thể trong quy chế công tác văn thư của cơ quan, tổ chức.”

Căn cứ các quy định trên, người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh trực tiếp hoặc giao cho cấp phó của mình ký thay trên các văn bản giao dịch, tờ khai thuế, bảng biểu, mẫu biểu kèm theo tờ khai thuế gửi cho cơ quan thuế thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.

Trường hợp đặc biệt, người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh cá thể ủy quyền bằng văn bản cho cán bộ phụ trách dưới mình một cấp ký thừa ủy quyền các văn bản nêu trên. Khi thực hiện quan hệ giao dịch với cơ quan thuế, người được ủy quyền phải thông báo cho cơ quan thuế biết về thời hạn, phạm vi ủy quyền hoặc khi có thay đổi về thời hạn, phạm vi được ủy quyền.

Riêng đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập thì các văn bản trong hồ sơ đăng ký thuế lần đầu, văn bản trong hồ sơ mua hóa đơn lần đầu phải do người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh ký tên, đóng dấu mới được coi là hợp lệ.

Tóm lại, việc giao dịch với cơ quan Thuế nếu là người của DN thì thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 1498/TCT-PCCS nêu trên. Nếu là người ngoài doanh nghiệp thì phải có hợp đồng ủy quyền theo BLDS, bởi vì người đại diện theo ủy quyền này chỉ trực tiếp làm việc với cơ quan thuế về các nội dung mang tính chất có vấn đề về thủ tục pháp lý cho DN trên cơ sở đó thông báo lại các nội dung làm việc cho người đại diện theo pháp luật biết. Toàn bộ các chứng từ có liên quan đến lĩnh vực thuế thì người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm ký tên; đóng dấu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu đã kê khai với cơ quan thuế./

SOURCE: Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán số 8 (37) – 2006)

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ

LÊ VĂN CHẤN

Hiện nay có một số vướng mắc liên quan đến hợp đồng thuê nhà (HĐTN), làm các nhà soạn thảo HĐTN bận tâm, cụ thể như:

Bên thuê (Bên B) gửi đơn đến cơ quan thuế yêu cầu thu thuế ba năm đối với Bên cho thuê (Bên A), quên nộp thuế cho thuê nhà, vì Bên B là DN khi quyết toán thuế không có hóa đơn để trừ chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập DN (TNDN). Bên B yêu cầu Bên A giao hóa đơn mà thực tế Bên A có nộp thuế hàng tháng nhưng quên mua hóa đơn để giao Bên B trong 2 năm nay. Khi cho thuê nhà, Bên A quên không gửi HĐTN đến cơ quan thuế để đăng ký, do đó Bên B khi quyết toán thuế sẽ gặp khó khăn khi xác định chi phí trả tiền thuê nhà (do Bên A quên nộp thuế), và xác định chi phí điện, nước, điện thoại, fax, …một số cá nhân như: Người hàng xóm của bên A, nhân viên của DN Bên B, người trong nhà của Bên A có thư gửi cơ quan thuế nhắc thu thuế Bên A vì đã quên không khai thuế cho thuê nhà cả 3 năm nay.
Vì sao như vậy, là do các nhà soạn thảo HĐTN cho khách hàng không chú ý đến vấn đề: hóa đơn và thuế mà chỉ chú ý thiết kế các điều khoản bổ sung chặt chẽ của Bên B, Bên A. Do đó, Bên B là DN là người hưởng thụ dịch vụ soạn thảo HĐTN sẽ có cái nhìn không mấy thiện cảm đối với nhà tư vấn, vì chính họ không lường được hậu quả xảy ra mà Bên B gánh chịu sau thời gian kết thúc hợp đồng, thanh lý HĐTN.
Tìm hiểu, chúng tôi thấy giá thuế nhà là giá thanh toán (là giá cho thuê đã có thuế GTGT, gọi là giá gồm thuế). Do vậy, Bên B là người vừa trả tiền thuê nhà (theo giá chưa có thuế) vừa trả thuế GTGT vào trả tiền thuế nhà (theo giá chưa có thuế) vừa trả thuế GTGT vào trong giá thuê nhà: gộp chung lại vào giá cho thuê nhà đã có thuế GTGT.
Theo Phần B Mục I Điều 6 Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài Chính thì giá để tính thuế GTGT và theo Phần B, Mục II, Điểm 3.18 Thông tư 120/2003/TT-BTC nêu trên thì thuế suất thuế GTGT là 10% cho thuê nhà.
Theo Luật thuế TNDN, thì Bên A có nhiệm vụ nộp thuế TNDN. Giá để tính thuế TNDN là giá đã có thuế GTGT (khi xuất hóa đơn bán hàng).
Theo điều 4.1 HĐTN ở Mẫu số 19/CC-HĐ ban hành theo quyết định của UBND TP. Hồ Chí Minh số 58/2004/QĐ-UB ngày 15/3/2004 bên cho thuê có nghĩa vụ nộp các khoản thuế về nhà và đất. Phân tích cụ thể chúng tôi thấy:
Bên cho thuê có nghĩa vụ nộp các khỏa thuế như sau:
- Thuế GTGT (thực chất thuế GTGT này đã được Bên B trả gộp chung với giá thuê chưa có thuế nằm trong giá thanh toán);
- Thuế TNDN;
- Thuế môn bài;
- Lệ phí công chứng.
Như trình bày ở trên, nhà soạn thảo cần ghi đầy đủ các chi tiết sau vào Mẫu 19/CC-HĐ hoặc phụ lục HĐTN;
Điều 2: Giá thuê nhà là giá thanh toán (là giá cho thuê đã có thuế GTGT). Giá để tính thuế GTGT là giá chưa có thuế GTGT. Giá để tính thuế TNDN là giá đã có thuế GTGT.
Điều 4.1: Nghĩa vụ của Bên A là: nộp thuế môn bài, thuế GTGT, thuế TNDN và lệ phí công chứng.
Thuế GTGT = giá chưa có thuế x 10% thuế suất GTGT
Giá chưa có thuế = giá có thuế GTGTx10/11
Giá gồm thuế GTGT = giá chưa có thuế + thuế GTGT = hay còn gọi là giá thanh toán.
Bên A giao hóa đơn bán hàng cho Bên B mỗi lần thu tiền nhà.
Điều 7: Thỏa thuận riêng giữa Bên B và Bên A:
Trường hợp Thuế GTGT, thuế TNDN do Bên B nộp thay Bên A, thì Bên A chỉ nhận tiền thuế nhà là giá chưa có thuế GTGT = giá gồm thuế GTGT (hay giá thanh toán) x10/11
Như vậy, Bên B phải trả như sau: Giá thuê nhà chưa có thuế GTGT, thuế GTGT, thuế TNDN.
Do bên B phải trả thay cho Bên A về thuế GTGT, thuế TNDN, theo quy định, nên các loại thuế này không được tính vào chi phí của DN Bên B khi xác định thu nhập chịu thuế thuế TNDN của DN.
Trách nhiệm của Bên cho thuê:
- Đem HĐTN hoặc phụ lục HĐTN đến đăng ký tại chi cục thuế quận (huyện) tại địa phương.
- Mỗi khi nhận tiền thuê nhà do Bên B trả, bên A phải làm phiếu thu tiền cho Bên B và sau khi nộp thuế GTGT, thuế TNDN hàng tháng về nhà cho thuê, Bên A phải đến chi cục thuế quận (huyện) tại địa phương mua hóa đơn lẻ (hóa đơn bán hàng thông thường) do cơ quan thuế phát hành và giao lại cho Bên B để trừ vào chi phí khi quyết toán thuế (Bên A giữ lại hóa đơn liên 2 bản photocopy). Bên A phải nộp thuế môn bài từ lúc bắt đầu cho Bên B thuê nhà. Trường hợp Bên A là hộ kinh doanh thì thủ tục mua hóa đơn lần đầu áp dụng hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai mua hóa đơn lần đầu phải nộp các giấy tờ theo quy định tại Thông tư số 99/2003/TT-BTC ngày 23/10/2003 của Bộ Tài chính.
“Trường hợp DN sử dụng chung công tơ điện với chủ cho thuê mặt bằng theo hợp đồng thuê, để được tính là chi phí hợp lệ đối với tiền thuê mặt bằng và tiền điện, khi thanh toán khoản tiền này thì chủ cho thuê mặt bằng phải xuất hóa đơn cho thuê mặt bằng và tiền điện (theo chỉ số của công tơ phụ). Nếu chủ cho thuê là đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc cá nhân thì phải đăng ký để được cấp hóa đơn lẻ (không thu tiền) tại cơ quan thuế để có thể xuất hóa đơn cho DN đi thuê”. (Theo công văn số 2822 CTC/CS ngày 4/8/2003 của Tổng cục Thuế).
Trách nhiệm của bên thuê:
“Bên B chịu trách nhiệm thanh toán tiền điện, nước, điện thoại do Bên B dùng và thực tế Bên B đã chi trả, có phiếu chi tiền đúng số tiền ghi trên hóa đơn GTGT thanh toán tiền điện, nước, điện thoại nhưng hóa đơn ghi tên chủ nhà (người ký hợp đồng điện, nước, điện thoại) thì Bên B được căn cứ vào các hóa đơn kèm theo chứng từ thanh toán điện, nước, điện thoại dùng cho kinh doanh để tính khấu trừ thuế GTGT và tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN theo chế độ quy định”. (Văn bản số 3025 TCT/NV6 ngày 12/7/2000 của Tổng cục Thuế).

Tóm lại, nhà soạn thảo HĐTN ghi đầy đủ các chi tiết về thuế và hóa đơn vào HĐTN hoặc Phụ lục HĐTN sẽ giúp cho DN an tâm trong kinh doanh tránh các phiền toái sau này

SOURCE: TẠP CHÍ THƯƠNG MẠI SỐ 39/2004

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ VÀ CHÚ THÍCH

Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 7/2004 – Bản dịch của đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

Phỏng theo TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA WORLD BOOK, bản quyền của Công ty World Book năm 2004. Được phép của Nhà xuất bản. Địa chỉ trên Internet: ww.worldbook.com

TẢI TOÀN VĂN HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ Ở ĐÂY

Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tác phẩm của một số nhà lãnh đạo vĩ đại nhất của Mỹ sau Chiến tranh giành Độc lập của các thuộc địa, đã bảo vệ quyền lợi và các quyền tự do của người Mỹ kể từ khi có hiệu lực vào ngày 21/6/1788. Văn kiện này cũng là nguồn cảm hứng cho những người yêu nước ở khắp mọi nơi mong muốn xây dựng một “Chính phủ công bằng và khôn ngoan”, mục tiêu mà đại biểu George Mason đã đề ra đối với những nhà soạn thảo hiến pháp họp tại Đại hội Lập hiến năm 1787.

Đối với các độc giả quan tâm đến việc nghiên cứu văn kiện lịch sử này và sự phù hợp với chính phủ dân chủ hiện đại, ấn phẩm này cung cấp toàn văn nguyên bản Hiến pháp, Tuyên ngôn Nhân quyền, và các Điều bổ sung sửa đổi khác được thông qua đầu tiên. Ấn phẩm này còn có một bài viết về những diễn biến lịch sử dẫn đến việc triệu tập Đại hội Lập hiến, bất đồng và thỏa hiệp giữa các đại biểu, và quy trình thông qua và sửa đổi. Cuối cùng, ấn phẩm này cung cấp các chú giải về bản Hiến pháp và 27 Điều bổ sung sửa đổi.

“Một quốc gia, một hiến pháp, một vận mệnh”
– Thượng Nghị sỹ Hoa Kỳ Daniel Webster, ngày 15/3/1837

HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC đề ra những bộ luật cơ bản của quốc gia. Hiến pháp thiết lập nên hình thức chính phủ quốc gia và xác định quyền và các quyền tự do của nhân dân Mỹ. Trong đó cũng nêu ra các mục tiêu của chính phủ quốc gia và các biện pháp để đạt được các mục tiêu đó. Trước đó, các nhà lãnh đạo quốc gia đã thành lập một liên minh các bang theo các Điều khoản Hợp bang. Nhưng Quốc hội được thành lập theo Các điều khoản này thiếu quyền lực để các bang hợp tác với nhau giải quyết các vấn đề của quốc gia.

Sau khi các bang giành độc lập trong Chiến tranh Cách mạng (1775-1783), họ phải đối mặt với tất cả những vấn đề của chính phủ thời bình. Các bang phải bảo vệ luật pháp và trật tự, thu thuế, trả khoản nợ công lớn, và điều tiết hoạt động thương mại giữa các bang. Họ cũng phải giải quyết vấn đề các bộ lạc người da đỏ và đàm phán với các chính phủ khác. Những chính khách hàng đầu như George Washington và Alexander Hamilton bắt đầu bàn đến sự cần thiết phải xây dựng một chính phủ quốc gia vững mạnh theo một hiến pháp mới.

Hamilton đã giúp tổ chức đại hội lập hiến họp ở Philadelphia, bang Pennsylvania, năm 1787 để sửa đổi các Điều khoản Hợp bang. Nhưng thay vào đó, đa số các đại biểu tại Đại hội đã quyết định soạn thảo một kế hoạch mới của chính phủ – tức là Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Hiến pháp không chỉ thành lập nên một liên hiệp các bang mà còn lập ra một chính phủ thực thi quyền lực của mình trực tiếp đối với tất cả công dân. Hiến pháp định ra các quyền cho chính phủ quốc gia. Ngoài ra, nó bảo vệ các quyền dành cho các bang và quyền của mọi cá nhân.

B LUT TI CAO CA ĐT NƯỚC

Hiến pháp gồm một lời nói đầu, bảy điều, và 27 điều bổ sung sửa đổi. Nó thiết lập nên một hệ thống liên bang thông qua việc phân chia quyền lực giữa chính phủ quốc gia và chính quyền bang. Nó cũng lập ra một chính phủ quốc gia cân bằng thông qua việc phân chia quyền lực giữa ba ngành độc lập – hành pháp, lập pháp và tư pháp. Ngành hành pháp, tức là Tổng thống, thực thi luật pháp quốc gia; ngành lập pháp, tức là Quốc hội, đề ra luật quốc gia; và ngành tư pháp, tức là Tòa án Tối cao và các tòa án liên bang khác, áp dụng và vận dụng luật khi phán quyết các tranh chấp về pháp lý tại các tòa án liên bang.

Các quyền lực liên bang được nêu trong Hiến pháp bao gồm quyền thu thuế, tuyên bố chiến tranh và điều tiết thương mại giữa các bang và với nước ngoài. Ngoài những quyền đại diện hay quyền hạn xác định này (những quyền được nêu trong Hiến pháp), chính phủ quốc gia còn có các quyền ngụ ý (những quyền được hàm ý một cách hợp lý từ các quyền đại diện). Những quyền lực gián tiếp này giúp chính phủ đối phó với những yêu cầu thay đổi của quốc gia. Ví dụ, Quốc hội không có quyền được phân bổ cụ thể nào về in tiền giấy. Nhưng quyền đó được ngụ ý trong các quyền đại diện về vay mượn và đúc tiền.

Trong một số trường hợp, chính quyền quốc gia và chính quyền bang có những quyền trùng lặp nhau – tức là chính quyền cả hai cấp đều có thể hành động. Luật của chính quyền quốc gia là tối cao trong trường hợp có xung đột. Những quyền mà Hiến pháp không trao cho chính quyền quốc gia hay cấm đối với các bang được gọi là quyền dành riêng và thuộc về người dân hoặc các bang. Quyền của bang bao gồm quyền làm luật về ly dị, kết hôn, và các trường công. Quyền dành cho người dân bao gồm quyền sở hữu tài sản và được xét xử bởi một bồi thẩm đoàn.

Tòa án Tối cao có quyền lực cuối cùng trong vận dụng Hiến pháp. Nó có thể bỏ qua bất kỳ luật nào – của liên bang, bang hay địa phương – khi đa số thẩm phán cho rằng luật đó xung đột với bất kỳ nội dung nào của Hiến pháp.

NHU CU CN CÓ HIN PHÁP

Chính phủ được thành lập theo các Điều khoản Hợp bang không đủ mạnh để lãnh đạo quốc gia mới. Ví dụ, nó không có ngành hành pháp và hệ thống các tòa án quốc gia. Nó không thể điều tiết thương mại giữa các bang hay đánh thuế các bang hay người dân. Nó chẳng qua chỉ là một tập hợp các đại diện của 13 bang độc lập.

Năm 1783, sau Chiến tranh Cách mạng, cả nước bước vào một giai đoạn bất ổn về tình hình thương mại và chính trị. Alexander Hamilton và những người ủng hộ ông lẽ ra có thể có đôi chút thành công trong việc vận động xây dựng một hiến pháp mới nếu như tình hình tốt hơn. Một số sử gia có lẽ đã tô vẽ những khó khăn của nền cộng hòa non trẻ bằng những gam màu quá ảm đạm. Nhưng rõ ràng là tình hình trở nên tồi tệ hơn sau năm 1783. Mỗi bang hành động gần như một quốc gia độc lập. Mỗi bang điều hành công việc của mình theo lợi ích của mình mà không quan tâm đến nhu cầu của nền cộng hòa. Các bang lưu hành hàng chục đồng tiền khác nhau, hầu hết các đồng tiền này có giá trị rất nhỏ. Các bang láng giềng đánh thuế hàng nhập khẩu của nhau. Anh Quốc từ chối nối lại các kênh thương mại vốn từng giúp các thuộc địa này phát triển kinh tế rất nhiều. Các cơ quan lập pháp của bang từ chối không trả những khoản nợ trong Chiến tranh Cách mạng. Nhiều bang thông qua các bộ luật giúp con nợ thoát khỏi nghĩa vụ trả nợ.

Tệ hại nhất là một số người bắt đầu nghĩ đến việc cầm lấy vũ khí một lần nữa để giải quyết các vấn đề của mình. Ở miền Tây bang Massachusetts năm 1786, hàng trăm nông dân đã đi theo Đại úy Danel Shays nổi loạn chống chính quyền bang. Quân đội bang cuối cùng đã dẹp được cuộc nổi loạn của Shays. George Washington và các nhà lãnh đạo khác tự hỏi liệu có phải các thuộc địa đã nổi loạn chống lại Anh Quốc mà chẳng mang lại một kết quả nào. Họ cảm thấy đã đến lúc chấm dứt những rắc rối này và thiết lập hòa bình, kỷ cương bằng cách lập ra một chính phủ quốc gia mới. Chính phủ mới này sẽ phải đủ vững mạnh để có được sự tuân thủ trong nước và sự tôn trọng ở nước ngoài.

Đại diện của năm bang đã họp ở Annapolis, bang Maryland, năm 1786. Họ đề xuất các bang cử ra các đại biểu đi họp ở Philadelphia và xem xét việc sửa đổi các Điều khoản Hợp bang. Đại hội nhất trí với đề xuất này và đề nghị mỗi bang chọn các đại biểu đi dự Đại hội Lập hiến.

ĐI HI LP HIN

Đại hội dự kiến khai mạc ngày 14/5/1787. Nhưng có quá ít trong số 55 đại biểu đến Philadelphia vào ngày hôm đó. Cuối cùng vào ngày 25/5, Đại hội đã chính thức khai mạc tại Hội trường Độc lập. Mười hai bang đã đáp lại lời mời dự Đại hội. Rhode Island từ chối cử đại biểu vì không muốn chính phủ quốc gia can thiệp vào công việc của Rhode Island.

Trong số 55 đại biểu, 39 người đã ký vào Hiến pháp Hoa Kỳ ngày 17/9/1787. Một trong số đó là John Dickinson từ bang Delaware đã rời Đại hội nhưng nhờ một đại biểu khác là George Read ký hộ. William Jackson, thư ký của Đại hội, đã chứng kiến việc ký kết. Các đại biểu gồm cả những người từng trải và yêu nước nhất của nền cộng hòa mới. George Washington là Chủ tịch của Đại hội. Benjamin Franklin ở tuổi 81 đã tham dự với tư cách là Đại biểu của bang Pennsylvania. Nhân vật xuất chúng Alexander Hamilton đại diện cho New York. James Madison của bang Virginia đã nhận danh hiệu “Cha đẻ của Hiến pháp” nhờ những bài diễn văn, các cuộc thương thuyết và những nỗ lực thỏa hiệp của ông. Madison đã phát biểu với các đại biểu rằng họ đang xem xét một kế hoạch sẽ quyết định mãi mãi vận mệnh của chính phủ cộng hòa”. Ông đã ghi lại những cuộc tranh luận và các quyết định của đại biểu.

Những người khác cũng liên quan nhiều đến việc soạn thảo Hiến pháp là John Dickinson, Gouverner Morris, Edmund Randolph, Roger Sherman, James Wilson và George Wythe. Morris có lẽ là đại biểu có ảnh hưởng nhất sau Madison và Washington. Ông được giao nhiệm vụ tổng hợp tất cả các nghị quyết và quyết định của Đại hội thành văn bản hoàn chỉnh. Morris thực sự là người “chấp bút” cho Hiến pháp. Bản gốc của văn kiện này hiện lưu giữ tại Viện Lưu trữ Quốc gia ở Washington, D.C.

Một số nhân vật quan trọng thời đó không tham dự Đại hội. John Adams và Thomas Jefferson vắng mặt do đi nước ngoài làm một số nhiệm vụ khác của chính phủ. Samuel Adams và John Jay không được bang của mình cử làm đại biểu. Patrick Henry từ chối sau khi được cử vì ông chống lại việc trao thêm quyền cho chính phủ quốc gia. Ba thành viên hàng đầu của đại hội – Elbridge Gerry, George Mason và Edmund Randolph – từ chối không ký vào Hiến pháp vì họ bất đồng với một số nội dung trong đó.

BỐI CẢNH CỦA HIẾN PHÁP. Các đại biểu dự Đại hội Lập hiến chủ yếu dựa vào kinh nghiệm khi xây dựng nên một chính phủ mới. Họ nhớ lại nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình phát triển của chính phủ hợp hiến. Trong đó có việc công nhận Magna Carta, văn kiện hiến pháp của Anh vào năm 1215 và cuộc họp của Đại hội Đại biểu Jamestown năm 1619. Một số thuộc địa cũng là những ví dụ về hình thức chính phủ hợp hiến. Các chính quyền thuộc địa tuy còn khiếm khuyết nhưng đã phát triển hơn các chính quyền khác cùng thời trong việc xây dựng quyền tự do theo luật.

Khoảng cùng thời gian với Chiến tranh Cách mạng, một số bang ở Mỹ đã thành lập chính phủ hợp hiến. Năm 1777, John Jay của bang New York đã giúp soạn thảo hiến pháp cho bang mình. John Adams của bang Massachusetts đã giúp soạn thảo Hiến pháp Massachusetts năm 1780. Các đại biểu dự Đại hội Lập hiến ở Philadelphia đã sử dụng nhiều ý tưởng và câu chữ trong các hiến pháp của những bang này và các bang khác.

Các đại biểu cũng dựa vào những kinh nghiệm của bản thân. Ví dụ: Benjamin Franklin đã đề xuất một kế hoạch tại Đại hội Albany năm 1754 để thống nhất các thuộc địa dưới một chính quyền trung ương. Washington nhớ lại những khó khăn của ông trong chiến tranh khi còn là Tổng Tư lệnh, ông đã phải làm việc với chính phủ Hợp bang yếu kém. Hầu hết tất cả các đại biểu dự Đại hội đã từng tham gia quân đội hay là cán bộ quản lý trong chính phủ. Các đại biểu thường bất đồng về chi tiết nhưng thống nhất muốn có chính phủ mới đủ mạnh để lãnh đạo đất nước, nhưng không quá mạnh để đe dọa đến những quyền tự do của các bang và người dân.

CÁC THỎA HIỆP. Nhiệm vụ xây dựng một chính phủ mới không dễ hoàn thành. Sự tranh chấp giữa các đại biểu suýt phá vỡ Đại hội nhiều lần. Ví dụ, các đại biểu từ những bang lớn và đông dân hơn bất đồng với những đại biểu các bang nhỏ về sự đại diện trong cơ quan lập pháp quốc gia. Các bang lớn hơn ủng hộ Kế hoạch Virginia, theo đó số dân sẽ quyết định số đại diện của một bang được bầu vào cơ quan lập pháp. Các bang nhỏ hơn ủng hộ Kế hoạch New Jersey, trong đó đề xuất tất cả các bang sẽ có số đại diện ngang bằng nhau. Các đại biểu bang Connecticut đề xuất một thỏa hiệp giải quyết vấn đề này. Kế hoạch của họ đề nghị số đại diện ngang nhau trong Thượng viện, cùng với số đại diện tương ứng với số dân trong Hạ viện. Đề xuất này được gọi là Thỏa hiệp Connecticut hay Đại thỏa hiệp.

Các thỏa hiệp cũng giải quyết các xung đột về vấn đề nô lệ. Đại biểu các bang miền Bắc muốn Quốc hội có quyền cấm buôn bán nô lệ nước ngoài và cuối cùng bãi bỏ chế độ nô lệ. Hầu hết các đại biểu miền Nam không muốn Quốc hội có quyền này. Một thỏa hiệp quyết định phải đến năm 1808 Quốc hội mới được phép kiểm soát buôn bán nô lệ nước ngoài. Một thỏa hiệp khác liên quan đến vấn đề đếm số nô lệ như thế nào trong việc xác định số nghị sỹ của một bang. Nô lệ không được coi là công dân, và vì vậy Đại hội đã nhất trí chỉ tính ba phần năm số nô lệ.

Các đại biểu nhất trí rằng mỗi bang nên tổ chức một đại hội đặc biệt để bàn và bỏ phiếu về Hiến pháp. Họ cũng quyết định rằng chừng nào có chín bang đã phê chuẩn (chấp thuận) Hiến pháp, thì Hiến pháp sẽ có hiệu lực và họ có thể bắt đầu tổ chức chính phủ mới của mình.

PHÊ CHUN HIN PHÁP

Chưa đầy ba tháng sau khi Hiến pháp được ký kết, Delaware trở thành bang đầu tiên phê chuẩn Hiến pháp vào ngày 7/12/1787. New Hampshire là bang thứ chín, và Hiến pháp có hiệu lực từ ngày 21/7/1788. Nhưng những Nhà Sáng lập không thể chắc chắn rằng Hiến pháp được chấp nhận rộng rãi cho đến khi những bang quan trọng là New York và Virginia phê chuẩn nó. Sự chống đối mạnh mẽ có tổ chức chống lại Hiến pháp đã hình thành ở hai bang này và các bang khác. Những người như Elbridge Gerry, Patrick Henry, Richard Henry Lee và George Mason đã lên tiếng phản đối việc phê chuẩn.

Những người chỉ trích phản đối việc không đưa vào Tuyên ngôn Nhân quyền, Tổng thống có quá nhiều sự độc lập, và Thượng viện quá nặng về tính quý tộc. Họ cũng cho rằng Quốc hội có quá nhiều quyền và chính quyền quốc gia có quá nhiều quyền lực. Những người ủng hộ Hiến pháp thì ủng hộ việc phê chuẩn. Họ được biết đến là những người theo Chủ nghĩa Liên bang. Những người chống đối họ được gọi là những người chống lại Chủ nghĩa Liên bang. Hai nhóm này khuếch trương đường lối của mình trên báo chí, bằng các cuốn sách nhỏ, và trong các cuộc tranh luận tại các hội nghị phê chuẩn. Các nhóm này phát triển thành những đảng phái chính trị đầu tiên ở Mỹ.

Virginia đã phê chuẩn Hiến pháp ngày 25/1/1788, và New York vào ngày 26/7. Đầu tháng 1/1789, tất cả các bang đã phê chuẩn ngoại trừ New York (do không cử được đại cử tri trước thời hạn) đã chọn ra các đại cử tri bầu tổng thống trong cơ quan lập pháp của mình hoặc do người dân bỏ phiếu bầu trực tiếp. Ngày 4/2, các đại cử tri đã chọn George Washington là Tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Quốc hội đầu tiên theo Hiến pháp họp ở thành phố New York ngày 4/3. Washington nhậm chức ngày 30/4. Nhưng Bắc Carolina và Rhode Island chỉ phê chuẩn Hiến pháp và tham gia vào chính phủ mới khi Quốc hội đồng ý bổ sung Tuyên ngôn Nhân quyền.

TUYÊN NGÔN NHÂN QUYN

Những người theo chủ nghĩa Liên bang có lẽ chẳng bao giờ có được sự phê chuẩn ở một số bang quan trọng nếu như họ không cam kết bổ sung Tuyên ngôn Nhân quyền vào Hiến pháp. Hầu hết hiến pháp các bang được thông qua trong thời kỳ Cách mạng đều có một tuyên bố rõ ràng về quyền của tất cả người dân. Hầu hết người Mỹ tin rằng không hiến pháp nào có thể coi là hoàn chỉnh nếu không có một tuyên bố như thế. George Mason của bang Virginia chịu trách nhiệm soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền đầu tiên và nổi tiếng nhất của Mỹ, với tên gọi là Tuyên ngôn các Quyền Công dân bang Virginia năm 1776. Ông và Patrick Henry có thể đã ngăn cản việc phê chuẩn Hiến pháp ở Virginia nếu như những người theo chủ nghĩa Liên bang không đồng ý với những yêu cầu sửa đổi của họ.

James Madison đã lãnh đạo Quốc hội mới đề xuất các điều bổ sung sửa đổi. Ông đề xuất 15 điều bổ sung sửa đổi, và Quốc hội đã chấp nhận 12 trong số đó để chuyển cho cơ quan lập pháp các bang phê chuẩn theo quy trình sửa đổi được đề ra trong Điều 5 của Hiến pháp. Đến ngày 15/12/1791, các cơ quan lập pháp cần thiết ở ba phần tư số bang đã phê chuẩn 10/12 điều bổ sung sửa đổi. Mười Điều bổ sung sửa đổi này được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền. Một trong hai bản bị bác bỏ là về quy mô của Hạ viện. Sửa đổi này đòi thay đổi số đại diện từ không quá một đại diện cho 30.000 dân sang không quá một đại diện cho 50.000 dân. Sửa đổi bị bác bỏ còn lại quy định Quốc hội không thể thay đổi lương của các nghị sỹ cho đến sau khi tổ chức bầu cử các đại diện. Sửa đổi này được phê chuẩn 202 năm sau đó và trở thành Điều bổ sung sửa đổi thứ 27.

Những người chống lại Chủ nghĩa Liên bang chấp nhận thất bại khi Hiến pháp được thông qua, và sau đó họ chủ trương giành quyền lực theo những quy định của Hiến pháp. Những hành động của họ tạo nên một đặc thù chưa bao giờ thay đổi trong chính trị Mỹ. Người Mỹ đôi khi cảm thấy bất mãn với chính sách và hành động của những người cầm quyền. Nhưng hầu như không có người Mỹ nào lên án hệ thống hiến pháp hay cảm thấy rằng một Đại hội Lập hiến thứ hai có lẽ sẽ tạo nên một hiến pháp tốt hơn.

S PHÁT TRIN CA HIN PHÁP

James Madison tuyên bố “khi xây dựng một hệ thống mà chúng ta mong muốn sẽ tồn tại trong một thời gian dài, chúng ta không nên bỏ qua những thay đổi trong khoảng thời gian đó”. Hiến pháp được xây dựng để phục vụ lợi ích của người dân – dù giàu hay nghèo, người miền Bắc hay miền Nam, nông dân, công nhân và doanh nhân. Trong suốt nhiều năm, Hiến pháp đã được vận dụng đáp ứng những nhu cầu thay đổi của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Các đại biểu dự Đại hội Lập hiến tin tưởng mạnh mẽ vào sự lãnh đạo của đa số, nhưng họ muốn bảo vệ các nhóm thiểu số chống lại bất kỳ sự bất công nào của đa số. Họ đã đạt được mục đích này thông qua việc phân chia và cân bằng quyền lực của chính phủ quốc gia. Những mục tiêu cơ bản khác của hiến pháp còn có sự tôn trọng quyền của cá nhân và các bang, nhân dân cầm quyền, sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước, và vị thế tối cao của chính phủ quốc gia.

Hiến pháp đã được sửa đổi 27 lần, trong đó có Tuyên ngôn Nhân quyền. Các điều bổ sung sửa đổi có thể được đề xuất bởi hai phần ba thành viên trong mỗi viện hay bởi một đại hội toàn quốc do Quốc hội triệu tập theo yêu cầu của các cơ quan lập pháp của hai phần ba số bang. Một Điều bổ sung sửa đổi trở thành bộ phận của Hiến pháp sau khi được phê chuẩn hoặc bởi cơ quan lập pháp của ba phần tư số bang hoặc bởi các đại hội ở ba phần tư số bang. Quốc hội quyết định nên sử dụng hình thức phê chuẩn nào và thời gian các bang phải xem xét mỗi Điều bổ sung sửa đổi. Trong nhiều trường hợp, Quốc hội chọn thời hạn bảy năm để xem xét một Điều bổ sung sửa đổi.

Các đại biểu dự Đại hội Lập hiến biết rằng họ không thể soạn thảo luật cho mọi khả năng tình huống. Do đó, họ trao cho Quốc hội quyền thông qua tất cả các luật “cần thiết và hợp lý” để thực hiện các quyền lực Hiến pháp trao cho Tổng thống, Quốc hội, và các tòa án liên bang. Quốc hội đã thông qua luật thành lập những tổ chức hành chính như Cục Hàng không Liên bang và Cục Bưu điện. Quốc hội cũng đã thông qua luật điều tiết thương mại liên bang, qua đó kiểm soát nhiều khía cạnh của nền kinh tế Mỹ.

PHÁN QUYẾT CỦA TÒA ÁN. Thẩm phán liên bang và bang áp dụng Hiến pháp trong nhiều vụ án. Tòa án Tối cao có quyền lực cuối cùng trong việc diễn đạt ý nghĩa của Hiến pháp trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Tòa án có quyền xem xét lại về pháp lý – tức là họ có thể tuyên bố một bộ luật là bất hợp hiến. Tòa án Tối cao có quyền này do phán quyết của Chánh án John Marshall trong vụ Marbury kiện Madison năm 1803. Kể từ đó, tòa án đã phán quyết hơn 100 bộ luật liên bang và hàng trăm bộ luật bang là bất hợp hiến.

HÀNH ĐỘNG CỦA TỔNG THỐNG. Những Tổng thống mạnh đã sử dụng quyền lực của mình để mở rộng những ngôn từ đơn giản trong Điều 2 của Hiến pháp thành nguồn quyền lực mạnh mẽ của tổng thống. Những Tổng thống mạnh như vậy có George Washington, Thomas Jefferson, Andrew Jackson, Abraham Lincoln, Theodore Roosevelt, Woodrow Wilson, Franklin D.Roosevelt, và George W. Bush. Ví dụ, Washington đã biến Tổng thống trở thành nhân vật hàng đầu trong lĩnh vực đối ngoại. Lincoln đã sử dụng những quyền trong điều này để giải phóng nô lệ nổi loạn ở các bang miền Nam trong cuộc Nội chiến (1861-1865).

TẬP QUÁN đã làm cho Hiến pháp trở nên linh hoạt và đã tăng thêm quyền của chính phủ quốc gia. Ví dụ, nội các của Tổng thống đã phát triển từ những nội dung trong Điều 2 cho phép người đứng đầu “yêu cầu đóng góp ý kiến bằng văn bản của cán bộ phụ trách từng bộ phận điều hành, về bất kỳ chủ đề nào liên quan đến nhiệm vụ của từng bộ phận đó”.

HÀNH ĐỘNG CỦA BANG VÀ ĐẢNG PHÁI. Hiến pháp quy định về một phương thức chung để bầu cử Tổng thống. Hiến pháp không đề cập tới các đảng phái chính trị. Nhưng luật của các bang và hoạt động của các đảng phái chính trị đã làm thay đổi hệ thống bầu cử trong hiến pháp thành những chiến dịch vận động và những cuộc bầu cử thú vị diễn ra ngày nay.

Hiến pháp đã tiếp tục phát triển đáp ứng những yêu cầu của một xã hội ngày càng phát triển thông qua tất cả những phương thức trên. Nhưng tinh thần và nội dung của Hiến pháp vẫn nhất quán. Con người mỗi thế hệ đã vận dụng các điều khoản của Hiến pháp để giải quyết các vấn đề của mình theo những cách có vẻ là hợp lý đối với họ.

Chính khách người Anh William E. Gladstone đã mô tả Hiến pháp là “tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người”. Trong một thế giới đổi thay và tranh đấu, nhân dân Mỹ không có tài sản nào quý giá hơn văn kiện vĩ đại này. Toàn văn Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, kèm theo chú giải, được trình bày trong những trang tiếp theo. Sau toàn văn là phần giải thích.

CÔNG VĂN SỐ 4294/TNMT-TTDK CỦA UBNDTPHCM VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP NHÀ Ở

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
******
Số: 4294/TNMT-TTĐK
V/v: hướng dẫn việc đăng ký thế chấp nhà ở
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 06 năm 2007

Kính gửi: Ủy ban nhân dân quận, huyện.

Ngày 03 tháng 5 năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố có Công văn số 2511/UBND-ĐT đã chỉ đạo đối với nhà, đất được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu  nhà ở, quyền sử dụng đất ở; giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở (sau đây gọi tắt là giấy hồng mới) thì tạm ngưng việc ghi nhận nội dung đăng ký thế chấp tại trang bổ sung giấy chứng nhận. Tuy nhiên hiện nay việc giải quyết đăng ký thế chấp của các quận, huyện không thống nhất và có một số quận, huyện tự ngưng đăng ký thế chấp đối với nhà đất có giấy hồng mới đã làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người dân.

Ngày 21 tháng 5 năm 2007 Liên Bộ Tư pháp – Bộ Xây dựng – Bộ Tài nguyên và Môi trường – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở; theo đó nếu đăng ký thế chấp nhà ở cùng với quyền sử dụng đất ở thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện đồng thời việc đăng ký thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất ở; và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chỉ ghi nhận nội dung đăng ký thế chấp vào sổ địa chính và sổ theo dõi biến động đất đai, không ghi nhận đăng ký thế chấp, xóa thế chấp trên giấy chứng nhận hoặc trang bổ sung kèm theo giấy chứng nhận.

Để thống nhất trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký thế chấp không gây trở ngại cho người có nhu cầu thực hiện ngay việc thế chấp nhà ở, Sở Tài nguyên và Môi trường đề nghị Ủy ban nhân dân quận, huyện chỉ đạo cơ quan đăng ký quận, huyện thực hiện:

1. Trong thời gian đến khi Thông tư số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN có hiệu lực pháp luật thì việc đăng ký thế chấp nhà ở được thực hiện như sau:

a) Đối với giấy hồng mới; giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình được cấp theo Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng (giấy hồng Nghị định 95):

Đăng ký thế chấp theo quy định hiện hành; trình tự, thủ tục được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16 tháng 6 năm 2005 của liên Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (gọi tắt là Thông tư 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT);

Không ghi nhận nội dung đăng ký thế chấp trên giấy chứng nhận (hoặc trên trang bổ sung kèm theo giấy chứng nhận – gọi tắt là trang bổ sung).

b) Đối với hồ sơ có giấy chứng nhận quyền sở hữu  nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp theo Nghị định số 60/CP (giấy hồng cũ):

Thực hiện như đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy đỏ); trình tự, thủ tục theo Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT.

Khi Thông tư số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN có hiệu lực thì chấm dứt việc ghi nhận nội dung đăng ký trên giấy hồng cũ.

2. Trong trường hợp nhà ở thế chấp chưa có thông tin về thửa đất, do đó không thể biết được vị trí của nhà ở này trên bản đồ địa chính để ghi vào sổ bộ địa chính thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận, huyện sử dụng mẫu sổ đăng ký thế chấp nhà ở kèm theo Thông tư số 05/2007/TTLT-BTP-TXD-BTNMT-NHNN để ghi nội dung đăng ký thế chấp.

3. Đối với các loại giấy hồng đã đăng ký thế chấp trên giấy chứng nhận hoặc trên trang bổ sung, khi có yêu cầu chỉnh lý hoặc xóa đăng ký thì cơ quan đăng ký thể hiện các nội dung đăng ký thay thế này trên trang bổ sung.

Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh các vấn đề có liên quan; đề nghị các quận, huyện phản hồi lại Sở Tài nguyên và Môi trường để có hướng dẫn thực hiện./.

KT. GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC

Đào Anh Kiệt

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ "CÔNG VỤ" VÀ "DỊCH VỤ CÔNG"

NGUYỄN VĂN DŨNG

Hiện nay, Đảng và Nhà nước đang thực hiện chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, một mục tiêu cụ thể được đặt ra trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính từ 2001-2010 là “các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ đảm nhận”.

Cụ thể hơn, trong nội dung của Chương trình đã nêu rõ “chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện”. Như vậy, một nội dung để thực hiện tinh giản bộ máy hành chính nhà nước là vấn đề tách bạch rõ ràng giữa những công việc nào mà Nhà nước phải thực hiện (theo đúng vai trò, chức năng của mình), những công việc nào Nhà nước và các chủ thể không mang quyền lực Nhà nước cùng thực hiện, những công việc Nhà nước có thể tham gia hay không tham gia thực hiện và những công việc chỉ để cho các chủ thể không mang quyền lực Nhà nước thực hiện.

Sự tách bạch trên đây là cần thiết và để làm được điều này thì việc phân biệt được hoạt động công vụ và dịch vụ công là một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng.

Hoạt động công vụ và dịch vụ công có một điểm chung mà nếu không có sự phân biệt rõ ràng thì rất dễ dẫn đến nhầm lẫn đó là cả hai hoạt động này đều hướng tới mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích công cộng.

Theo Từ điển Tiếng việt công vụ được hiểu là “việc công”, theo cuốn Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì công vụ được hiểu là “hoạt động do cán bộ, viên chức, quân nhân tiến hành nằm thực hiện các nhiệm vụ được giao”, còn theo Dự thảo Luật Công vụ (do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo) có nêu định nghĩa về công vụ: “công vụ là hoạt động do công chức thực hiện nhằm phục vụ lợi ích chung của nhân dân và xã hội”. Như vậy, ngoài mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích công cộng, công vụ trước hết là hoạt động gắn với việc thực hiện quyền lực nhà nước, thực thi pháp luật (do công chức thực hiện) và được điều chỉnh chặt chẽ bằng pháp luật.

Công vụ có tính chất phục vụ bởi bản chất hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành – điều hành, hoạt động quản lý hành chính nhà nước, hoạt động thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước, đó cũng là nhiệm vụ của bộ máy nhà nước nói chung và của nền hành chính nói riêng, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì tính chất phục vụ này càng thể hiện rõ nét. Xuất phát từ tính chất phục vụ của công vụ, hoạt động công vụ do đó được bảo đảm thực hiện bằng ngân sách nhà nước và đối tượng được phục vụ của công vụ về nguyên tắc không phải trả tiền, hoạt động công vụ không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

Đối tượng phục vụ hướng tới của công vụ là người dân có đủ điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật và các công dân đều bình đẳng trong việc hưởng quyền này;

Công vụ được thực hiện thông qua đội ngũ công chức hoặc những người được Nhà nước uỷ quyền.

Dịch vụ công cũng giống với công vụ ở chỗ mục đích của nó nhằm phục vụ nhân dân, vì lợi ích công cộng, tuy nhiên, khác với công vụ, dịch vụ công không có tính chất phục vụ mà mang tính chất dịch vụ, tức là “công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” từ đó dịch vụ công sẽ mang một số đặc điểm sau:

- Hoạt động dịch vụ công có thể do cả nhà nước và tư nhân thực hiện bởi nó không gắn với quyền lực nhà nước, không nhất thiết phải do Nhà nước thực hiện thông qua đội ngũ công chức;

- Dịch vụ công có thể được thực hiện thông qua quan hệ hợp đồng dân sự (hợp đồng dịch vụ) giữa người cung cấp và người sử dụng dịch vụ;

- Do mang tính chất dịch vụ nên trong một chừng mực nhất định hoạt động dịch vụ công có thể hướng tới mục đích lợi nhuận;

- Đối tượng phục vụ có thể không bình đẳng hoàn toàn trong việc hưởng dịch vụ công vì có thể trong một số trường hợp có người dân có nhu cầu sử dụng, có người không có nhu cầu sử dụng, có người có điều kiện sử dụng và có người không, do vậy, người sử dụng có thể phải trả tiền.

Ngoài các hoạt động trên, có một hoạt động nữa cũng thường được nói tới đó là “dịch vụ hành chính công”, tuy nhiên, theo tác giả, dịch vụ hành chính công thực chất cũng là hoạt động công vụ vì nó gắn với yếu tố quyền lực nhà nước và pháp luật.

Tầm quan trọng của việc phân biệt trên đây còn là vấn đề xác định “xã hội hoá” hay không “xã hội hoá” một hoạt động của nhà nước, tức là chỉ có thể thực hiện “xã hội hoá” những hoạt động có tính chất của một dịch vụ công, đối với những hoạt động công vụ – dịch vụ hành chính công Nhà nước không thể chuyển giao cho cá nhân, tổ chức khác thực hiện. Đồng thời, sự phân biệt này cũng có ý nghĩa làm cơ sở để tiếp tục thực hiện việc tách các hoạt động có tính chất sự nghiệp ra khỏi các hoạt động có tính chất quản lý hành chính nhà nước thuần túy. Cuối cùng, nó còn có một ý nghĩa là nếu là công vụ thì một công dân bất kỳ có quyền đòi hỏi được nhà nước thực hiện nếu anh ta đã có đủ các điều kiện do pháp luật quy định, còn dịch vụ công thì không phải như vậy./.      

SOURCE: MOJ.GOV.VN

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: