TIẾP CẬN HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO TỪ GÓC ĐỘ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

LAN HƯƠNG

Khi gia nhập WTO, vấn đề tranh chấp thương mại liên quan đến việc thực thi nghĩa vụ pháp lý được quy định bởi các hiệp định của WTO là điều rất có thể xảy ra đối với bất kỳ một quốc gia thành viên nào. Việt Nam đang trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO và trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là điều rất cần thiết.

Hệ thống giải quyết tranh chấp đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ và thực thi các nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia thành viên được quy định trong các hiệp định của WTO. Đây là một phần quan trọng trong thực tế vận hành của tổ chức này. Hệ thống giải quyết tranh chấp cũng có tính bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên của WTO và việc chấp nhận quyền tài phán của hệ thống giải quyết tranh chấp đã được hàm chứa khi thành viên đó gia nhập WTO.

1. Khái quát các bước của quá trình giải quyết tranh chấp theo quy định của WTO:

Khi có tranh chấp nảy sinh, nước khiếu nại cần nêu vấn đề với nước bị khiếu nại và đề nghị tham vấn để tìm ra cách giải quyết. Đề nghị tham vấn phải được thông báo cho Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB). Trong vòng 10 ngày, cơ quan bị khiếu kiện phải trả lời đề nghị tham vấn và hai bên bắt đầu quá trình tham vấn trong khoảng thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày bên khiếu kiện nhận được đề nghị tham vấn. Nếu bên bị kiện không đáp ứng được thời hạn trên hoặc kết thúc tham vấn, mà hai bên không thoả thuận được, thì bên khiếu kiện có thể đề nghị DSB cho thành lập Ban Hội thẩm.

Ban Hội thẩm tiến hành các hoạt động xem xét, đánh giá, thẩm định một cách khách quan các tài liệu đệ trình, cũng như những trình bày của các bên tại các cuộc họp, đồng thời dự thảo Báo cáo mô tả để các bên đóng góp ý kiến. Báo cáo được tiếp tục hoàn chỉnh và các bên lại có cơ hội được đóng góp ý kiến trước khi Ban Hội thẩm đưa ra báo cáo cuối cùng gửi tới các bên và gửi DSB. Quá trình này diễn ra thông thường là 6 tháng kể từ ngày thành lập Ban Hội thẩm. DSB sẽ xem xét và thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm sớm nhất vào ngày thứ 20 và muộn nhất là sau 60 ngày kể từ ngày báo cáo được gửi, trừ khi có một bên tranh chấp thông báo chính thức cho DSB về quyết định kháng cáo của mình. Trong trường hợp có kháng cáo, báo cáo của Ban Hội thẩm sẽ được DSB xem xét thông qua chỉ sau khi hoàn thành việc phúc thẩm kháng cáo.

Sau khi có kháng cáo, DSB sẽ giao cho Cơ quan phúc thẩm xem xét lại báo cáo của Ban Hội thẩm. Việc xem xét này được tiến hành trong 60 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không được quá 90 ngày, sau đó Ban Hội thẩm phải đưa ra báo cáo của mình. Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc quy định ngược lại các ý kiến và kết luật của Ban Hội thẩm. Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được DSB xem xét thông qua trong vòng 30 ngày sau khi báo cáo được chuyển tới các thành viên.

Tại cuộc họp của DSB được tổ chức trong vòng 30 ngày sau ngày thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm hoặc cơ quan phúc thẩm, bên có nghĩa vụ phải thông báo cho DSB về các dự định của mình đối với việc thực hiện các khuyến nghị và phán quyết, việc thực thi có thể được quy định trong một khoảng thời gian hợp lý. Nếu việc thực hiện không đạt được sự tuân thủ hoàn toàn thì nước bị khiếu kiện có thể đề nghị bồi thường bằng một biện pháp khác.

Trường hợp các khuyến nghị và phán quyết không được thực hiện trong khoảng thời gian hợp lý, nước thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép tạm hoãn thi hành việc áp dụng đối với nước không thực hiện phán quyết những nhượng bộ hoặc nghĩa vụ khác tương ứng đối với nước vi phạm này (biện pháp trả đũa). Tuy nhiên, biện pháp trả đũa chỉ là tạm thời và chỉ được áp dụng cho tới khi bên thua kiện đã thực hiện những khuyến nghị hay phán quyết hoặc các bên đã thoả thuận được về một biện pháp giải quyết thoả đáng.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, bất cứ lúc nào, các bên cũng có thể sử dụng trung gian, hoà giải, môi giới để giải quyết tranh chấp.

2. Quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước thành viên là nước đang phát triển trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO

Thoả thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU) đề cập đến địa vị đặc biệt của các thành viên WTO là các nước đang phát triển. Trong các quy định này, đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các thành viên là nước đang phát triển không có nghĩa làm giảm nhẹ nghĩa vụ, làm tăng các quyền về nội dung hoặc cho phép thời gian ân hạn, mà là thuật ngữ mang tính thủ tục. Cụ thể là:

2.1. Trong tham vấn: Nếu tham vấn là biện pháp do một nước thành viên đang phát triển áp dụng thì các bên có thể đồng ý kéo dài thời hạn tham vấn thông thường. Nếu vào cuối giai đoạn tham vấn, các bên không thể đồng ý kết thúc tham vấn thì Chủ tịch DSB có thể kéo dài thời hạn tham vấn.

2.2. Giai đoạn xét xử của Ban Hội thẩm: Khi tranh chấp xảy ra giữa một nước thành viên đang phát triển với một nước thành viên phát triển, căn cứ vào yêu cầu của nước thành viên đang phát triển, Ban Hội thẩm phải có ít nhất một hội thẩm viên từ nước thành viên đang phát triển. Nếu bị đơn là nước thành viên đang phát triển, Ban Hội thẩm phải giành đủ thời gian cần thiết để thành viên này chuẩn bị và đệ trình lý lẽ bào chữa của mình.

2.3. Trong thực thi các quyết định của DSB: ở giai đoạn thực thi, DSB cho phép dành sự quan tâm đặc biệt đối với các vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích của các nước thành viên đang phát triển.

2.4. Hỗ trợ về mặt pháp lý: Ban Thư ký WTO có 1 chuyên gia chuyên trách và 2 tư vấn gia độc lập làm việc bán chuyên trách để thực hiện việc tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho các nước thành viên đang phát triển trên nguyên tác tôn trọng tính trung lập, khách quan, đồng thời Ban Thư ký cũng tiến hành việc tổ chức các khoá đào tạo đặc biệt về hệ thống giải quyết tranh chấp cho các nước thành viên.

3. Những ưu điểm của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO:

3.1. Bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên theo Hiệp định WTO:

Hệ thống giải quyết tranh chấp WTO là một hệ thống chặt chẽ và quan trọng đối với việc giải quyết mâu thuẫn trong thương mại quốc tế và làm dịu đi những bất bình đẳng giữa các quốc gia mạnh và yếu. Thay vì việc bên mạnh có đủ khả năng quyết định kết quả của các mối quan hệ, mâu thuẫn như trước kia, với hệ thống giải quyết tranh chấp WTO, các tranh chấp đã được giải quyết trên cơ sở các quy định pháp luật quốc tế. Nhờ cơ chế giải quyết tranh chấp này, các thành viên WTO có thể đảm bảo rằng, các quyền của mình theo Hiệp định WTO được thực hiện. Khi một thành viên có sự không tuân thủ theo Hiệp định WTO, hệ thống giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra cách giải quyết bằng một quyết định độc lập buộc phải thi hành ngay và nếu thành viên thua kiện không chịu thi hành thì sẽ có thể bị trừng phạt thương mại.

3.2. Giải quyết tranh chấp nhanh chóng:

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm các thủ tục tương đối cụ thể về cả các bước tiến hành cũng như thời gian tương ứng. Có thể nói, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động tương đối nhanh và hơn rất nhiều so với hệ thống giải quyết tranh chấp trong nước hoặc các hệ thống tài phán quốc tế khác.

3.3. Làm rõ các quyền và nghĩa vụ của mỗi quốc gia thành viên WTO:

Các quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên được quy định trong Hiệp định WTO thường mang tính bao trùm và có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nguyên nhân chính là do các hiệp định quốc tế này thường là kết quả của các vòng đàm phán đa phương. Hệ thống giải quyết tranh chấp có mục tiêu làm rõ các quy định của Hiệp định WTO phù hợp với những quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế ở mỗi tranh chấp cụ thể nhằm làm rõ các quyền và nghĩa vụ áp dụng cho các bên tranh chấp.

3.4. Đảm bảo sự an toàn và dự báo trước cho hệ thống thương mại đa phương:

Mục tiêu của hệ thống giải quyết tranh chấp là bảo đảm có một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy định pháp luật, tin cậy, hiệu quả và nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các điều khoản của Hiệp định WTO, thông qua đó làm hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và có khả năng dự đoán trước.

4. Những khó khăn đối với thành viên là nước đang phát triển khi tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp WTO:

Khó khăn lớn nhất khi áp dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO trong thương mại quốc tế đối với thành viên là nước đang phát triển chính là vấn đề tài chính. Trước tiên, khi tham gia vào vụ kiện, các nước phải trả chi phí tư pháp mà đối với nước đang phát triển thì đó là một khoản chi phí không nhỏ. Bên cạnh đó là những tổn thất về lợi ích kinh tế và thương mại mà các nước này phải gánh chịu trong suốt quá trình tranh chấp đang được giải quyết. Thậm chí, trong trường hợp nước đang phát triển là nguyên đơn thắng kiện thì cũng không nhận được bất kỳ khoản bồi thường nào cho những thiệt hại mà họ phải gánh chịu trong suốt thời gian bị đơn thực hiện phán quyết.

Các nước đang phát triển thường thiếu nguồn nhân lực với các kiến thức chuyên môn cụ thể về giải quyết tranh chấp của WTO, trong điều kiện đó, khi tham gia vào các vụ kiện, nước thành viên là nước đang phát triển thường phải thuê đại diện cho mình trong quá trình giải quyết tranh chấp và phải chịu tốn kém không nhỏ.

Cuối cùng, khi nước thành viên là nước đang phát triển thắng kiện, bên thua kiện không chịu thi hành phán quyết, phần nhiều trường hợp bên thắng kiện là nước đang phát triển không có khả năng thực tiễn để viện dẫn đến quyền được tạm dừng thực hiện nghĩa vụ và như vậy có nghĩa là biện pháp trả đũa mà hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO đưa ra không thể mang lại hiệu quả để buộc bên thua kiện phải thi hành nghĩa vụ theo pháp quyết mà DSB đã đưa ra.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP kì I tháng 7/2006 (trang 50)

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KỶ LUẬT SA THẢI TRONG CÁC VỤ ÁN LAO ĐỘNG

Luật gia THIỆN HOA

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động (PLTTGQCVALĐ) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1996 quy định thẩm quyền giải quyết của tòa án, trong đó xác định: Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (Mục a, khoản 1, Điều 11). Bộ luật lao động (BLLĐ) bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 cũng quy định các trường hợp xử lý kỷ luật sa thải trong Điều 85, bao gồm:

- Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp;

- Người lao động bị xử lý kỷ luật chuyển làm công việc khác mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật;

- Người lao động tự ý bỏ việc bảy ngày trong một tháng hoặc 20 ngày trong một năm mà không có lý do chính đáng.

Điều 87 BLLĐ cũng quy định rất rõ trình tự thủ tục xử lý vi phạm kỷ luật lao động và cũng được cụ thể hóa trong Điều 11 Nghị định số 41/CP ngày 6/7/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất. Có thể nói, những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp lao động phát sinh tại tòa án. Nhiều bản án có hiệu lực của các Tòa lao động đã được các bên đương sự tự nguyện thi hành. Tuy nhiên, sau hơn sáu năm thực hiện, thực tiễn xét xử các tranh chấp lao động, đặc biệt là về xử lý kỷ luật lao động đã đặt

ra những vấn đề cần phải nghiên cứu giải quyết, trong đó có vấn đề xử lý kỷ luật sa thải. Theo quy định, việc xử lý kỷ luật sa thải đối với người vi phạm kỷ luật lao động phải căn cứ vào mức độ lỗi của người vi phạm và theo đúng trình tự thủ tục xử lý, trong đó phải bảo đảm quyền của người lao động được tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Song trên thực tế, có trường hợp mức độ lỗi của người lao động xứng đáng bị xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải nhưng người sử dụng lao động do sơ suất nên việc xử lý có vi phạm về thủ tục như: không họp xét kỷ luật, không triệu tập người lao động khi họp xét kỷ luật hoặc có triệu tập nhưng không ghi rõ mục đích cuộc họp, người quyết định việc kỷ luật sa thải không đúng thẩm quyền…. Thực tiễn xét xử cho thấy, khi giải quyết các trường hợp này có tòa xử công nhận quyết định sa thải, có tòa lại xử hủy và buộc người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc và khôi phục mọi quyền lợi vật chất cho họ. Vụ án dưới đây là một ví dụ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ông Trần Ngọc Thắng làm việc trong ngành Hàng không từ năm 1984 đến năm 1991 chuyển sang Công ty Xăng dầu Hàng Không (XDHK). Ngày 01/7/1999, giữa ông và Công ty XDHK có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Đến tháng 4/2001, ông làm đơn xin nghỉ 1/2 phép năm 2001 và tiếp tục xin nghỉ không hưởng lương vì lý do chăm sóc mẹ bị bệnh. Việc xin nghỉ phép năm cũng như nghỉ không hưởng lương, ông có làm đơn gởi Văn phòng Công ty phía Nam nơi ông đang làm việc cũng như cho Tổng Công ty ngoài Bắc. Ông Thắng cho rằng việc ông nghỉ là có lý do chính đáng nên mặc dù Công ty không chấp thuận, ông vẫn tự ý nghỉ việc từ ngày 7/5/2001 đến ngày 20/7/2001. Khi tiến hành họp xử lý kỷ luật ông Thắng, Công ty đã gửi GIẤY MỜI lần 1 với nội dung “đúng 8 giờ ngày 11/7/2001 có mặt để lập biên bản về việc tự ý bỏ việc”. Ông Thắng không đến. Công ty tiếp tục gởi văn bản THÔNG BÁO với nội dung “đúng 14 giờ ngày 12/7/2001 phải có mặt để lập biên bản về việc tự ý bỏ việc”. Ông Thắng cũng không đến. Công ty lại gởi tiếp THÔNG BÁO lần 3 với nội dung như vậy và còn nhắc rất cụ thể: “Yêu cầu ông Thắng (đương sự) có mặt đúng giờ tại địa điểm trên, nếu không đến được hoặc thay đổi thời gian nói trên thì phải có lý do và báo cáo”. Song, ông Thắng vẫn không đến và cũng không nói rõ lý do gì cả. Sau ba lần mời và thông báo, Công ty mới lập Biên bản vào lúc 10 giờ ngày 16/7/2001 xác định rõ: “Cả ba lần thông báo ông Thắng đều không có mặt theo giấy báo mà ông Thắng đã nhận được, nhưng ông Thắng không báo lại lý do vắng mặt của ông Thắng”. Vì vậy, Giám đốc Công ty XDHK đã ra Quyết định số 182/XDHK-TCCB ngày 3/8/2001 quyết định kỷ luật ông Trần Ngọc Thắng với hình thức sa thải. Ông Thắng đã có đơn khởi kiện Công ty XDHK tại TAND quận Tân Bình với yêu cầu hủy Quyết định số 182 nói trên và khôi phục quyền lợi cho ông.

QUÁ TRÌNH XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN

Sau khi thụ lý đơn kiện của ông Thắng, TAND quận Tân Bình đã tiến hành điều tra, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, tiến hành hòa giải theo đúng quy định của Pháp lệnh TTGQCVALĐ và đưa ra xét xử công khai. Bản án số 01/LĐST ngày 27/12/2001 của TAND quận Tân Bình đã nhận định: Việc ông Thắng tự nghỉ liên tục từ 7/5/2001 – 20/7/2001 là vi phạm kỷ luật lao động… Qua ba lần thông báo đến lập biên bản tự ý bỏ việc ông Thắng đều không có mặt, mặc dù ông Thắng đã nhận được các thông báo này… Phía Công ty XDHK căn cứ vào Điều 85 BLLĐ, Điều 11  Chương II Nghị định 41/CP ngày 6/7/1995 của Chính phủ, đã thông báo hợp lệ ba lần có lập biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động với thành phần đầy đủ do pháp luật quy định. Phía Công ty XDHK đã làm đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật để thi hành hình thức kỷ luật “sa thải”. Việc xử lý kỷ luật của Công ty XDHK là có cơ sở và đúng pháp luật. Từ nhận định đó, Bản án sơ thẩm đã quyết định bác đơn khởi kiện của ông Trần Ngọc Thắng. Ông Thắng kháng cáo trong hạn luật định.

Bản án phúc thẩm số 46/LĐPT ngày 22/3/2002 của TAND TP. HCM nhận định: “Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai xác nhận của ông Trần Ngọc Thắng và của đại diện Công ty XDHK Việt Nam thì ông Trần Ngọc Thắng đã tự ý bỏ việc từ ngày 07/5/2001 đến ngày 20/7/2001 không được sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền “. Về lý do nghỉ việc của ông Thắng, bản án phúc thẩm nhận định: “Xét theo lời khai của ông Thắng ngày 21/2/2002 tại TAND TP. HCM thì cha mẹ ông Thắng có 05 người con, trong đó có hai người ở Hàm Tân, Bình Thuận và 01 người con Út ở chung với cha mẹ tại Hàm Tân, Bình Thuận. Còn cha mẹ vợ ông Thắng cũng có 05 người con, trong đó có 02 người con ở nước ngoài, còn 03 người con trong đó có vợ ông Thắng sống ở TP. HCM. Như vậy, việc chăm sóc cha mẹ không phải chỉ có một mình vợ ông Thắng nên không thể chấp nhận việc ông Thắng phải nghỉ để chăm sóc cha mẹ vợ là bất khả kháng. Theo Điều 79 BLLĐ thì người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương nên ông Thắng nghỉ không được sự chấp thuận của Công ty là có lỗi. Do đó, có cơ sở để xác định việc ông Thắng tự ý bỏ việc từ ngày 07/5/2001 – 20/7/2001 là vi phạm Điều 79; điểm c, khoản 1 Điều 85 BLLĐ… Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông Trần Ngọc Thắng thừa nhận việc ông Thắng tự ý nghỉ việc khi chưa được sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền của Công ty là cũng có lỗi nhưng cho rằng lý do ông Thắng nghỉ là chính đáng và chưa đến mức xử lý kỷ luật sa thải là không thể chấp nhận được”.

Tuy nhiên, bản án phúc thẩm đã cho rằng, phía Công ty XDHK đã không làm đúng thủ tục xử lý kỷ luật lao động vì cả ba lần mời ông Thắng chỉ là để “lập biên bản tự ý bỏ việc” chứ không phải mời “để xét xử lý kỷ luật lao động”.

Vì sai sót đó nên bản án đã quyết định “chấp nhận đơn kháng cáo của ông Thắng, xử hủy bản án sơ thẩm số 01 và giao toàn bộ hồ sơ vụ án về TAND quận Tân Bình để điều tra xét xử lại theo trình tự sơ thẩm theo hướng đã nhận định trên”.

Bản án sơ thẩm (lần 2) số 01/LĐST ngày 10/01/2003 của TAND quận Tân Bình cũng nhận định: “Việc chăm sóc cha mẹ không phải có một mình vợ chồng ông Thắng nên không thể chấp nhận việc ông Thắng phải nghỉ để chăm sóc cha mẹ vợ là bất khả kháng và theo Điều 79 BLLĐ, việc ông Thắng nghỉ không có sự chấp thuận của Công ty là có lỗi. Do đó, có cơ sở xác định việc ông Thắng tự ý bỏ việc từ ngày 07/5/2001 đến ngày 20/7/2001 là vi phạm Điều 79, điểm c khoản 1 Điều 85 BLLĐ và khoản 26.40 Điều 26 Nội quy Công ty XDHK Việt Nam”.

Về thủ tục, bản án cho rằng cả ba lần Công ty mời ông Thắng đến để “lập biên bản tự ý bỏ việc” chứ không phải mời “để xét xử lý kỷ luật lao động” là không đúng thủ tục quy định tại theo Điều 87 và Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995 của Chính phủ.

Từ nhận định đó, bản án sơ thẩm quyết định hủy Quyết định số 182/XDHK-TCCB ngày  3/08/2001 của Công ty XDHK về việc xử lý kỷ luật hình thức sa thải đối với ông Trần Ngọc Thắng; Buộc Công ty XDHK phải nhận ông Thắng trở lại làm việc ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và buộc Công ty có trách nhiệm thanh toán cho ông Thắng các khoản tiền thuộc quyền lợi của ông.

Công ty XDHK lại tiếp tục kháng cáo chờ xét xử phúc thẩm lần 2. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức “sa thải” trước hết phải căn cứ vào mức độ lỗi của người vi phạm. Đây là điều kiện về nội dung. Tiếp theo là điều kiện về thủ tục: việc xử lý phải bảo đảm đúng thủ tục để bảo đảm quyền tự bảo chữa của người vi phạm, tức là họ có quyền có mặt trong buổi họp xét kỷ luật với tư cách đương sự. Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo căn cứ cho việc xét xử lý kỷ luật được chặt chẽ, khách quan và công minh. Song, có thể nói, điều kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định hình thức kỷ luật thế nào vẫn phải là vấn đề lỗi của người vi phạm.

Trong vụ án trên, nếu lấy điều kiện thủ tục làm yếu tố quyết định để đánh giá tính hợp pháp và công bằng của quyết định sa thải thì một nghịch lý sẽ xảy ra: Người sử dụng lao động, do sơ suất nào đó về mặt thủ tục sẽ phải nhận lại người lao động mà sự vi phạm của họ đã khiến bản thân họ xứng đáng bị sa thải. Lấy gì đảm bảo sau khi được nhận lại, người vi phạm sẽ trở nên tốt hơn, tôn trọng người sử dụng lao động hơn khi chính mối quan hệ giữa họ đã bị rạn nứt qua quá trình tố tụng tại tòa án?

Đây là một vấn đề cần nghiên cứu để có giải pháp có hiệu quả hơn trong việc giải quyết các tranh chấp lao động. Nên chăng có thể cho phép Tòa án khi gặp phải các trường hợp này, có quyền hủy quyết định sa thải vi phạm thủ tục và giành (hoặc buộc) cơ quan ra quyết định sa thải phải làm lại thủ tục theo đúng quy định của pháp luật. Có như vậy mới bảo đảm sự công bằng trong giải quyết các tranh chấp lao động, đặc biệt là vấn đề kỷ luật sa thải.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2003

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH TẠI CHƯƠNG CÁC TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG BLHS NĂM 1999

TRỊNH TIẾN VIỆT -  Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Về MộT Số ĐIểM MớI SửA ĐổI, Bổ SUNG:

Trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói riêng, cũng như bảo vệ, giữ gìn, phát huy truyền thống và những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, dân chủ và hạnh phúc, Chương XV trong BLHS Việt Nam năm 1999 quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình đã có một số điểm mới sửa đổi, bổ sung so với BLHS năm 1985 cũng quy định về vấn đề này. Cụ thể như sau:

1. Điểm mới đầu tiên trong chương này là việc BLHS năm 1999 đã có sự điều chỉnh phạm vi bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình theo hướng thu hẹp lại – có nghĩa chương XV chỉ bao gồm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, còn các tội phạm đối với người chưa thành niên (đặc biệt là trẻ em) được chuyển sang các chương khác phù hợp hơn. Cụ thể, Tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em được chuyển sang Chương XII – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Điều 120); Tội dụ dỗ hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp được chuyển sang chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Điều 252) để phù hợp với yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm, về khách thể bị xâm hại, về đường lối xử lý đối với các hành vi phạm tội, cũng như đảm bảo sự hợp lý về kỹ thuật lập pháp và tính logíc của BLHS năm 1999.

2. Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình nói riêng, Chương XV – BLHS năm 1999 cũng đã bổ sung thêm hai tội danh mới, đó là Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149) và Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152). Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật được bổ sung vào BLHS năm 1999 với mục đích góp phần bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời đề cao trách nhiệm của những người làm công tác hộ tịch ở UBND xã, phường, thị trấn trong việc đăng ký kết hôn cho người xin đăng ký kết hôn cũng như xử lý những người vi phạm nghĩa vụ của mình. Tương tự như vậy, việc bổ sung Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng vào BLHS năm 1999 cũng có vai trò quan trọng nhằm đề cao, giáo dục các thành viên trong gia đình Việt Nam về các chuẩn mực, giá trị đạo đức. Bởi lẽ, thời gian vừa qua cho thấy đạo đức xã hội ở một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng xã hội đang bị xuống cấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến truyền thống đạo đức của gia đình và dân tộc Việt Nam. Mặt khác, việc bổ sung tội danh này còn phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình nước ta năm 1986 (và năm 2000) cũng đã quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong các gia đình1.

3. Ngoài việc bổ sung hai tội phạm mới, tại Chương XV – BLHS năm 1999 còn bổ sung, sửa đổi cấu thành một số tội phạm theo hướng hạn chế bớt khả năng xử lý hình sự đối với các loại tội này. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình – lĩnh vực riêng tư và đặc biệt, thì chủ yếu là áp dụng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và xử lý hành chính để giải quyết. Chỉ xử lý bằng biện pháp hình sự trong những trường hợp thật cần thiết khi mà các biện pháp giáo dục, phòng ngừa, xử lý hành chính không có hiệu quả và khả năng ngăn chặn. Trong chương XV này, một số tội phạm được sửa đổi, bổ sung bao gồm bốn tội: Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146); Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147); Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148) và Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151). Cụ thể các tội phạm đó được sửa đổi, bổ sung như sau:

a. Về Tội cưỡng ép hôn nhân hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146) thì về cơ bản vẫn được giữ nguyên như BLHS năm 1985, chỉ bổ sung thêm yếu tố định tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm nhằm thu hẹp phạm vi xử lý về hình sự đối với tội phạm này. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng và chống các tội xâm phạm hôn nhân và gia đình đó là chỉ khi xử lý bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và xử phạt hành chính không có tác dụng và hiệu quả, thì mới áp dụng biện pháp nghiêm khắc hơn – biện pháp hình sự.

b. Về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147) thì được bổ sung, sửa đổi theo hướng bổ sung thêm chủ thể của tội phạm này và các yếu tố định tội. Cụ thể, theo quy định trong BLHS năm 1985 thì chủ thể là người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Tuy nhiên, trong thực tế còn rất nhiều trường hợp người chưa có vợ, có chồng lại kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ, có chồng. Đây cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình – nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng 2, đồng thời nó còn phá hoại hạnh phúc gia đình của người khác mà vẫn chưa bị pháp luật nghiêm trị. Do vậy, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nói trên, Chương XV – BLHS năm 1999 quy định bổ sung thêm chủ thể của tội phạm là người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. Ngoài ra, Điều luật cũng bổ sung thêm hai yếu tố định tội mới nhằm hạn chế khả năng xử lý tràn lan về hình sự đối với tội phạm này. Đó là chỉ xử lý về hình sự nếu hành vi nói trên gây hậu quả nghiêm trọng thì mặc dù là vi phạm lần đầu hoặc cũng bị xử lý về hình sự nếu người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục vi phạm.

c. Về Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148) thì về cơ bản vẫn giữ nguyên cấu thành tội phạm như trong BLHS năm 1985 nhưng có bổ sung thêm một yếu tố định tội là đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm nhằm hạn chế phạm vi xử lý về hình sự đối với tội này. Tinh thần chung là giải quyết bằng các biện pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa hoặc các biện pháp tác động xã hội là chính. Chỉ trong trường hợp người phạm tội không chịu sửa chữa mà vẫn cố tình tiếp tục vi phạm thì mới xử lý hình sự.

d. Về Tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151) có bổ sung thêm đối tượng bị hành hạ, ngược đãi và các yếu tố định tội. Bởi lẽ, trong xã hội thực tế cho thấy còn xảy ra nhiều trường hợp hành hạ, đối xử ngược đãi không chỉ giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái, mà còn cả giữa những người thân thích khác trong gia đình như giữa cháu với ông bà, giữa cháu với cô, dì, chú, bác…, thậm chí có người còn ngược đãi, hành hạ, đối xử tệ bạc với chính người đã có công nuôi dưỡng mình. Đây là những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật, xâm phạm thô bạo đến đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục và đạo lý của gia đình truyền thống Việt Nam. Tuy nhiên, BLHS năm 1985 chỉ mới trừng trị hành vi của những người là cha mẹ, vợ chồng, con cái, còn hành vi của những người khác trong gia đình như đã nêu trên thì bị xử lý quy định tại Điều 111 BLHS năm 1985 trước đây về tội hành hạ người khác. Điều này chưa hợp lý vì cũng là một loại chủ thể phạm tội nhưng lại bị xử lý ở các chương, điều khác nhau về cùng một hành vi phạm tội. Vì vậy, BLHS năm 1999 đã có sửa đổi, bổ sung, cụ thể bổ sung thêm đối tượng bị ngược đãi, hành hạ là ông bà, cháu và người có công nuôi dưỡng người phạm tội; đồng thời bổ sung thêm các yếu tố định tội

gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

e. Về Tội loạn luân (Điều 150) vẫn giữ nguyên như trong BLHS năm 1985 do nó vẫn phù hợp với thực tiễn đấu tranh chống loại tội phạm này.

4. Về kỹ thuật lập pháp trong Chương này, khác với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 quy định hình phạt bổ sung ngay trong từng điều luật. Việc quy định như vậy đã tạo thuận lợi cho việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tránh việc bỏ quên không áp dụng hoặc áp dụng không chính xác hình phạt bổ sung đối với người phạm tội.

II. MộT Số VấN Đề CầN LƯU Ý KHI ÁP DụNG CÁC QUY ĐịNH TạI CHƯƠNG CÁC TộI XÂM PHạM CHế Độ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Để có sự thống nhất về nhận thức và áp dụng pháp luật trong công tác điều tra, truy tố và xét xử các hành vi phạm tội thuộc Chương XV – Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 25 tháng 09 năm 2001, hướng dẫn một số điểm trong Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Nội dung của Thông tư đã hướng dẫn cụ thể một số điểm như sau:

1. Thứ nhất, về tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” trong cấu thành tội phạm các Điều 146, 147, 148, 151 và 152 cần chú ý bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện chính hành vi đó (ví dụ: trước đó A bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn…) hoặc thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó (ví dụ: trước đó A bị xử phạt hành chính về hành vi cưỡng ép kết hôn, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ…). Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một năm kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện 3. Như vậy, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt hành chính.

2. Ngoài ra, trong Thông tư này cũng đã hướng dẫn cụ thể các quy định trong từng điều luật tại Chương này bằng việc giải thích các cụm từ, các biểu hiện của hành vi khách quan trong các cấu thành tội phạm, chủ thể của tội phạm, đối tượng bị xâm hại, điều kiện để một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đó v.v… Tuy nhiên, đối với từng tội phạm cụ thể trong Chương này, chúng ta cần lưu ý một số vấn đề sau:

a. Về hành vi dùng “thủ đoạn khác” trong Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146) cần được hiểu là buộc một bên hoặc cả hai bên đi xa nhằm chia rẽ họ, bắt cóc người không muốn lấy mình làm vợ hoặc làm chồng để buộc họ kết hôn trái ý muốn; một bên gia đình tiến hành dựng vợ, gả chồng cho người thân của mình với người khác trái ý muốn của người đó nhằm chia rẽ người thân đó với người mà họ tự nguyện kết hôn v.v…

b. Về hành vi “chung sống như vợ chồng” trong Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147) cần được hiểu là người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được minh chứng bằng việc có con chung, được xã hội và hàng xóm chung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó… Ngoài ra, cũng cần lưu ý là trong trường hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 147 BLHS mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS năm 1999.

c. Về Tội tảo hôn (Điều 148) thì điều kiện để một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đầy đủ các dấu hiệu sau đây:

- Người vi phạm cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn.

- Đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ đó.

- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

d. Về Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149) thì chủ thể là người có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn, cụ thể là:

- Người đại diện chính quyền hoặc người đại diện của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ta ở nước ngoài có thẩm quyền ký giấy chứng nhận kết hôn;

- Cán bộ hộ tịch làm thủ tục đăng ký kết hôn ở UBND xã, phường, thị trấn hoặc cán bộ của Sở Tư pháp đối với trường hợp đăng ký kết hôn có nhân tố nước ngoài;

- Cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn ở các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.

e. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội loạn luân (Điều 150) cần phải xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng vũ lực hoặc cưỡng ép và được thực hiện với người từ đủ 16 tuổi trở lên. Trong trường hợp tuy hành vi giao cấu giữa những người nói trên là thuận tình, nhưng nếu hành vi đó được thực hiện đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân mà phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em (điểm c khoản 2 Điều 115 BLHS năm 1999). Ngoài ra, trong trường hợp hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác, thì tùy trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm (điểm e khoản 2 Điều 111 BLHS năm 1999) hoặc tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS năm 1999). Nếu hành vi loạn luân kèm theo dấu hiệu quan hệ lệ thuộc khiến bên kia phải miễn cưỡng cho giao cấu, thì tùy trường hợp người thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm (điểm d khoản 2 Điều 113 BLHS năm 1999) hoặc tội cưỡng dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 114 BLHS năm 1999). Trong mọi trường hợp hành vi loạn luân được thực hiện đối với trẻ em dưới 13 tuổi, thì người thực hiện hành vi loạn luân phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em (điểm a khoản 2 Điều 112 BLHS năm 1999).

f. Về Tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151) thì một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có hành vi khách quan thuộc một trong hai trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất, người đó có hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng tức là làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe. Hậu quả thương tích hay tổn hại đến sức khỏe là do lỗi vô ý; nếu dẫn đến chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS năm 1999). Trong trường hợp gây thương tích, tổn hại sức khỏe hoặc chết người xảy ra do lỗi cố ý, thì tùy trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản tương ứng của Điều 104 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác (thương tích hoặc tổn hại sức khỏe từ 11% trở lên) hoặc về Tội giết người – Điều 93. Nếu làm cho nạn nhân bị uất ức mà tự sát, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội bức tử theo Điều 100 BLHS năm 1999.

- Trường hợp thứ hai, người đó có hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình mặc dù không gây hậu quả nghiêm trọng nhưng đã bị cơ quan Nhà nước hoặc cấp có thẩm quyền xử phạt hành chính về hành vi này 4 mà còn vi phạm, tức là vẫn tiếp tục ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình.

Ngoài ra, cũng cần lưu ý là, chỉ những trường hợp hành hạ, ngược đãi các đối tượng nêu trên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này. Nếu hành vi hành hạ, ngược đãi được thực hiện đối với người không thuộc những đối tượng nêu trên, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Hành hạ người khác” theo Điều 110 BLHS năm 1999. Trường hợp hành vi hành hạ, ngược đãi chỉ là thủ đoạn của tội “Cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cưỡng ép hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” theo quy định tại Điều 146 BLHS năm 1999.

g. Về chủ thể của Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 152) là người có nghĩa vụ, trách nhiệm cấp dưỡng cho người khác theo quy định của pháp luật (có thể là cha mẹ đối với con nhỏ, con đối với cha mẹ già yếu, giữa vợ và chồng sau khi ly hôn…) được quy định tại Chương VI Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, đồng thời người đó có khả năng về kinh tế (khả năng thực tế) để thực hiện công việc cấp dưỡng. Trên thực tế, phải chứng minh được rằng người được yêu cầu có đủ điều kiện thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng (dựa vào căn cứ nào đó như: tài sản hay mức thu nhập bình quân hàng tháng) mà họ cố ý từ chối hoặc trốn tránh thì mới phạm tội. Trong trường hợp mặc dù có yêu cầu cấp dưỡng và thực tế do không được cấp dưỡng nên đã xảy ra hậu quả nghiêm trọng nhưng lại cũng chứng minh được rằng bản thân người được yêu cầu hoàn toàn không có khả năng thực hiện được nghĩa vụ này (ví dụ bản thân họ cũng không kiếm ra tiền để đủ nuôi sống mình) thì họ cũng không phạm tội v.v…

Mặt khác, cần phân biệt tội phạm này với Tội không chấp hành án (Điều 304). Theo đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm này cần lưu ý nếu đã có bản án, quyết định của Tòa án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người đó vẫn cố tình không chấp hành, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS năm 1999 về Tội không chấp hành án.

III. MộT Số KếT LUậN VÀ Đề XUấT NHằM HOÀN THIệN CHƯƠNG CÁC TộI XÂM PHạM CHế Độ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG BLHS NĂM 1999:

1. Như vậy, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999 đã và đang góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình mới, dân chủ, bình đẳng, tiến bộ, đồng thời xây dựng các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, xử lý kịp thời, công minh các hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

2. Một số sửa đổi, bổ sung tại Chương XV – Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999 đã đánh dấu sự hoàn thiện của pháp luật trong việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình mới, tiến bộ, dân chủ và bình đẳng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, một khi trong xã hội những phong tục lạc hậu chưa được xóa bỏ triệt để, những luồng tư tưởng ngoại nhập vẫn tràn lan, sự suy đồi, xuống cấp đạo đức của một bộ phận trong xã hội, thì các vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình vẫn còn tiếp tục xảy ra. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình thuộc nhóm tội phạm mà tính nguy hiểm cho xã hội không cao nhưng dưới góc độ đạo đức xã hội thì chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống hôn nhân và gia đình. Cụ thể trong nhiều trường hợp việc xử lý bằng các chế tài pháp lý khác chưa đủ sức ngăn chặn và phòng ngừa nên trong những trường hợp mà người phạm tội gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm thì cần thiết phải xử lý bằng biện pháp hình sự. Chính vì thế, để phòng chống, ngăn chặn và xử lý kịp thời đối với loại tội phạm này đạt hiệu quả cần tiến hành đồng bộ với nhiều biện pháp hành chính, dân sự và trong một số trường hợp cần thiết phải áp dụng pháp luật hình sự. Mặt khác, việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng cần được triển khai rộng khắp, liên tục, đồng bộ và trên tất cả mọi vùng, mọi miền của đất nước.

3. Bên cạnh đó, để áp dụng đúng đắn và thống nhất các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của BLHS Việt Nam năm 1999, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP- BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng các quy định cụ thể từng điều luật tại Chương này. Ngoài ra, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21-11-2001 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nhằm mục đích giáo dục cá nhân vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện sửa chữa, thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Như vậy, cùng với việc hoàn thiện Chương XV – Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999, văn bản hướng dẫn và văn bản xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này đã hình thành một hệ thống văn bản hoàn thiện giúp cho Tòa án và các cơ quan bảo vệ pháp luật có thể áp dụng đồng bộ, thống nhất trong thực tiễn.

4. Qua nghiên cứu Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong BLHS năm 1999 hiện hành, chúng tôi có một số kiến nghị cần bổ sung thêm các đối tượng bị ngược đãi, hành hạ là anh, chị, em của người phạm tội vào tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng (Điều 151). Bởi lẽ, cả BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 mới chỉ trừng trị hành vi của những người là cha mẹ, vợ chồng, con cái, ông bà, cháu và người có công nuôi dưỡng người phạm tội, còn đối với những người khác trong gia đình thì bị xử lý theo quy định tại Điều 110 BLHS năm 1999 (Điều 111 BLHS năm 1985 trước đây) về tội hành hạ người khác. Đây là điều chưa hợp lý vì cùng một loại chủ thể phạm tội, có cùng hình thức thực hiện hành vi phạm tội và cùng xâm hại đến một loại đối tượng có mối quan hệ hôn nhân và gia đình thì cần phải bị xử lý như nhau tại cùng một Điều luật với cùng một tội danh, không nên xử lý một hành vi theo các Chương, Điều khác nhau. Mặt khác, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 cũng đã quy định nghĩa vụ và quyền của anh, chị, em trong trường hợp không còn cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con

5, cũng như quy định về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cha mẹ, không xác định được cha mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ đều bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự và hàng thừa kế thứ hai theo pháp luật trong đó có đối tượng là anh ruột, chị ruột và em ruột của người chết

6. Như vậy, mối quan hệ giữa anh chị em ruột là mối quan hệ thân thiết, gần gũi và gắn bó trong gia đình. Việc vi phạm nghĩa vụ đạo lý này nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc không gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì theo chúng tôi cần thiết phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cùng một tội danh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem cụ thể hơn: Chương VI Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 50 đến Điều 62).

2 Xem: Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

3 Xem: Điều 3 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21-11-2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

4 Xem: Điều 11 Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21-11-2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

5 Xem cụ thể hơn: Điều 48 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

6 Xem: Khoản 1 Điều 70 và điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2003

PHÁP LUẬT VỠ NỢ CỦA CHLB ĐỨC – MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN

TS. PHAN HUY HỒNG -   Khoa Luật Thương mại – ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

Bài viết này nối tiếp bài “Lịch sử và cải cách pháp luật vỡ nợ của CHLB Đức” đã đăng trên tạp chí KHPL số 4/2004. Các ghi chú trong ngoặc về điều khoản luật mà không ghi tên luật đều là của Luật vỡ nợ.

I. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

So với luật cũ, luật cải cách đã mở rộng đáng kể phạm vi đối tượng áp dụng thủ tục vỡ nợ (Điều 11).

1. Trước hết có thể mở thủ tục vỡ nợ (sau đây: TTVN) đối với mọi cá nhân và pháp nhân. Trong chừng mực đó hiệp hội không đăng ký (không phải là pháp nhân) được xem như pháp nhân. Pháp nhân ở đây được hiểu là pháp nhân của tư luật, phổ biến nhất chính là các hiệp hội đăng ký, các công ty đối vốn và loại hình công ty kết hợp đối nhân và đối vốn như Công ty hợp vốn bằng cổ phần (Điều 278 Luật công ty cổ phần). Đối với các cá nhân hành nghề độc lập với quy mô đáng kể thì được áp dụng TTVN chung. Đối với các cá nhân không hành nghề độc lập hoặc hành nghề độc lập với quy mô không đáng kể thì áp dụng TTVN đối với người tiêu dùng là một thủ tục rút gọn (Điều 304). Mọi cá nhân, như vậy là kể cả thành viên chịu trách nhiệm vô hạn của các công ty đối nhân, có thể đặt đơn trong TTVN yêu cầu được giải phóng khỏi các khoản nợ còn lại dưới các điều kiện quy định tại các Điều 287-303.

2. Ngoài ra TTVN có thể được mở đối với tài sản của một công ty không có tư cách pháp nhân như “Công ty thương mại mở”1, “công ty hợp vốn”2, “công ty bạn hữu”3, “công ty dân sự”4, “công ty tàu thủy”5 và “Hiệp hội quyền lợi kinh tế châu Âu” là loại hình công ty trên cơ sở luật của EU6. Quy định này thể hiện một điểm mới của luật cải cách là sự công nhận khả năng vỡ nợ của công ty dân sự theo Bộ luật dân sự (BLDS).

3. TTVN còn có thể được mở đối với tài sản thừa kế, đối với tài sản chung của vợ chồng được xác lập trên cơ sở hợp đồng hôn nhân (các Điều 1415-1482 BLDS), đối với tài sản chung của vợ chồng được xác lập trên cơ sở hợp đồng hôn nhân sau khi vợ hoặc chồng chết (các Điều 1483-1518 BLDS).

4. Sau khi giải thể, một pháp nhân hoặc một công ty không có tư cách pháp nhân vẫn được phép mở TTVN, chừng nào việc phân chia tài sản chưa thực hiện.

5. Không được phép mở TTVN đối với tài sản của Liên bang hay tài sản của một tiểu bang. Được phép mở TTVN đối với tài sản của một pháp nhân công luật chịu sự giám sát của một tiểu bang, trừ phi bang đó quy định khác đi (Điều 12).

Như vậy chúng ta thấy rằng luật cải cách đã mở rộng đối tượng áp dụng thủ tục đến tất cả các chủ thể của tư luật. TTVN cũng áp dụng đối với một số chủ thể của công luật.

II. CƠ QUAN GIẢI QUYẾT

1. Cơ quan giải quyết TTVN là Sở tòa (Amtsgericht), là tòa án cấp cơ sở trong hệ thống tòa dân sự và hình sự gồm bốn cấp7 (Điều 2).

2. Tòa án có thẩm quyền chức năng là Sở tòa mà trên khu vực thẩm quyền của nó một Phủ tòa có trụ sở. Sở tòa này có thẩm quyền đối với toàn bộ khu vực thẩm quyền của Phủ tòa. Chính phủ các tiểu bang được ủy quyền, thông qua việc ban hành nghị định, quy định một Sở tòa khác hoặc bổ sung thêm các Sở tòa khác làm tòa án vỡ nợ hoặc quy định khu vực thẩm quyền khác đi nhằm đảm bảo giải quyết nhanh chóng hơn các TTVN.

3. Tòa án có thẩm quyền lãnh thổ duy nhất là tòa án nơi con nợ chịu bị khởi kiện. Nơi con nợ chịu bị khởi kiện được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Trường hợp trọng tâm hoạt động kinh tế độc lập của con nợ ở nơi khác với nơi con nợ chịu bị khởi kiện thì tòa án vỡ nợ duy nhất có thẩm quyền là tòa án nơi khác đó. Trường hợp nhiều tòa án có thẩm quyền lãnh thổ theo quy định trên thì tòa án nơi mà đơn mở TTVN được đặt trước loại trừ thẩm quyền của (các) tòa án khác (Điều 3).

III. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ ĐẶT ĐƠN

Đối với các quan hệ dân sự thì về nguyên tắc tòa án chỉ hành động khi có yêu cầu giải quyết của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đó. Trong các quan hệ dân sự thông thường thì đấy là sự thể hiện quyền tự quyết của các chủ thể bình đẳng với nhau. Cũng chính bởi vậy mà nguyên tắc tranh tụng trở thành nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt thủ tục tố tụng dân sự8. Nhưng hệ thống pháp luật vỡ nợ không chỉ nhằm giải quyết các mối quan hệ đã được xác lập giữa chủ nợ và con nợ. Sự tồn tại và phát triển hay sự lụn bại của một doanh nghiệp còn là cơ hội hay nguy cơ đối với sự xác lập các mối quan hệ pháp luật mới. Ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài phạm vi cá nhân. Và như vậy việc đặt đơn mở TTVN không chỉ còn là quyền tự quyết của các chủ thể của các quan hệ đã được xác lập. TTVN cần dược tiến hành còn là để bảo vệ lợi ích công cộng. Điều đó một mặt thể hiện ở nguyên tắc điều tra trong TTVN, mặt khác là ở các quy định về nghĩa vụ đặt đơn mở TTVN.

1. Quyền đặt đơn mở TTVN thuộc về các chủ nợ và con nợ (Điều 13). Đơn có thể được rút lại cho đến trước khi tòa án quyết định mở TTVN hoặc đến trước khi quyết định bác đơn có hiệu lực pháp luật. Việc rút đơn được xem như chưa khởi kiện vụ án và như vậy có thể đặt đơn lại (Điều 269 BLTTDS).

1.1. Đối với việc mở TTVN đối với tài sản của pháp nhân hoặc của công ty không có tư cách pháp nhân thì ngoài các chủ nợ, mỗi thành viên của cơ quan đại diện của pháp nhân hoặc công ty không có tư cách pháp nhân, ở công ty không có tư cách pháp nhân hoặc công ty hợp vốn bằng cổ phần thì cả từng thành viên chịu trách nhiệm vô hạn cũng như từng người điều hành việc giải thể công ty đều có quyền đặt đơn (khoản 1 Điều 15).

1.2. Trường hợp một công ty không có tư cách pháp nhân không có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nào là cá nhân, thì các thành viên của cơ quan đại diện của công ty là thành viên có quyền đại diện của công ty vỡ nợ có quyền đặt đơn mở TTVN. Nguyên tắc này tiếp tục được áp dụng chừng nào mối liên hệ kiểu này còn tiếp tục (khoản 3 Điều 15).

1.3. Đơn của chủ nợ chỉ hợp lệ, nếu chủ nợ có một lợi ích hợp pháp đối với việc mở TTVN và trình bày có căn cứ quyền đòi nợ của mình cũng như việc điều kiện mở TTVN đã xảy ra9.

1.4. Ngoài chủ nợ và con nợ, khác với một số quốc gia khác, pháp luật vỡ nợ của CHLB Đức không quy định chủ thể nào khác có quyền đặt đơn mở TTVN. Việc cần phải được mở TTVN đối với con nợ được xem là có thể đảm bảo bởi quy định về nghĩa vụ đặt đơn của con nợ.

2. Nghĩa vụ đặt đơn mở TTVN chỉ áp dụng đối với pháp nhân và các công ty không có tư cách pháp nhân. Nghĩa vụ này không được quy định tập trung trong Luật vỡ nợ, mà được quy định trong các luật áp dụng cho các pháp nhân và công ty đó.

2.1. Đối với công ty là pháp nhân thì những người có nghĩa vụ đặt đơn mở TTVN là các thành viên của cơ quan đại diện của công ty. Đối với Công ty hợp vốn bằng cổ phần thì ngoài thành viên của ban điều hành, (các) thành viên chịu trách nhiệm vô hạn cũng có nghĩa vụ đặt đơn mở thủ tục vỡ nợ10.

2.2. Đối với các công ty đối nhân như “Công ty thương mại mở” hay “Công ty hợp vốn” thì nghĩa vụ đặt đơn chỉ được quy định đối với những công ty không có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nào là cá nhân. Nghĩa vụ này không áp dụng đối với trường hợp bản thân thành viên chịu trách nhiệm vô hạn duy nhất lại là một công ty hợp danh hoặc công ty hợp vốn đơn giản mà thành viên chịu trách nhiệm vô hạn của công ty đó là một cá nhân. Ở các loại hình công ty có nghĩa vụ đặt đơn này thì người có nghĩa vụ đặt đơn là những thành viên của cơ quan đại diện của các thành viên có quyền đại diện công ty (Điều 130a BLTM).

2.3. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ đặt đơn cũng được quy định trong pháp luật công ty. Đấy là trách nhiệm cá nhân của người có nghĩa vụ đặt đơn. Luật vỡ nợ chỉ quy định trách nhiệm của người có nghĩa vụ đặt đơn phải hoàn trả khoản phí tổn tố tụng cho chủ nợ là người ứng trả trước để đặt đơn mở TTVN khi người có nghĩa vụ không đặt đơn (khoản 3 Điều 26). Ngoài ra việc vi phạm nghĩa vụ đặt đơn cũng còn bị đe dọa bởi trách nhiệm hình sự với hình phạt tiền hoặc phạt tù đến 3 năm, trường hợp vô ý có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 1 năm11. Việc vi phạm nghĩa vụ đặt đơn cũng còn là một trong những yếu tố cấu thành tội phạm của một số tội danh thuộc nhóm “tội phá sản” được quy định trong Bộ luật hình sự.

IV. KHÁI NIỆM VỠ NỢ

Luật vỡ nợ không định nghĩa trực tiếp khái niệm vỡ nợ. Mà nó quy định rằng chỉ được mở TTVN nếu tồn tại một căn cứ cho việc mở thủ tục đó (Điều 16). Luật này đưa ra ba căn cứ để mở TTVN là con nợ mất khả năng thanh toán (Điều 17), bị đe dọa mất khả năng thanh toán (Điều 18) hoặc nợ của con nợ lớn hơn tài sản của nó (Điều 19).

1. Mất khả năng thanh toán là căn cứ chung để mở TTVN. Con nợ mất khả năng thanh toán nếu không còn khả năng thực hiện trách nhiệm thanh toán các khoản nợ đến hạn. Được phép suy đoán là con nợ mất khả năng thanh toán, nếu nó ngừng thanh toán. Như vậy sự ngừng thanh toán nợ không phải là một căn cứ độc lập để mở TTVN. Con nợ có thể chứng minh điều ngược lại để có thể dẫn đến việc tòa án bác đơn yêu cầu của chủ nợ.

2. Một trong những trọng tâm của cải cách pháp luật vỡ nợ là đưa ra các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự khánh kiệt tài sản của con nợ, giảm thiểu nguy cơ TTVN đã được mở lại phải đình chỉ vì không có tài sản phân chia. Bởi vậy Luật vỡ nợ đã đưa ra một căn cứ mới để mở TTVN là con nợ bị đe dọa mất khả năng thanh toán. Điều đó xảy ra, nếu theo dự đoán thì con nợ sẽ không còn có khả năng thực hiện được nghĩa vụ thanh toán của mình vào thời điểm đến hạn. Việc thanh toán bị ngưng trệ với tính chất tạm thời không được xem là mất khả năng thanh toán. Như vậy ở đây việc xác định sự mất khả năng thanh toán có một yếu tố dự báo. Để tránh sự lạm dụng căn cứ này, luật quy định chỉ áp dụng căn cứ này trong trường hợp con nợ đặt đơn mở TTVN12. Chủ nợ không được sử dụng căn cứ này. Theo pháp luật công ty con nợ có quyền, nhưng không có nghĩa vụ phải đặt đơn mở TTVN bởi căn cứ này.

3. Một căn cứ tiếp theo để mở TTVN là tình trạng nợ của con nợ lớn hơn tài sản. Tuy nhiên căn cứ này chỉ áp dụng đối với con nợ là pháp nhân và công ty không có tư cách pháp nhân, nếu công ty này không có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nào là cá nhân, mà là pháp nhân hoặc một công ty không có tư cách pháp nhân, nhưng công ty thành viên này cũng không có thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nào là cá nhân.

Tình trạng nợ lớn hơn tài sản xảy ra, nếu toàn bộ giá trị tài sản của con nợ nhỏ hơn tổng số nợ. Tuy nhiên việc định giá trị tài sản không dựa trên giá trị thanh lý, mà phải dựa trên giá trị của doanh nghiệp trong điều kiện tiếp tục hoạt động, nếu căn cứ vào các điều kiện cụ thể thì rất có khả năng doanh nghiệp tiếp tục hoạt động được. Điều đó có nghĩa là trong bước đầu tiên tòa án phải xem xét xem nợ của con nợ có lớn hơn giá trị thanh lý của tài sản hay không. Nếu điều đó không xảy ra thì tòa án bác đơn mở TTVN. Trường hợp xác định rằng nợ của con nợ lớn hơn giá trị thanh lý của tài sản thì tòa án phải tiếp tục xem xét khả năng doanh nghiệp có tiếp tục hoạt động được hay không. Nếu khả năng doanh nghiệp tiếp tục được hoạt động là không có, thì tòa án mở TTVN. Nếu căn cứ vào các điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp có khả năng tiếp tục hoạt động được thì tòa án tiến hành xác định giá trị tài sản theo trị giá doanh nghiệp trong điều kiện tiếp tục hoạt động đó, xem giá trị này có nhỏ hơn tổng số nợ hay không.

Theo pháp luật công ty, pháp nhân cũng có nghĩa vụ đặt đơn mở TTVN khi căn cứ này xảy ra.

V. MỞ THỦ TỤC VỠ NỢ VÀ HẬU QUẢ

1. Trường hợp chủ nợ đặt đơn, mà đơn đó hợp lệ, thì tòa án phải thẩm vấn con nợ trước khi ra nghị quyết mở TTVN (Điều 14). Tòa án ra quyết định mở TTVN khi căn cứ mở thủ tục đó xảy ra (Điều 16). Khi quyết định mở TTVN tòa án bổ nhiệm một “người quản lý vỡ nợ” (sau đây: “người QLVN”), trừ trường hợp quyết định để con nợ tự quản lý hay trường hợp mở TTVN đối với người tiêu dùng (khoản 1 Điều 27). Tòa án quyết định dưới hình thức nghị quyết. Trong đó tòa phải yêu cầu các chủ nợ gửi các yêu cầu của mình trong thời hạn do tòa án quy định đến cho người QLVN (khoản 2 Điều 28). Thời hạn này tối thiểu là hai tuần và tối đa là ba tháng, kể từ thời điểm nghị quyết được công bố theo các quy định về công bố (các Điều 9 và 30), mặc dù nghị quyết này phải được tống đạt cho từng chủ nợ (khoản 2 Điều 30). Trong nghị quyết tòa còn phải yêu cầu các chủ nợ thông báo không chậm trễ cho người QLVN rằng họ đòi hỏi những quyền đảm bảo nào đối với các động sản và quyền tài sản của con nợ. Các chủ nợ phải nêu đích danh tài sản được dùng để đảm bảo, hình thức và lý do xác lập quyền được đảm bảo cũng như trị giá yêu cầu được đảm bảo. Chủ nợ chịu trách nhiệm cho việc vi phạm một cách có lỗi nghĩa vụ thông báo này (khoản 2 Điều 28). Tòa án cũng còn phải yêu cầu những người có nghĩa vụ đối với con nợ không thực hiện nghĩa vụ đối với con nợ nữa mà đối với người QLVN. Cũng trong nghị quyết tòa án định lịch cho một phiên họp của Hội nghị chủ nợ, mà trong đó trên cơ sở một báo cáo của người QLVN, Hội nghị chủ nợ sẽ quyết định về tiến trình của TTVN. Phiên họp này gọi là “phiên báo cáo”, nó cần được tiến hành sau không quá 6 tuần và không được phép tiến hành sau quá 3 tháng. Ngoài ra, trong nghị quyết này tòa án cũng đồng thời định lịch cho một phiên họp của Hội nghị chủ nợ để xem xét các yêu cầu của họ. Phiên họp này gọi là “phiên xem xét”. Khoảng thời gian từ khi kết thúc thời hạn gửi yêu cầu đến khi tiến hành phiên xem xét tối thiểu phải là 1 tuần và tối đa không quá 2 tháng. Tòa án cũng có thể gộp hai phiên họp này thành một (Điều 29).

2. Tòa án có thể bác đơn yêu cầu bởi vì một trong các căn cứ mở TTVN đã không xảy ra hoặc khi có khả năng tài sản của con nợ sẽ không đủ để thanh toán phí tổn tố tụng (Điều 26). Tuy nhiên khi trường hợp này xảy ra, tòa án vẫn có thể ra nghị quyết mở TTVN thay vì ra nghị quyết bác đơn, nếu chủ nợ ứng trả trước một khoản tiền tương ứng để trang trải phí tổn tố tụng hoặc trong trường hợp con nợ là một cá nhân và người đó đặt đơn xin giải phóng khỏi các món nợ còn lại và tòa án cho hoãn nghĩa vụ trả phí tổn tố tụng cho đến thời điểm quyết định cho giải phóng khỏi các khoản nợ còn lại (Điều 4a, Điều 26).

Trường hợp ra nghị quyết bác đơn bởi lý do có khả năng tài sản của con nợ sẽ không đủ để thanh toán phí tổn tố tụng, Tòa án tiến hành ghi tên con nợ vào Danh mục con nợ theo các quy định của BLTTDS. Thời hạn xóa tên trong danh mục này là 5 năm (khoản 2 Điều 26). Nếu con nợ có đăng ký trong Danh mục thương mại, Danh mục hợp tác xã, Danh mục công ty hợp danh hoặc Danh mục hiệp hội thì tòa án vỡ nợ phải chuyển đến cho tòa án đăng ký một bản Nghị quyết bác đơn mở TTVN, nếu con nợ là một pháp nhân hoặc một công ty không có tư cách pháp nhân. Trường hợp con nợ là pháp nhân hoặc là công ty không có tư cách pháp nhân thì nó phải tiến hành giải thể khi nghị quyết bác đơn mở TTVN có hiệu lực (Điều 31).

Người đặt đơn có quyền kháng nghị nếu quyết định bác đơn dựa trên lý do rằng căn cứ để mở TTVN không xảy ra; con nợ có quyền kháng nghị nếu quyết định bác đơn dựa trên lý do con nợ không đủ tài sản để thanh toán phí tổn tố tụng (Điều 34).

3. Việc mở TTVN đối với Công ty thương mại mở, Công ty hợp vốn đơn giản, Công

ty dân sự, đối với tài sản của một thành viên công ty dân sự hoặc đối với pháp nhân dẫn đến hậu quả là các công ty và pháp nhân này rơi vào tình thế pháp lý của sự giải thể13. Việc giải thể công ty thực hiện trong TTVN đó, trừ việc giải thể một công ty dân sự khi mở TTVN đối với tài sản của một thành viên công ty này. Việc giải thể công ty dân sự trong trường hợp này thực hiện ngoài phạm vi TTVN đối với tài sản của thành viên công ty (Điều 84). Công ty bị giải thể khi hoàn tất việc thanh lý tài sản. Tuy nhiên nếu TTVN bị đình chỉ trong khi đang tiến hành bởi con nợ không đủ hoặc chỉ đủ tài sản để thanh toán phí tổn tố tụng, thì công ty vẫn tiếp tục phải thực hiện thủ tục giải thể.

Với nghị quyết mở thủ tục vỡ nợ thì quyền quản lý và định đoạt của con nợ đối với tài sản vỡ nợ chuyển sang người QLVN (khoản 1 Điều 80). Một sự cấm con nợ hoặc quyết định của tòa án hoặc một cơ quan nhà nước cấm con nợ không được định đoạt theo các quy định tại Điều 135, 136 BLDS mất hiệu lực khi mở TTVN, nếu sự cấm hoặc quyết định đó chỉ nhằm để bảo vệ một số người nhất định nào đó. Tuy nhiên các quy định về hiệu lực của sự tịch biên tài sản để thi hành án hoặc tịch thu tài sản trong thủ tục cưỡng chế thi hành án không bị ảnh hưởng bởi việc mở TTVN (khoản 2 Điều 80). Mọi định đoạt của con nợ đối với tài sản thuộc tài sản vỡ nợ sau khi mở TTVN đều vô hiệu. Tuy nhiên Luật vỡ nợ cũng viện dẫn một số ngoại lệ được quy định trong một số luật khác14. Hậu quả của định đoạt vô hiệu là người QLVN phải trả lại cho phía bên kia khoản mà người này thực hiện đáp trả, nếu qua đó mà tài sản vỡ nợ được lợi thêm. Các định đoạt của con nợ về các khoản tiền lương hoặc tiền hưu trí trong tương lai cũng vô hiệu, trong chừng mực các định đoạt đó liên quan đến các khoản lương hưu hoặc tiền hưu trí cho thời gian sau khi kết thúc TTVN (Điều 81). Quy định này nhằm đảm bảo con nợ có thể nhượng quyền đòi hỏi các khoản tiền lương hoặc hưu trí đó cho người được ủy quyền quản lý để nhằm thanh toán nợ cho các chủ nợ trong thủ tục giải phóng con nợ khỏi các khoản nợ còn lại. Nếu sau khi mở TTVN mà một con nợ của con nợ thực hiện một nghĩa vụ đối với con nợ, mặc dù nghĩa vụ đó lúc này phải thực hiện đối với người QLVN, thì con nợ của con nợ đó chỉ được giải phóng khỏi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ, nếu vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ, người đó không biết việc mở TTVN. Nếu người này thực hiện nghĩa vụ trước khi công bố nghị quyết mở TTVN thì được suy đoán rằng người này không biết TTVN đã được mở (Điều 82). Nếu con nợ là người thừa kế mà thời điểm mở thừa kế xảy ra trước khi mở TTVN hoặc trong quá trình tiến hành TTVN, thì chỉ có con

nợ này có quyền nhận hay từ chối nhận di sản (Điều 83), chứ không phải là người QLVN. Nếu giữa con nợ và người thứ ba tồn tại một cộng đồng sở hữu chung hoặc một công ty dân sự, thì khi mở TTVN đối với con nợ, cộng đồng sở hữu đó hoặc công ty dân sự đó bị giải thể15. Những người có quyền yêu cầu xuất phát từ quan hệ sở hữu chung hoặc công ty đó có quyền yêu cầu được thanh toán trước từ phần quyền được xác định qua việc phân chia hoặc giải thể đó của con nợ (Điều 84). Một thỏa thuận mà qua đó quyền yêu cầu giải thể cộng đồng sở hữu chung bị loại bỏ hoàn toàn hoặc trong một khoảng thời gian nhất định hoặc yêu cầu giải thể chỉ có hiệu lực sau một thời hạn nhất định, đều mất hiệu lực khi mở TTVN. Người QLVN có thể tiếp nhận quyền và nghĩa vụ tố tụng đối với các tranh chấp về tài sản thuộc về tài sản vỡ nợ do con nợ khởi kiện mà chưa kết thúc vào thời điểm mở TTVN (khoản 1 Điều 85). Nếu người QLVN chậm trễ trong việc đó thì đối phương có quyền yêu cầu tòa án buộc người đó tiếp tục thực hiện tố tụng (khoản 1 Điều 85, khoản 2-4 Điều 239 BLTTDS). Nếu người QLVN từ chối tiếp nhận vụ kiện thì cả con nợ lẫn đối phương đều có thể tiếp tục vụ kiện (khoản 2 Điều 85). Còn các tranh chấp mà trong đó con nợ bị kiện và vụ kiện còn tiếp tục vào thời điểm mở TTVN thì có thể được người QLVN lẫn đối phương tiếp tục tiến hành, nếu các tranh chấp đó liên quan đến việc tách một tài sản ra khỏi khối tài sản vỡ nợ, đến quyền ưu tiên thanh toán trước hay liên quan đến các khoản nợ của tài sản vỡ nợ (là các khoản nợ được xác lập sau khi đặt đơn mở TTVN). Trường hợp người QLVN lập tức công nhận các yêu cầu này, thì đối phương chỉ có quyền yêu cầu thanh toán phí tổn tố tụng với tư cách là chủ nợ trong TTVN (Điều 86). Còn nếu một chủ nợ thông qua thủ tục cưỡng chế thi hành án mà có được một bảo đảm từ tài sản của con nợ thuộc về tài sản vỡ nợ trong thời gian một tháng trước khi đặt đơn mở TTVN hoặc sau đó, thì khi mở TTVN bảo đảm này mất hiệu lực (Điều 88).

Trong toàn bộ thời gian tiến hành TTVN không được phép cưỡng chế thi hành án cho các chủ nợ vỡ nợ vào khối tài sản vỡ nợ cũng như vào các tài sản khác của con nợ (khoản 1 Điều 89). Trong thời gian đó thì việc cưỡng chế thi hành án cho các chủ nợ không phải là chủ nợ vỡ nợ vào quyền đòi hỏi trong tương lai xuất phát từ quan hệ lao động hay công chức hoặc vào quyền đòi hỏi lương hưu của con nợ cũng không được phép, trừ phi đây là việc cưỡng chế thi hành án để buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hay nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi phạm pháp vào phần lương hoặc lương hưu mà các chủ nợ khác không có quyền tịch biên (khoản 2 Điều 89). Tòa án vỡ nợ có thẩm quyền quyết định đối với khiếu kiện về việc cưỡng chế thi hành án tại các quy định nói trên có được phép hay không. Trước khi quyết định, Tòa án có thể ra quyết định áp dụng biện pháp tạm thời; đặc biệt có thể quyết định tạm thời đình chỉ mà không đòi hỏi phải có đảm bảo hoặc với điều kiện có đảm bảo hoặc việc cưỡng chế thi hành án chỉ có thể tiếp tục nếu người yêu cầu thi hành án nạp một khoản tiền đảm bảo (khoản 3 Điều 89). Các giao dịch sau khi mở TTVN xác lập quyền tài sản đối với các tài sản cụ thể thuộc khối tài sản vỡ nợ (chẳng hạn đối với một động sản nhất định) đều không có hiệu lực, kể cả trường hợp việc xác lập đó xuất pháp từ giao dịch của người QLVN đối với người thứ ba, trừ một số ngoại lệ được quy định trong các luật khác16 (Điều 91). Trường hợp TTVN được mở đối với một công ty không có tư cách pháp nhân hoặc một Công ty hợp vốn bằng cổ phần, thì trong toàn bộ thời gian tiến hành thủ tục đó chỉ có người QLVN có quyền yêu cầu thành viên chịu trách nhiệm vô hạn thực hiện trách nhiệm tài sản vô hạn đó đối với các khoản nợ của công ty (Điều 93).

Ngoài các quy định về hiệu lực chung quan trọng nhất trình bày trên, Luật vỡ nợ cũng còn quy định các chi tiết quyền và nghĩa vụ của con nợ, của các chủ nợ, của người QLVN và của tòa án phát sinh từ việc mở TTVN (các điều 94 -102) cũng như tác động của nó đến việc thực hiện một số giao dịch (các điều 103-128), mà những quy định đó không thể trình bày hết được ở đây.

4. Tuy nhiên một công cụ quan trọng trong TTVN không thể không được nhắc tới là quyền phủ quyết một số giao dịch được xác lập trước thời điểm mở TTVN. Về nguyên tắc, các giao dịch pháp luật được xác lập trước khi mở TTVN và gây thiệt hại cho các chủ nợ có thể bị người QLVN phủ quyết theo các điều kiện được quy định tại các điều 130-146. Hậu quả của việc phủ quyết các giao dịch là, những gì đã được bán, được trao đi hoặc cho đi đều phải trả lại vào khối tài sản vỡ nợ. Các quy định về hậu quả của sự thu lợi không có căn cứ (các điều 812-822 BLDS) được áp dụng tương tự ở đây. Người nhận tài sản tặng cho chỉ phải hoàn trả lại những gì nhận được, nếu người này có lợi qua việc nhận tài sản tặng cho đó (Điều 143). Khi người nhận tài sản trên cơ sở giao dịch có thể bị phủ quyết hoàn trả lại khoản tài sản đó, thì quyền yêu cầu thanh toán của người đó được phục hồi, nhưng về nguyên tắc người này chỉ có quyền yêu cầu thanh toán với tư cách là chủ nợ vỡ nợ mà thôi (Điều 145). Quyền phủ quyết mất hiệu lực sau 2 năm kể từ thời điểm mở TTVN. Nhưng kể cả khi quyền phủ quyết mất hiệu lực, người QLVN vẫn có thể từ chối thực hiện nghĩa vụ xuất phát từ giao dịch chịu bị phủ quyết đó (Điều 146).

VI. PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CON NỢ

1. Bởi vì mỗi TTVN đều nhằm đạt mục đích chung là thực hiện trách nhiệm tài sản của con nợ, nên luật không ưu tiên biện pháp thanh lý tài sản con nợ, phục hồi doanh nghiệp hay bán doanh nghiệp con nợ, mà dành quyền lựa chọn cho các chủ nợ. Hội nghị chủ nợ lựa chọn biện pháp thông qua nghị quyết sau khi bắt đầu một thủ tục áp dụng chung và thống nhất trong “phiên báo cáo”. Hội nghị chủ nợ có thể ủy nhiệm cho người QLVN soạn thảo một “Kế hoạch vỡ nợ” và ấn định trước mục tiêu cho nó. Vai trò của Kế hoạch vỡ nợ là tạo ra một khuôn khổ mềm dẻo cho việc cùng nhau giải quyết vụ việc. Kế hoạch này không phải là công cụ riêng cho biện pháp phục hồi, mà về mặt nội dung nó để ngỏ cho mọi biện pháp. Trường hợp chọn biện pháp phục hồi thì các điều kiện và các thức tiến hành cũng đều được ghi nhận trong Kế hoạch vỡ nợ. Và cũng trong kế hoạch đó các chủ nợ có thể dự liệu các tình huống xảy khi việc phục hồi không thành công. Như vậy các chủ nợ không phải tiến hành các biện pháp khác nhau theo những thủ tục độc lập.

2. Kế hoạch vỡ nợ phải được Hội nghị chủ nợ chấp thuận, con nợ đồng ý và tiếp đó phải được tòa án phê duyệt. Kế hoạch được phê duyệt có hiệu lực thi hành đối với tất cả các bên tham gia TTVN, kể cả đối với các chủ nợ không gửi yêu cầu của mình và đối với những người phản đối kế hoạch đó (Điều 254). Từ các quy định của kế hoạch này, các chủ nợ có thể yêu cầu cưỡng chế thi hành án đối với con nợ như trên cơ sở một bản án có hiệu lực thi hành. Khi Kế hoạch vỡ nợ có hiệu lực pháp luật, tòa án ra nghị quyết hủy bỏ TTVN. Nghị quyết này có hiệu lực kết thúc chức năng của người QLVN và của các thành viên Ủy ban chủ nợ. Con nợ được nhận lại quyền định đoạt về tài sản vỡ nợ. Tuy nhiên, trong Kế hoạch vỡ nợ có thể quy định rằng người QLVN và Ủy ban chủ nợ giám sát việc thực hiện kế hoạch này. Trong chừng mực đó, người quản lý vỡ nợ, các thành viên Ủy ban chủ nợ và tòa án vẫn tiếp tục có chức năng giám sát.

3. Để đảm bảo quyền lợi của con nợ, luật quy định con nợ có quyền tham gia tư vấn cho người QLVN khi người này soạn thảo Kế hoạch vỡ nợ. Bên cạnh đó bản thân con nợ cũng có quyền đệ trình một Kế hoạch vỡ nợ lên tòa án. Con nợ có thể đệ trình một kế hoạch như vậy cùng với đơn mở TTVN hoặc trong quá trình tiến hành tố tụng và chậm nhất là trước khi tiến hành phiên họp cuối cùng. Kế hoạch vỡ nợ đã được Hội nghị chủ nợ chấp thuận có thể bị con nợ từ chối. Kế hoạch bị con nợ từ chối không được tòa án phê duyệt, trừ phi theo kế hoạch đó vị thế của con nợ không bị kém đi so với trường hợp không có kế hoạch.

4. Quyền lợi của con nợ cũng còn được quan tâm bảo vệ thông qua các quy định về “tự quản lý” của con nợ đối với tài sản vỡ nợ (chương 7 Luật vỡ nợ). Tòa án áp dụng chế độ tự quản lý, nếu con nợ đề nghị điều đó, trường hợp một chủ nợ đặt đơn mở TTVN thì chủ nợ đó đã đồng ý với đề nghị của con nợ và căn cứ và tình hình cụ thể có thể cho rằng việc áp dụng chế độ tự quản lý không làm trì hoãn tiến độ thực hiện TTVN và không gây thiệt hại gì cho các chủ nợ. Chế độ tự quản này cũng có thể được áp dụng trong quá trình tiến hành thủ tục vỡ nợ. Nếu tòa án đã bác đơn đề nghị của con nợ, nhưng phiên họp đầu tiên của Hội nghị chủ nợ lại đề nghị áp dụng chế độ tự quản, thì tòa án quyết định áp dụng chế độ này. Theo chế độ này, dưới sự giám sát của “người quản lý sự việc”, con nợ có quyền quản lý và định đoạt khối tài sản vỡ nợ.

VII. BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CHỦ NỢ

1. Quyền lợi của chủ nợ được luật cải cách chú trọng bảo vệ thông qua các quy định nhằm tăng cường quyền tự quyết của họ trong TTVN và quyền giám sát việc thực hiện Kế hoạch vỡ nợ sau khi hủy bỏ TTVN. Các chủ nợ có quyền lựa chọn các biện pháp tối ưu để thực hiện quyền yêu cầu của họ. Họ có thể thay đổi hoặc kết hợp các biện pháp với nhau trong quá trình tiến hành TTVN. Mặc dù khi mở TTVN, quyền định đoạt về tài sản vỡ nợ thuộc về người QLVN, nhưng điều đó cũng là để đảm bảo cho việc thực hiện quyền lợi của các bên tham gia tố tụng một cách hợp pháp và công bằng. Kế hoạch vỡ nợ có thể do con nợ, người QLVN tự mình hoặc với sự ủy nhiệm của Ủy ban chủ nợ đệ trình, nhưng đều phải được Hội nghị chủ nợ chấp thuận.

2. Các quy định về chế độ tự quản lý của con nợ cũng dành cho chủ nợ có quyền đồng ý hay từ chối áp dụng chế độ này và quyền yêu cầu hủy bỏ việc áp dụng chế độ này. Khi con nợ được tự quản lý, nó vẫn phải chịu sự giám sát của người quản lý sự việc là một chức trách tương tự như người QLVN nhưng không có thẩm quyền quản lý và định đoạt. Quyền tự do định đoạt của con nợ khi áp dụng chế độ tự quản cũng bị hạn chế bởi một số giao dịch quan trọng phải được người quản lý sự việc hoặc chủ nợ đồng ý. Hội nghị chủ nợ cũng có quyền yêu cầu tòa án quyết định một số giao dịch phải được sự chấp thuận của người quản lý sự việc.

VIII. TRÌNH TỰ THỦ TỤC VỠ NỢ

Đơn yêu cầu mở TTVN được đặt có hiệu lực như “khởi kiện vụ án” trong tố tụng dân sự thông thường. Nó bắt buộc tòa án phải xem xét đơn. Trong giai đoạn xem xét tòa án có thể áp dụng các biện pháp tạm thời, bổ nhiệm người quản lý tạm thời. Chức năng của người quản lý tạm thời được luật quy định chi tiết. Giai đoạn này kết thúc bằng việc tòa án ra nghị quyết mở hoặc bác đơn mở TTVN. Tòa quyết định mở TTVN, nếu một trong ba căn cứ (xem mục IV) mở thủ tục xảy ra và tài sản của con nợ ít nhất đảm bảo thanh toán được phí tổn tố tụng. Đơn mở thủ tục bị bác bỏ, nếu căn cứ mở thủ tục không xảy ra, hoặc tài sản của con nợ không đảm bảo ít nhất thanh toán được phí tổn tố tụng. Được phép kháng nghị quyết định của Tòa án (xem hậu quả của các quyết định của tòa án ở mục V). Tòa án có thể ra quyết đình chỉ TTVN, nếu trong quá trình tiến hành mà nhận thấy rằng tài sản của con nợ không đủ để đảm bảo thanh toán ít nhất là các phí tổn tố tụng. Sau khi Kế hoạch vỡ nợ được phê duyệt có hiệu lực, Tòa án ra quyết định kết thúc TTVN. Trường hợp tiến hành thanh lý tài sản con nợ không thông qua Kế hoạch vỡ nợ thì Tòa án ra quyết định kết thúc TVNN khi việc phân chia tài sản thanh lý đã hoàn thành. Về TTVN đối với người tiêu dùng và thủ tục giải phóng con nợ khỏi các khoản nợ còn lại xem bài viết nói ở lời mở đầu.

IX. TÀI SẢN VỠ NỢ

1. Tài sản vỡ nợ là tài sản thuộc về con nợ vào thời điểm mở TTVN và tài sản con nợ có được trong thời gian tiến hành thủ tục này (Điều 35). Các quyền yêu cầu hoàn trả của con nợ xuất phát từ việc phủ quyết một giao dịch được phép phủ quyết17 và cả những quyền yêu cầu chưa đến hạn thanh toán hoặc quyền yêu cầu có Điều kiện của con nợ đều được xem là tài sản thuộc về con nợ vào thời điểm mở TTVN (Điều 41).

2. Tuy nhiên các tài sản của con nợ không chịu bị cưỡng chế thi hành án theo BLTTDS18 thì không thuộc về tài sản vỡ nợ (khoản 1 Điều 36). Nhưng thuộc về tài sản vỡ nợ lại là sổ sách kế toán của con nợ và các tài sản không chịu bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 811 khoản 1 điểm 4 và 9 BLTTDS (khoản 2 Điều 36). Các tài sản nói tại Điều khoản này là tài sản của con nợ là người sản xuất nông nghiệp, bao gồm các công cụ, gia súc và phân bón cần thiết để sản xuất cũng như các sản phẩm nông nghiệp cần thiết để đảm bảo đời sống của con nợ, gia đình con nợ và của người lao động của con nợ hoặc các sản phẩm tương tự cần thiết cho việc tiếp tục sản xuất cho đến mùa vụ tiếp theo; là các máy móc, dụng cụ chứa và hàng hóa cần thiết để kinh doanh hiệu thuốc của người kinh doanh hiệu thuốc.

3. Trường hợp cần xác định rằng một tài sản nhất định nào đó có phải là đối tượng chịu bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định của BLTTDS hay không thì Tòa vỡ nợ có thẩm quyền quyết định. Thay vì chủ nợ, người QLVN có quyền đề nghị tòa án xem xét (khoản 4 Điều 36).

X. THỦ TỤC THANH LÝ

1. Thanh lý ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp là biện pháp “thanh lý tài sản của con nợ”, nghĩa là biện pháp nhằm biến đổi các tài sản hiện vật hoặc các quyền yêu cầu thành tiền phục vụ cho việc thanh toán cho các chủ nợ. Sau khi Hội nghị chủ nợ quyết định biện pháp này người QLVN phải kịp thời tiến hành thanh lý các tài sản thuộc tài sản vỡ nợ (Điều 159). Trong quá trình thanh lý, một số giao dịch đặc biệt quan trọng của người QLVN được luật quy định chi tiết phải được sự đồng ý của Ủy ban chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ (Điều 160-163). Tuy nhiên các giao dịch của người QLVN trên cơ sở vi phạm các quy định trên đây vẫn có hiệu lực (Điều 164). Quy định này nhằm đảm bảo an toàn cho giao dịch pháp luật. Quyền lợi của các bên tham gia TTVN được bảo vệ bởi quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người QLVN.

2. Việc thanh toán cho các chủ nợ không có đảm bảo chỉ được bắt đầu sau khi tiến hành Phiên xem xét (các Điều 176-177), mà trong phiên họp đó các quyền yêu cầu của các chủ nợ được xác định theo trị giá và thứ hạng ưu tiên thanh toán. Sau thời điểm đó việc thanh toán có thể tiến hành khi nào có đủ tiền mặt. Khi thanh toán từng phần thì các chủ nợ thứ hạng không được tham gia (Điều 187). Người QLVN thực hiện việc thanh toán. Nếu có Ủy ban chủ nợ thì mỗi lần thanh toán đều phải được ủy ban này đồng ý. Luật vỡ nợ cũng còn có các quy định nhằm đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ đang tranh chấp, các khoản nợ có Điều kiện, các khoản nợ được thông báo muộn cũng như thanh toán cho các chủ nợ có đảm bảo (các Điều 189-192). Ủy ban chủ nợ quyết định phần nợ được thanh toán trong đợt thanh toán từng phần trên cơ sở đề nghị của người QLVN. Nếu không có Ủy ban chủ nợ thì người QLVN quyết định việc này (Điều 196).

3. Thanh toán lần cuối được tiến hành khi việc thanh lý kết thúc và được sự đồng ý của tòa án. Đồng thời với quyết định đồng ý, Tòa án định lịch cho Phiên họp kết thúc của Hội nghị chủ nợ. Khi việc thanh toán lần cuối kết thúc, tòa án ra nghị quyết kết thúc TTVN (Điều 200). Sau khi TTVN được hủy bỏ, các chủ nợ vỡ nợ có quyền đòi nợ không hạn chế đối với các khoản nợ không được thanh toán đối với con nợ (trường hợp con nợ là cá nhân, là thành viên chịu trách nhiệm vô hạn của công ty) (Điều 201). Nhưng ngay cả khi TTVN đã được hủy bỏ, Tòa án tự mình hoặc trên cơ sở đề nghị của người QLVN hoặc của một chủ nợ vỡ nợ ra quyết định mở đợt “thanh toán bổ sung” nếu lúc này các khoản được giữ lại có thể được dùng để phân chia, các khoản được thanh toán từ tài sản vỡ nợ được trả lại hoặc có tài sản khác thuộc tài sản vỡ nợ được phát hiện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 So sánh §§ 105-160 Bộ luật thương mại (BLTM).

2 So sánh §§ 161-177a BLTM.

3 So sánh Luật công ty bạn hữu (Partners-chaftsgesetz v. 25.7.1994).

4 So sánh §§ 705-740 Bộ luật dân sự (BLDS).

5 So sánh Quyển V BLTM.

6 So sánh EWG-VO Nr. 2137/85 (ABl. EGNr. L 199 v. 31.7.1985).

7 Hệ thống Tòa án dân sự và hình sự bốn cấp này gồm Sở tòa, Phủ tòa, Tòa án Tiểu bang và Tòa án Liên bang.

8 Về vấn đề này so sánh Thomas/Putzo: Zivilprozessordnung (Bình luận BLTTDS), Muenchen 2002, Einleitung I.

9 Tòa án không có quyền từ chối đơn hay “trả lại đơn”. Tòa án nhận được đơn nghĩa là vụ việc được khởi kiện. Tòa án chỉ có thể bác đơn với lập luận rằng đơn không hợp lệ ( ) thông qua nghị quyết. Đương sự có quyền kháng nghị quyết định này.

10 So sánh khoản 2 Điều 92, 283 mục 14 Luật công ty cổ phần (Luật CTCP), Điều 64 Luật công ty TNHH (Luật CTTNHH).

11 So sánh Điều 401 LCTCP, Điều 84 Luật CTTNHH, Điều 130b BLTM.

12 Tham khảo Reinhard Bork, Insolvenzordnung, Dtv-Textausgabe, Muenchen 2002, Einf. II.3.

13 So sánh khoản 1 mục 3 Điều 131, khoản 2 Điều 161 Bộ luật thương mại; Điều 728 BLDS; khoản 1 mục 3 Điều 262 Luật CTCP; khoản 1 mục 4 Điều 60 Luật CTTNHH.

14 Đấy là các ngoại lệ quy định tại Điều 892, 893 BLDS, các điều 16,17 Luật về các quyền đối với tàu biển có đăng ký và các điều 16, 17 Luật về quyền đối với máy bay.

15 So sánh Điều 728 BLDS.

16 So sánh các điều 878, 892, 893 BLDS,khoản 3 , các điều 16, 17 Luật về đăng ký tàu biển; khoản 3 Điều 5, các điều 16,17 Luật về các quyền đối với máy bay và khoản 3 Điều 20 của Nghị định về phân chia quyền hàng hải.

17 So sánh Stefan Smid, Grundzuege des Insolvenzrechts, Muenchen 2002, § 18Rn. 1.

18 So sánh các điều 850, 850a, 850c, 850e, 850f khoản 1, các điều từ 850g-850i BLTTDS.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 6/2004

HẠN MỨC NHẬN CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

TUYẾT NHUNG

Tại phiên họp thứ 50, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp áp dụng kể từ ngày 1.7.2007.

Đây là nghị quyết gây tranh cãi và đã không thể thông qua hồi tháng 4 trong phiên họp thứ 48. Theo nghị quyết này, hạn mức nhận chuyển nhượng đất trồng cây hằng  năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối tối đa không quá 6 ha đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; không quá 4 ha đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác.

Đối với đất trồng cây lâu năm: không quá 20 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 50 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi. Đối với đất rừng sản xuất là rừng trồng: không quá 50 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 100 ha đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.

Cũng theo nghị quyết này, các hộ gia đình, cá nhân có quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp trên nhiều địa bàn nhưng tổng diện tích được nhận chuyển quyền trong hạn mức đối với mỗi loại đất bằng hạn mức nhận chuyển quyền tại tỉnh, thành phố có hạn mức cao nhất. Với nghị quyết này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng quyết định không hồi tố đối với những trường hợp đã sử dụng đất vượt hạn mức nhận chuyển quyền trước ngày nghị quyết này có hiệu lực.

SOURCE: Tuyết Nhung – thanhnien.com.vn

MỘT HỘ DÂN BỊ BỊT CỔNG VÀO NHÀ NHIỀU THÁNG NAY

Vụ việc tranh chấp đất giữa gia đình ông và dòng họ Đặng Đức vẫn chưa ngã ngũ, thì ngày 10/4/2007, dòng họ Đặng Đức cho người xây bịt cổng nhà ông Vững.

Cổng nhà ông Vững bị bịt lại.

Theo phản ánh của ông Trần Chí Vững, 59 tuổi  – thôn Đức Hậu, xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, Hà Nội thì gia đình ông đang yên ổn sinh sống hàng chục năm nay trong ngôi nhà của bố mẹ ông để lại.

Đến năm 1992, gia đình ông Vững xây cổng và tường bao quanh khuôn viên đất ở của gia đình. Đến năm 2000, họ Đặng Đức do ông Đặng Đức Thường là trưởng họ đã kiện gia đình ông Vững lấn chiếm đất nhà thờ họ (liền kề nhà ông Vững) và vụ việc đã được UBND xã Đức Hòa báo cáo lên UBND huyện Sóc Sơn.

Vụ  việc tranh chấp đất giữa gia đình ông và dòng họ Đặng Đức vẫn chưa ngã ngũ, thì ngày 10/4/2007, dòng họ Đặng Đức cho người xây bịt cổng nhà ông Vững.

Mấy tháng trở lại đây, cả gia đình ông phải đi ở nhờ nhà khác, bởi không có lối vào nhà, mọi sinh hoạt trong gia đình gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt, trong dịp tết này khi con cái ông làm ăn ở xa và đi học về, ông không biết phải trở về gia đình mình bằng cách nào nữa…?

SOURCE: Nam Việt – VTC

13 NĂM ĐÒI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở ĐẮC NÔNG: TÒA XỬ NGUYÊN ĐƠN THUA KIỆN BẰNG MỌI GIÁ

Một vụ kiện đòi quyền sử dụng đất khá đơn giản, nhưng các bản án sơ thẩm của TAND huyện Đắc Mil (Đắc Nông) dù lần lượt bị toà cấp trên tuyên hủy. Không thể xử nguyên đơn thua kiện bằng mọi giá, toà huyện bèn “nại” ra nhiều lý do để … “ngâm” án.

13 năm chờ xét xử, giữa nguyên đơn và bị đơn liên tiếp xảy ra các vụ đập phá nhà cửa, chặt phá càphê, xô xát lẫn nhau …

Càng xử, càng sai

Từ năm 1986 -1989, ông Nguyễn Minh Hùng (trú xã Đức Mạnh, huyện Đắc Mil) khai hoang được 6.100m2 đất tại khu vực đồi Trung Đoàn, thuộc xã Đức Mạnh. Năm 1994, ông được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ diện tích nói trên.

Cuối năm 1994, có ông Nguyễn Văn Hai – là người cùng xã – “nhảy” vào lấn chiếm của ông Hùng 3.000m2 và bán cho ông Lê Tấn Huy ở thị trấn Đăk Mil. Đầu năm 1995, ông Hùng khởi kiện ông Hai và ông Huy ra TAND huyện Đắc Mil để đòi đất.
Sự việc chỉ có vậy, nhưng phải mất 3 năm sau (tháng 4.1998), TAND huyện Đắc Mil mới đưa ra xét xử. AÁn sơ thẩm buộc ông Lê Tấn Huy phải trả lại 1.000m2 đất cho ông Hùng, nhưng ông Hùng phải… bồi thường giá trị 103 cây càphê mà ông Huy đã trồng trên đất này.

Ông Hùng cho rằng phải bồi thường cho người lấn chiếm đất là vô lý, đồng thời đất của ông bị lấn chiếm là 3.000m2 chứ không phải chỉ có 1.000m2 như toà xử, nên kháng cáo.
Tháng 10.1998, trong phiên xử phúc thẩm, TAND tỉnh Đắc Lắc đã tuyên huỷ án sơ thẩm, yêu cầu điều tra, xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm. Thế nhưng, TAND huyện Đắc Mil đã “ngâm” vụ này tới… 12 năm, khiến ông Hùng phải vác đơn khiếu nại khắp nơi. Tháng 11.2006 TAND tỉnh Đắc Nông (lúc này tỉnh Đắc Lắc đã chia tách thành 2 tỉnh Đắc Lắc và Đắc Nông) phải có công văn thúc giục TAND huyện Đắc Mil xét xử lại.
Và ngày 3.8.2007, vụ kiện này mới được TAND huyện Đắc Mil xét xử sơ thẩm lần 2, nhưng bản án dân sự số 22/2007/DSST lại bác yêu cầu khởi kiện của ông Hùng, kiến nghị UBND huyện thu hồi “sổ đỏ” toàn bộ diện tích đất ông đã khai hoang trước đây.

Như vậy, ông Hùng đã không đòi được mét đất nào, mà còn… mất thêm 3.000m2 nữa. Ông Hùng lại kháng cáo. Và trong phiên xử phúc thẩm tháng 11.2007, TAND tỉnh Đắc Nông lại tuyên hủy án sơ thẩm, yêu cầu “điều tra, xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm”.
Tùy tiện hay khuất tất?

Lý do chậm trễ xét xử vụ kiện đơn giản này được ông Phan Tuấn Đào – Chánh án TAND huyện Đắc Mil – giải thích: “Quá trình xác minh lại vụ việc đã xảy ra xô xát giữa nguyên đơn và bị đơn; vì vậy, chúng tôi không thể hoàn tất nhanh chóng được. Việc chính quyền cấp “sổ đỏ” cho ông Hùng cũng có vấn đề, nên chúng tôi phải chờ ý kiến trả lời của Sở TNMT và các ngành liên quan”.
Tuy nhiên, sau 12 năm xác minh và lấy ý kiến, bản án sơ thẩm lần 2 của TAND huyện Đắc Mil vẫn bị tuyên hủy. Điều này cho thấy lý do mà TAND huyện “nại” ra không thuyết phục. Đáng chú ý là TAND tỉnh Đắc Nông đã chỉ ra những vi phạm rất nghiêm trọng của TAND huyện Đắc Mil về quy trình tố tụng dân sự trong phiên xử sơ thẩm lần 2.
Đó là: Không đưa ra tài liệu, chứng cứ có giá trị pháp lý, mà chỉ dựa vào lời khai của bị đơn để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; dùng các quyết định đã hết hiệu lực từ lâu để làm căn cứ tuyên án; các biên bản xác minh, lấy lời khai, đối chất không thể hiện có thẩm phán làm việc và ký xác nhận … Cũng theo TAND tỉnh (tại bản án phúc thẩm), TAND huyện Đắc Mil còn làm sai lệch nội dung vụ án.

Vì sao TAND huyện Đắc Mil cứ cố xử cho nguyên đơn thua kiện bằng mọi giá, thể hiện qua hai bản án sơ thẩm thiếu căn cứ và vi phạm pháp luật? Năng lực của toà yếu kém đến mức không thể chấp nhận được, hay có gì khuất tất ở đây?
Tính đến thời điểm này, vụ kiện đã kéo dài sang năm thứ 13. Nhưng cũng như lần trước, sau khi TAND tỉnh tuyên hủy án sơ thẩm, ông Hùng lại “dài cổ” chờ toà huyện xử lại.

Bao giờ vụ án mới được TAND huyện Đắc Mil xét xử sơ thẩm… lần 3, và liệu khi đó có ra được một bản án đúng pháp luật, hay vẫn tiếp tục cái vòng luẩn quẩn tuyên án – hủy án – xét xử lại?

SOURCE: Đặng Trung Kiên-Lao Động

CÁC DẠNG TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI PHỔ BIẾN HIỆN NAY

Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khi đan xen lẫn nhau. Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong dạng tranh chấp này luôn luôn có sự tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý, quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc một phần trong diện tích đó. Việc xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể có dạng như sau:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai huyện, hai xã với nhau, tập trung ớ những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở những nơi có nguồn lâm, thổ sản quý. Cùng với việc chia tách các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tương đối nhiều.
- Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà do nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sứ dụng nữa. Bây giờ những người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp. Trong dạng tranh chấp này có các loại sau:
+ Đòi lại đất, tài sản của họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau trước đây qua các cuộc điều chỉnh đã chia, cấp cho người khác: Sau cải cách ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình sản xuất tập thể, quản lý tập trung. Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân được tập trung vào hợp tác xã. Đến khi thực hiện Nghị quyết T.Ư 10/TW năm 1988, đất đai được phân chia đến hộ gia đình, cá nhân để sản xuất. Do việc phân chia đất đai không hợp lý một số cán bộ xã, huyện đã làm sai như chia đất sản xuất cho những người không phải là nông dân để rồi những người này đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không có đất sản xuất, một số hộ trước khi vào tập đoàn, hợp tác xã có đất, đến khi giải thể họ không có đất để canh tác. Một số hộ thực hiện chính sách “nhường cơm sẻ áo” của Nhà nước trong những năm 1981-1986 đã nhường đất cho những người khác sử dụng, nay đòi lại… ở miền nam, Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hóa đất đai, nhà cửa, tư liệu sản xuất của địa chủ, tư bản và tay sai chế độ cũ hoặc giao nhà cửa, đất đai cho người khác sử dụng, đến nay do có sự hiểu lầm về chính sách họ cũng đòi lại những người đang quản lý, sử dụng.
Ngoài ra, một số người bỏ đi nơi khác ở, ra nước ngoài sinh sống cũng trở về đòi lại đất đai, tài sản trước đây của họ đã được giao cho người khác quản lý, sử dụng.
+ Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở về đòi lại ruộng của những người làm nông nghiệp: Những người làm nghề thủ công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở, sau đó họ không sản xuất nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về đòi lại đất để sản xuất, để ở.
+ Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ họ. Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây do hoàn cảnh lịch sử, chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học… đến nay các cơ sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của các cơ sở đó.
Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố, hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên đòi lại đất, nhà.
+ Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng tranh chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở nhờ. Có vụ cho mượn, thuê gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây vài chục năm (nhất là ở miền nam). Trong nhiều trường hợp không làm hợp đồng, chỉ giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ hoặc là hết hạn hợp đồng, hoặc đòi lại, bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên cố, một số có tên trong sổ địa chính hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) thì việc tranh chấp này càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc công dân khiếu kiện lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
- Tranh chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn: Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn. Đất tranh chấp có thể là đất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho con đất, đến khi con ly hôn thì cha mẹ đòi lại…
- Tranh chấp về quyền thừa kế QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ: Đây là dạng tranh chấp do người có QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chết mà không để lại di chúc, hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp.
- Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa các vùng đất được phép sử dụng và quản lý: Đây là tranh chấp về ranh giới. Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người khác. Những trường hợp tranh chấp này xảy ra thường do ranh giới đất giữa những người sử dụng đất liền kề không rõ ràng, đất này thường sang nhượng nhiều lần, bàn giao không rõ ràng.
Ngoài ra, việc tranh chấp ranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của các cơ quan nhà nước, đó là khi cấp đất, cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo đạc cụ thể khi giao đất chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của đương sự. Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết định cấp đất cũng như giấy chứng nhận QSDĐ hoặc khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ có phần diện tích chồng lên nhau. Do đó cũng gây nên tranh chấp giữa các hộ liền kề nhau. Khi giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định phần đất tranh chấp đó là thuộc quyền sử dụng của ai.
- Tranh chấp giữa đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bào dân tộc sở tại: Đây là dạng tranh chấp thường xảy ra ở vùng Tây Nguyên. Việc di dân, đặc biệt là di dân tự do khi đến nơi ở mới không phải lúc nào chính quyền sở tại cũng cấp đất cho người dân di cư, dẫn đến việc người mới đến phá rừng, lấn chiếm đất đai dẫn đến tranh chấp với đồng bào dân tộc sở tại.
- Tranh chấp giữa các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác với nhân dân địa phương: Do cơ chế trước đây nên dẫn đến tình trạng các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội bao chiếm một lượng lớn đất đai, không sử dụng hết để đất bỏ hoang hoặc cho người dân sử dụng theo hình thức phát canh, thu tô. Mặt khác, nhiều nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến tình trạng người dân chiếm đất để sử dụng. Do đó cũng dẫn đến tranh chấp đất đai.
Các dạng tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong các dạng tranh chấp này thì người đang SDĐ đã sử dụng hợp pháp đất, không có ai tranh chấp. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền và nghĩa vụ SDĐ của mình như: Thực hiện các giao dịch về dân sự, hoặc do chủ trương, chính sách của Nhà nước như giải tỏa, trưng dụng, trưng mua hoặc do người khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ SDĐ của mình mà dẫn đến tranh chấp. Có các dạng sau:
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền SDĐ, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền SDĐ.
- Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình SDĐ.
- Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp về đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cao su với đất trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quá trình phân bố và quy hoạch sử dụng. Trong thực tế trường hợp tranh chấp này xảy ra như sau: Do mục đích SDĐ nên Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để giao cho người khác sử dụng với mục đích khác, dẫn đến người đang SDĐ khiếu kiện việc chuyển mục đích SDĐ hay khiếu kiện việc thu hồi hoặc khiếu kiện người được giao đất sử dụng với mục đích khác. Mặt khác, người được Nhà nước giao đất chuyển mục đích sử dụng khiếu kiện người đang sử dụng đất phải giao đất cho mình theo quyết định giao đất.
- Tranh chấp về giải toả mặt bằng phục vụ các công trình công cộng, lợi ích quốc gia và mức đền bù khi thực hiện giải tỏa.
Trong tranh chấp loại này chủ yếu là khiếu kiện về giá đất đền bù, diện tích đất được đền bù, giá cả đất tái định cư và đền bù không đúng người, giải tỏa quá mức quy định để chừa đất cấp cho các đối tượng khác. Trong tình hình hiện nay, việc quy hoạch mở mang đường sá, đô thị quá lớn đẫn đến việc tranh chấp loại này rất gay gắt, phức tạp và có nhiều người, tập thể đồng loạt khiếu kiện.
Hiện nay ngoài những tranh chấp như đã trình bày trên, còn có một loại tranh chấp nữa, đó là tranh chấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai tức là tranh chấp hành chính về đất đai. Các tranh chấp thuộc nhóm này thường nảy sinh khi các đương sự quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai hoặc cán bộ quản lý nhà nước về đất đai áp dụng đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thí dụ: Các quyết định về giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, thu hồi giấy chứng nhận quyền SDĐ, các quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai.

SOURCE: TRI-LUAT.COM

TÀI LIỆU HỎI ĐÁP VỀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

Luật bình đẳng giới đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2007.

Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới.

Giải thích một số từ ngữ trong Luật bình đẳng giới

Trong Luật bình đẳng giới, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.

2. Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.

3. Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

4. Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.

5. Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

6. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

7. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.

8. Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới.

9. Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ.

 

clip_image001Luật bình đẳng giới áp dụng cho đối tượng nào?

Trả lời: Theo Điều 2 Luật bình đẳng giới qui định đối tượng áp dụng như sau:

1. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và công dân Việt Nam (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân).

2. Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam.

 

clip_image002Mục tiêu bình đẳng giới theo quy định của pháp luật là gì?

Trả lời: Theo Điều 4 Luật bình đẳng giới qui định:

Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế – xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

 

clip_image003Nguyên tắc bình đẳng giới được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 6 Luật bình đẳng giới qui định các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới như sau:

1. Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

2. Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.

3. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

4. Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

5. Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.

6. Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.

 

clip_image004Các chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 7 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.

2. Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình.

3. Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

4. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới.

5. Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế ? xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước.

 

clip_image005Quản lý nhà nước về bình đẳng giới bao gồm những nội dung nào?

Trả lời: Theo Điều 8 Luật bình đẳng giới qui định nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới như sau:

1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới.

3. Ban hành và tổ chức thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.

4. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới.

5. Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới.

6. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

7. Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về bình đẳng giới.

8. Hợp tác quốc tế về bình đẳng giới.

 

clip_image006Quản lý nhà nước về bình đẳng giới gồm những cơ quan nào?

Trả lời: Theo Điều 9 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bình đẳng giới.

2. Bộ hoặc cơ quan ngang bộ được Chính phủ phân công chủ trì chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới quy định tại khoản 2 Điều này thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

 

clip_image007Luật bình đẳng giới quy định các hành vi nào bị nghiêm cấm?

Trả lời: Theo Điều 10 Luật bình đẳng giới qui định các hành vi bị nghiêm cấm như sau :

1. Cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới.

2. Phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.

3. Bạo lực trên cơ sở giới.

4. Các hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.

 

clip_image008Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị?

Trả lời: Theo Điều 11 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.

2. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

4. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.

5. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

 

clip_image009Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế?

Trả lời: Theo Điều 12 Luật bình đẳng giới qui định

1. Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động.

2. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

 

clip_image010Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động?

Trả lời: Theo Điều 13 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.

2. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.

3. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

 

clip_image011Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo?

Trả lời: Theo Điều 14 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng.

2. Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo.

3. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

4. Nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

5. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

 

clip_image012Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ?

Trả lời: Theo Điều 15 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ.

2. Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế.

 

clip_image013Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao?

Trả lời: Theo Điều 16 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao.

2. Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin.

 

clip_image014Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế?

Trả lời: Theo Điều 17 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế.

2. Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

3. Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ.

 

clip_image015Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bình đẳng giới trong gia đình?

Trả lời: Theo Điều 18 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.

2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.

3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.

4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.

5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.

 

clip_image016Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Theo khoản 5 Điều 11, khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 13, khoản 5 Điều 14 và Điều 19 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm:

a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng;

b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam;

c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;

d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;

đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

g) Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được quy định trong các lĩnh vực như sau:

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

+ Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

+ Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

+ Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;

+ Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

+ Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.

- Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

2. Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ có thẩm quyền quy định biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới quy định tại khoản 1 Điều này, có trách nhiệm xem xét việc thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới và quyết định chấm dứt thực hiện khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

 

clip_image017Luật bình đẳng giới quy định thế nào về bảo đảm các nguyên tắc bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật?

Trả lời: Theo Điều 20 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới.

2. Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là một căn cứ quan trọng của việc rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật.

 

clip_image018Luật bình đẳng giới quy định thế nào về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật?

Trả lời: Theo Điều 21 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

a) Xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh;

b) Dự báo tác động của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành đối với nữ và nam;

c) Xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết các vấn đề giới trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.

2. Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, chuẩn bị báo cáo việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này và phụ lục thông tin, số liệu về giới có liên quan đến dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

3. Cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung đánh giá bao gồm:

a) Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo;

b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;

c) Tính khả thi của việc giải quyết vấn đề giới được điều chỉnh trong dự án, dự thảo;

d) Việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự án, dự thảo theo các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Chính phủ quy định việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

 

clip_image019Luật bình đẳng giới quy định thế nào về thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới?

Trả lời: Theo Điều 23 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới.

2. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới được đưa vào chương trình giáo dục trong nhà trường, trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức và cộng đồng.

3. Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới thông qua các chương trình học tập, các ấn phẩm, các chương trình phát thanh, truyền hình và các hình thức khác.

 

clip_image020Luật bình đẳng giới quy định thế nào về trách nhiệm của Chính phủ?

Trả lời: Theo Điều 25 Luật bình đẳng giới qui định trách nhiệm của Chính phủ như sau:

1. Ban hành chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; hằng năm báo cáo Quốc hội về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

2. Trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới.

3. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền.

4. Tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; chỉ đạo, tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

5. Công bố chính thức các thông tin quốc gia về bình đẳng giới; quy định và chỉ đạo thực hiện tiêu chí phân loại giới tính trong số liệu thông tin thống kê nhà nước.

6. Phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và chỉ đạo các cơ quan hữu quan trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức của nhân dân về bình đẳng giới.

 

Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giớiclip_image021 được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 26 Luật bình đẳng giới qui định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước như sau:

1. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

2. Xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành, hướng dẫn theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới.

3. Tham gia đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

4. Tổng kết, báo cáo Chính phủ việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

5. Chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ trong quản lý nhà nước về bình đẳng giới.

6. Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới.

 

Trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ về bình đẳng giớiclip_image021[1] được pháp luật quy định như thế nào?clip_image022

Trả lời: Theo Điều 27 Luật bình đẳng giới qui định:

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm sau đây:

1. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý;

2. Nghiên cứu, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;

3. Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới.

 

clip_image022[1]Luật bình đẳng giới quy định thế nào về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp?

Trả lời: Theo Điều 28 Luật bình đẳng giới qui định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp như sau:

1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới tại địa phương.

2. Trình Hội đồng nhân dân ban hành hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới theo thẩm quyền.

3. Tổ chức thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở địa phương.

4. Thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới.

5. Tổ chức, chỉ đạo việc tuyên truyền, giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho nhân dân địa phương.

 

clip_image023Luật bình đẳng giới quy định thế nào về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên?

Trả lời: Theo Điều 29 Luật bình đẳng giới qui định trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên như sau:

1. Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà nước về bình đẳng giới theo quy định của pháp luật.

2. Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức.

3. Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới.

4. Tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên, đoàn viên thực hiện bình đẳng giới.

 

clip_image024Luật bình đẳng giới quy định thế nào về trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ?

Trả lời: Theo Điều 30 Luật bình đẳng giới qui định trách nhiệm của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam

1. Thực hiện các quy định tại Điều 29 của Luật này.

2. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

3. Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; phụ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị.

4. Thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của pháp luật.

5. Thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới.

 

clip_image025Luật bình đẳng giới quy định thế nào về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội trong việc thực hiện bình đẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình?

Trả lời: Theo Điều 31 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Trong công tác tổ chức, cán bộ, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có trách nhiệm sau đây:

a) Bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ bình đẳng trong việc làm, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm và hưởng phúc lợi;

b) Bảo đảm việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên nguyên tắc bình đẳng giới.

2. Trong hoạt động, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có trách nhiệm sau đây:

a) Xác định thực trạng bình đẳng giới, xây dựng và bảo đảm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức mình và có báo cáo hằng năm;

b) Bảo đảm sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ trong xây dựng, thực thi pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

c) Giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động do mình quản lý;

d) Có biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức và gia đình;

đ) Tạo điều kiện phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, các dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm nhẹ gánh nặng lao động gia đình.

 

clip_image026Luật bình đẳng giới quy định thế nào về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác trong việc thực hiện bình đẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình?

Trả lời: Theo Điều 32 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Trong công tác tổ chức và hoạt động, cơ quan, tổ chức không thuộc trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật bình đẳng giới (câu 25) có trách nhiệm sau đây:

a) Phải bảo đảm cho nam, nữ bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng;

b) Báo cáo hoặc cung cấp kịp thời thông tin về bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền;

c) Đề xuất hoặc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức mình.

2. Căn cứ vào khả năng, điều kiện của mình, cơ quan, tổ chức chủ động hoặc phối hợp tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới sau đây:

a) Tổ chức các hoạt động tuyên truyền kiến thức về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho các thành viên của cơ quan, tổ chức và người lao động;

b) Bố trí cán bộ hoạt động về bình đẳng giới;

c) Tổ chức nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm tăng cường bình đẳng giới;

d) Dành nguồn tài chính cho các hoạt động bình đẳng giới;

đ) Tổ chức hệ thống nhà trẻ phù hợp để lao động nam, nữ kết hợp hài hoà giữa lao động sản xuất và lao động gia đình;

e) Hỗ trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi;

g) Tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con.

Nhà nước khuyến khích thực hiện các hoạt động quy định tại khoản này.

 

clip_image027Luật bình đẳng giới quy định thế nào về trách nhiệm của gia đình?

Trả lời: Theo Điều 33 Luật bình đẳng giới qui định trách nhiệm của gia đình như sau:

1. Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới.

2. Giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình.

3. Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn.

4. Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác.

 

clip_image028Luật bình đẳng giới quy định thế nào về trách nhiệm của công dân?

Trả lời: Theo Điều 34 Luật bình đẳng giới qui định công dân nam, nữ có trách nhiệm sau đây:

1. Học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới;

2. Thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới;

3. Phê phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới;

4. Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.

 

clip_image029Thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới được quy định thế nào?

Trả lời: Theo Điều 35 Luật bình đẳng giới qui định thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới như sau:

1. Cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới thực hiện chức năng thanh tra về bình đẳng giới.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra về bình đẳng giới bao gồm:

a) Thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới;

b) Thanh tra việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới;

c) Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới theo quy định của Luật này và pháp luật về khiếu nại, tố cáo;

d) Xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính;

đ) Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về bình đẳng giới; đề nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về bình đẳng giới;

e) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

 

clip_image030Luật bình đẳng giới quy định thế nào về giám sát việc thực hiện bình đẳng giới?

Trả lời: Theo Điều 36 Luật bình đẳng giới qui định giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới như sau:

1. Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

2. Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại địa phương.

 

clip_image031Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 37 Luật bình đẳng giới qui định khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới như sau:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bình đẳng giới, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Việc giải quyết khiếu nại về bình đẳng giới được thực hiện theo quy định theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

 

clip_image032Nguyên tắc xử lý hành vi vi luật pháp luật về bình đẳng giới được pháp luật quy định như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 39 Luật bình đẳng giới qui định nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới như sau:

Mọi hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Việc xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để theo đúng quy định của pháp luật.

 

clip_image033Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế bao gồm những hành vi nào?

Trả lời: Theo Điều 40 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

a) Cản trở việc nam hoặc nữ tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị ? xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội ? nghề nghiệp vì định kiến giới;

b) Không thực hiện hoặc cản trở việc bổ nhiệm nam, nữ vào cương vị quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới;

c) Đặt ra và thực hiện quy định có sự phân biệt đối xử về giới trong các hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc trong quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

2. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

a) Cản trở nam hoặc nữ thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động kinh doanh vì định kiến giới;

b) Tiến hành quảng cáo thương mại gây bất lợi cho các chủ doanh nghiệp, thương nhân của một giới nhất định.

3. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

a) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;

b) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;

c) Phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương khác nhau cho những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính;

d) Không thực hiện các quy định của pháp luật lao động quy định riêng đối với lao động nữ.

4. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

a) Quy định tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ;

b) Vận động hoặc ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính;

c) Từ chối tuyển sinh những người có đủ điều kiện vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;

d) Giáo dục hướng nghiệp, biên soạn và phổ biến sách giáo khoa có định kiến giới.

5. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ bao gồm:

a) Cản trở nam, nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ;

b) Từ chối việc tham gia của một giới trong các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ.

6. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao bao gồm:

a) Cản trở nam, nữ sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn và tham gia các hoạt động văn hóa khác vì định kiến giới;

b) Sáng tác, lưu hành, cho phép xuất bản các tác phẩm dưới bất kỳ thể loại và hình thức nào để cổ vũ, tuyên truyền bất bình đẳng giới, định kiến giới;

c) Truyền bá tư tưởng, tự mình thực hiện hoặc xúi giục người khác thực hiện phong tục tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.

7. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế bao gồm:

a) Cản trở, xúi giục hoặc ép buộc người khác không tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe vì định kiến giới;

b) Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai vì giới tính của thai nhi.

 

clip_image034Luật bình đẳng giới quy định thế nào về các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình?

Trả lời: Theo Điều 41 Luật bình đẳng giới qui định các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình như sau:

1. Cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.

2. Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụng tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.

3. Đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.

4. Hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.

5. Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định.

 

clip_image035Luật bình đẳng giới quy định thế nào về các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới?

Trả lời: Theo Điều 42 Luật bình đẳng giới qui định:

1. Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật./.

SOURCE: SỞ TƯ PHÁP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

VỀ VIÊC CÔNG BỐ BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN TỐI CAO Ở PHÁP VÀ Ở VIÊT NAM

PGS.TS. ĐỖ VĂN ĐẠI – Nhà Pháp luật Việt – Pháp

Theo Hiến pháp và pháp luật về tố tụng cũng như về tổ chức toà án, Tòa án Việt Nam “xét xử công khai”. Tuy nhiên, xét xử công khai không đồng nghĩa với “công bố bản án”. Xét xử công khai là không giấu giếm, còn công bố bản án là cho mọi người đều biết về bản án. Trong bài viết này chúng tôi xin đề cập đến vấn đề công bố bản án của Tòa án tối cao Pháp và của Tòa án tối cao Việt Nam, tòa án của hai hệ thống luật được nhiều người cho là thuộc hệ thống luật thành văn1. Chúng tôi đi vào phân tích ba vấn đề cụ thể sau: Các hình thức công bố bản án của Tòa án tối cao (I), khai thác các bản án được công bố (II) và ích lợi của việc công bố bản án (III).

I. CÁC HÌNH THỨC CÔNG BỐ BẢN ÁN

Nhìn một cách tổng quát, bản án của Tòa án tối cao được công bố dưới hai hình thức. Thông thường, bản án được công bố trên giấy. Ngày nay, các bản án còn được công bố thông qua phương tiện tin học.

1. Công bố bản án trên giấy

1.1 Ở Pháp

Tòa án tư pháp tối cao Pháp được thiết lập năm 1790. Việc công bố bản án trên giấy được coi là một truyền thống ở Pháp. Từ rất lâu, nhiều luật gia Pháp đã công bố các bản án của Tòa án tối cao Pháp trên các tạp chí và sách báo pháp lý. Tạp chí Dalloz của Pháp, tồn tại từ năm 1824, là nơi công bố nhiều bản án của Tòa án tối cao Pháp. Ví dụ, câu hỏi: khi công nghệ được giao không thể đem lại cho bên nhận những kết quả mà bên chuyển giao hứa thì bên được chuyển giao công nghệ có quyền yêu cầu hủy hợp đồng chuyển giao công nghệ hay không- đã có câu trả lời trong bản án ngày 21/02/1837 của Tòa án tối cao được công bố trên Tạp chí Dalloz năm 1837, phần I, trang 217.

Ngày nay, Tạp chí Dalloz ra hàng tuần và vẫn là một trong những tạp chí công bố nhiều bản án của Tòa án tối cao. Ví dụ, trong số đầu tiên của năm 2005 (ngày 06/ 01/ 2005), Tạp chí đã công bố khoảng 40 bản án của Tòa án tối cao Pháp.

Bên cạnh các tạp chí, nhiều sách pháp lý của Pháp cũng tham gia công bố bản án của Tòa án tối cao. Chẳng hạn, từ rất sớm, hai anh em Dalloz, trong tuyển tập Répertoire méthodique et alphabétique de législation, de doctrine et de jurisprudence (với hơn 40 tập), đã công bố rất nhiều bản án của Tòa án tối cao Pháp. Xin trích một ví dụ cụ thể: theo Điều 1134 của Bộ luật Dân sự Pháp vừa kỷ niệm hai trăm năm tồn tại (1804-2004), hợp đồng là pháp luật đối với các bên. Điều đó có nghĩa là các bên phải tôn trọng hợp đồng như tôn trọng pháp luật. Nhưng Bộ luật Dân sự Pháp lại không cho biết hợp đồng có là pháp luật đối với thẩm phán hay không. Vậy, thẩm phán có phải tôn trọng hợp đồng của các bên như tôn trọng pháp luật không? Câu hỏi này đã được Tòa án tối cao Pháp đề cập đến trong một số bản án được hai anh em Dalloz công bố. Ví dụ, bản án ngày 05/ 07/1808 và bản án ngày 03/ 08/1809 về vấn đề này được công bố ở trang 378, tập 07 tuyển tập nói trên. Ngày nay, nhiều nhà xuất bản cũng cho phát hành sách pháp lý, trong đó có nhiều bản án của Tòa án tối cao, như nhà xuất bản Dalloz chẳng hạn. Họ cho phát hành loại sách về những bản án quan trọng của Tòa án Pháp. Ví dụ, họ cho tái bản năm 2001 cuốn Những bản án quan trọng của Tư pháp quốc tế Pháp. Cuốn này gồm 820 trang và công bố khoảng 90 bản án quan trọng của Tòa án tối cao Pháp về Tư pháp quốc tế với những lời bình luận của hai giáo sư B. Ancel và Y. Lequette.

Sẽ là không đầy đủ nếu nói tới việc cho công bố bản án của Tòa án tối cao Pháp mà không nhắc đến Bản tin bản án của Tòa án tối cao (Bulletin des arrêts de la Cour de cassation). Đây là bản tin hàng tháng, được xuất bản từ năm 1798, ra 10 số một năm (không phát hành vào các tháng 8 và 9). Những bản án được công bố ở đây thường được coi là những bản án quan trọng không phải vì giá trị bằng tiền của các tranh chấp mà vì nó thể hiện ý tưởng của Tòa án tối cao Pháp đối với một vấn đề pháp lý cụ thể. Hàng nghìn bản án được công bố mỗi năm trên Bản tin. Ví dụ, trong năm 1997, 337 bản án của Phòng dân sự số 01, 232 bản án của Phòng dân sự số 02, 231 bản án của Phòng dân sự số 03 và 350 bản án của Phòng thương mại Tòa án tối cao Pháp đã được công bố trên Bản tin bản án này. Phòng lao động và Phòng hình sự Tòa án tối cao Pháp cũng cho công bố không ít các bản án trên Bản tin này.

1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ý thức công bố bản án của Tòa án trên giấy cũng đã tồn tại. Ví dụ, trong cuốn Tập hệ thống hóa Luật lệ về tố tụng dân sự phát hành năm 1977, Tòa án nhân dân tối cao đã cho công bố một số bản án của một số tòa án địa phương (xem trang 89, trang 225 và tiếp theo). Trong thời gian gần đây, một số bản án của Tòa án tối cao cũng được công bố trên Tạp chí Tòa án nhân dân. Ví dụ, trong số 03 năm 2004, một quyết định giám đốc thẩm của Tòa lao động Tòa án nhân dân tối cao về kỷ luật sa thải (xem trang 41 và tiếp theo) đã được công bố. Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2004, đã công bố một bản án của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về căn cứ công nhận hợp đồng (xem trang 29 và tiếp theo).Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng số lượng bản án được công bố là quá ít so với số lượng bản án mà Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên.

2. Công bố bản án thông qua phương tiện tin học

2.1. Ở Pháp

Với sự phát triển của tin học, việc công bố bản án của Tòa án tối cao Pháp được củng cố thêm.Có nhiều trang web tham gia công bố bản án. Trang web đầu tiên phải kể đến là của Tòa án tư pháp tối cao Pháp (http://www.courdecassation.fr). Trang web này cho công bố nhiều bản án của Tòa án tối cao. Việc tìm kiếm các bản án công bố ở đây là tự do và miễn phí. Bất kỳ ai có nhu cầu đều có thể vào truy cập. Bên cạnh trang web miễn phí của Tòa án tối cao cần kể đến trang web Légifrance (http://www.legifrance.gouv.fr). Đây cũng là trang truy cập tự do và miễn phí. Dường như tất cả các bản án được đưa ra từ những năm gần đây của Tòa án tối cao Pháp đều được công bố trên trang web này. Chúng tôi chưa bao giờ gặp phải trường hợp khi có thông tin về một bản án của Tòa án tối cao Pháp mà không tìm thấy bản án đó ở đây.

Ngoài trang web, việc công bố bản án của Tòa án còn được thể hiện dưới hình thức CDROM. Những CDROM của nhà xuất bản Lamy dường như chứa đựng tất cả các bản án của Tòa án tối cao. Cần nói thêm là nhiều tạp chí pháp lý cũng cho xuất bản CDROM và ở đó chúng ta thấy lại những bản án được công bố trên tạp chí bằng giấy. Ví dụ như trên các tạp chí Dalloz, Les Petites affiches, Droit et patrimoine…

2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ý tưởng công bố bản án thông qua phương tiện tin học cũng đã tồn tại. Cách đây không lâu, vấn đề bản án điện tử đã được thăm dò ý kiến trên trang web của Đặc san Nghề Luật. Tuy nhiên cần phải thừa nhận rằng hiện nay ở Việt Nam chưa có một trang web nào cho công bố bản án của Tòa án nhân dân tối cao. Phần trình bày vừa rồi cho thấy ý thức công bố bản án của Tòa án tối cao đã tồn tại ở Pháp và ở Việt Nam. Tuy nhiên ý thức này được thể hiện khác nhau ở hai nước. Nếu hiện nay dường như tất cả các bản án của Tòa án tối cao Pháp được công bố thì tuyệt đại đa số bản án của Tòa án tối cao Việt Nam không được công bố. Ở Pháp, ý tưởng công bố bản án của Tòa án tối cao đã tồn tại từ ít nhất 200 năm nay còn ở Việt Nam thì vấn đề này còn tương đối mới mẻ. Về hình thức công bố bản án, việc công bố bản án thông qua phương tiện tin học chưa là một thực tế ở Việt Nam và việc công bố bản án trên giấy ở Việt Nam còn quá ít ỏi.

So với việc công bố trên giấy, việc công bố bản án thông qua phương tiện tin học có nhiều tiện lợi.

Thứ nhất, việc tra cứu về một bản án hay những bản án về một lĩnh vực pháp lý nào đó rất dễ dàng. Ví dụ, để có những bản án về hủy hợp đồng do có vi phạm, chúng ta chỉ cần sử dụng một số cụm từ như hợp đồng, hủy, vi phạm trong khi đó nếu tra cứu trên giấy người quan tâm phải đọc qua bản án hay tóm tắt của bản án.

Thứ hai, việc công bố bản án trên giấy mất nhiều thời gian hơn việc công bố thông qua phương tiện tin học. Ví dụ, để có được một bản án của Tòa án tối cao Pháp công bố trên Bản tin bản án thì thông thường phải đợi 5 đến 6 tháng từ khi bản án được đưa ra trong khi đó chỉ cần một thời gian ngắn chúng ta có thể có được bản án đó trên các trang web2.

Thứ ba, số lượng bản án được công bố thông qua phương tiện tin học nhiều hơn số bản án công bố trên giấy. Ví dụ, đối với năm 1997, Bản tin bản án của Tòa án tối cao Pháp công bố 350 bản án của Phòng thương mại trong khi đó chúng ta thấy 2536 bản án của Phòng thương mại này trên CDROM Lamy.

II. KHAI THÁC CÁC BẢN ÁN ĐƯỢC CÔNG BỐ

Trong thực tế, các bản án được khai thác ở nhiều góc độ khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến việc khai thác các bản án được công bố trong hoạt động xét xử và trong hoạt động giảng dạy.

1. Khai thác bản án được công bố trong hoạt động xét xử

1.1 Ở Pháp

Những người tham gia hoạt động xét xử ở Pháp thường xuyên khai thác các bản án của Tòa án tối cao. Xin dẫn một vụ việc cụ thể được Tòa án tư pháp tối cao Pháp phán xét ngày 25/ 01/2005. Đây là vụ việc liên quan đến quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài ở Pháp. Cụ thể sự việc như sau: Nhà nước Cộng hòa dân chủ Công gô mua ở Pháp một số bất động sản để làm nơi ở cho một số công dân của mình. Từ năm 1996, nhà nước Công gô ngừng thanh toán chi phí mà những người sống trong chung cư phải trả (chi phí chung cư). Năm 1998, Tòa án Pháp tuyên án buộc nhà nước Công gô phải thanh toán một khoản tiền chi phí chung cư đáng ra phải trả từ ngày 14/02/1997. Trước việc người đại diện cho những người sống trong chung cư tiến hành yêu cầu kê biên bất động sản để thanh toán khoản tiền chi phí trên, nhà nước Công gô viện dẫn quyền miễn trừ tư pháp, cụ thể là quyền miễn trừ xét xử và quyền miễn trừ thi hành án3 để không thi hành phán quyết trên.

Vấn đề pháp lý cần giải quyết là liệu nhà nước Công gô có thể viện dẫn các quyền miễn trừ tư pháp trên để không thanh toán chi phí chung cư và để không thi hành bản án của tòa án Pháp? Theo đại diện Viện công tố trực thuộc Tòa án tư pháp tối cao Pháp, ông Jerry Sainte-Rose, câu trả lời là không4. Để bảo vệ quan điểm của mình, ông Jerry Sainte-Rose viện dẫn một số bản án của Tòa án tư pháp tối cao Pháp đã được công bố. Ví dụ, ông Jerry Sainte-Rose đã dẫn một bản án ngày 19/02/19295. Theo bản án này thì Nhà nước nước ngoài có quyền miễn trừ tư pháp nhưng quyền này là không tuyệt đối. Tiếp theo, người đại diện Viện công tố viện dẫn một bản án ngày 14/ 03/ 19846 và một bản án ngày 01/ 10/19857 của Tòa án tư pháp tối cao Pháp. Theo bản án thứ nhất, “quyền miễn trừ thi hành án của nhà nước nước ngoài là nguyên tắc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ, quyền này sẽ không được chấp nhận nhất là khi tài sản bị kê biên được sử dụng vào hoạt động kinh tế hay thương mại làm phát sinh tranh chấp và thuộc ngành luật tư”. Theo bản án thứ hai, “về nguyên tắc, tài sản của nhà nước nước ngoài không thể bị kê biên trừ một số ngoại lệ nhất là khi tài sản này được sử dụng vào hoạt động kinh tế hay thương mại làm phát sinh tranh chấp và thuộc ngành luật tư”. Theo ông Jerry Sainte-Rose, tài sản bị kê biên trong tranh chấp không được sử dụng vào hoạt động thương mại hay kinh tế mà vào hoạt động dân sự. Tuy nhiên hai bản án trên chỉ nêu ngoại lệ của hoạt động kinh tế hay thương mại như một danh sách liệt kê mở (không giới hạn) vì hai bản án đó sử dụng cụm từ “nhất là” đối với hai hoạt động này. Do vậy, theo vị đại diện Viện công tố, nhà nước Công gô không được hưởng quyền miễn trừ trong tranh chấp này. Cuối cùng Tòa án tư pháp tối cao Pháp cũng theo quan điểm của Viện công tố và phán quyết rằng: “Theo những nguyên tắc liên quan đến miễn trừ tư pháp, nhà nước nước ngoài được hưởng trên nguyên tắc quyền miễn trừ thi hành án. Tuy nhiên, điều đó sẽ khác đi khi tài sản bị kê biên gắn liền với một hoạt động kinh tế, thương mại hay dân sự làm phát sinh tranh chấp và thuộc ngành luật tư”8.

1.2 Ở Việt Nam

Phần trình bày trên cho thấy, các bản án được công bố của Tòa án tối cao Pháp được khai thác rất nhiều trong hoạt động tố tụng.

Ở Việt Nam, khó có thể miêu tả chính xác việc khai thác các bản án của Tòa án tối cao Việt Nam trong hoạt động tố tụng. Chúng tôi có hỏi một số chuyên gia luật và được biết rằng họ không baogiờ trích dẫn các bản án của Tòa án tối cao để làm cơ sở lý luận cho mình.

Trong thực tế, các luật gia Việt Nam có đề cập đến một số bản án của Tòa án tối cao nhưng họ chưa cho công bố và khai thác bản án của Tòa án tối cao. Ví dụ, trong bài Thấy gì qua việc giải quyết ba vụ tranh chấp kinh tế quốc tế , bà Vũ Thị Én có đề cập đến một số bản án của Tòa án tối cao nhưng không cho công bố toàn bộ các bản án này9. Tương tự, trong bài Về quyền thừa kế nhà của người Việt Nam định cư ở nước ngoài10, ông Trần Văn Tuân có đề cập đến bản án phúc thẩm số 02 ngày 28/12/2001 của Tòa án tối cao nhưng không cho công bố bản án.

2. Khai thác bản án được công bố trong hoạt động giảng dạy

2.1 Ở Pháp

Việc khai thác trong giảng dạy các bản án của Tòa án tối cao được công bố là rất phổ biến ở Pháp. Đây có thể được coi là văn hóa pháp lý Pháp. Dường như không một sinh viên luật nào của Pháp không phải nghiên cứu bản án trong quá trình học tập. Chúng tôi đã phải làm quen với các bản án của Tòa án tối cao Pháp ngay từ những ngày đầu tiên của năm thứ nhất đại học luật. Trong quá trình học đại học, sau đại học và làm luận án tiến sỹ, không có một tuần nào chúng tôi không phải nghiên cứu một vài bản án quan trọng của Tòa án tối cao Pháp. Và từ những năm gần đây, với tư cách là giảng viên đại học ở Pháp, chúng tôi thường buộc sinh viên phải nghiên cứu và bình luận bản án của Tòa án tối cao Pháp đã được công bố.

Nhìn chung, các bản án được nghiên cứu theo hai hình thức chủ yếu sau: phân tích bản án và bình luận bản án. Phân tích bản án thường được yêu cầu đối với sinh viên năm thứ nhất đại học. Ở đây, sinh viên phải làm những công đoạn sau. Thứ nhất, phải định hình bản án (bản án ra ngày nào, của Phòng nào, có phải là bản án không chấp nhận kháng nghị, kháng cáo hay là bản án hủy bản án cấp dưới). Ví dụ, đối với bản án liên quan đến nhà nước Công gô, sinh viên phải biết đây là một bản án ngày 25/ 01/2005 của Phòng dân sự số 01 Tòa án tư pháp tối cao Pháp. Đây là bản án không chấp nhận kháng cáo. Thứ hai, sinh viên phải biết được hoàn cảnh pháp lý được thể hiện trong bản án và các cấp đã xét xử. Ở ví dụ trên, sinh viên phải biết là nhà nước Công gô mua ở Pháp một số bất động sản để làm nơi ở cho một số công dân của mình và từ năm 1996 họ ngừng thanh toán chi phí chung cư. Tòa án sơ thẩm thẩm quyền rộng Nanterre đã xét xử sơ thẩm và Tòa phúc thẩm Versailles đã xét xử phúc thẩm vụ việc trên. Cả hai cấp đều buộc nhà nước Công gô phải thanh toán chi phí chung cư đáng ra phải trả từ ngày 14/02/1997. Thứ ba, sinh viên phải biết được ý tưởng của các bên. Trong ví dụ, sinh viên phải biết là người đại diện cho những người sống trong chung cư muốn kê biên bất động sản của nhà nước Công gô để thanh toán khoản tiền chi phí chung cư và nhà nước Công gô không muốn bị kê biên tài sản bằng cách viện dẫn quyền miễn trừ tư pháp. Thứ tư, sinh viên phải biết được vấn đề pháp lý mà Tòa án tối cao phải trả lời là gì. Ở đây, sinh viên phải biết vấn đề pháp lý là như sau : liệu nhà nước Công gô có thể viện dẫn quyền miễn trừ tư pháp để không bị kê biên tài sản nhằm thanh toán khoản tiền chi phi chung cư không? Thứ năm, sinh viên phải cho biết là giải pháp của Tòa án tối cao là gì đối với vấn đề pháp lý vừa được nêu. Đối với vụ việc này, sinh viên phải cho biết là nhà nước Công gô không được viện dẫn quyền miễn trừ tư pháp để phủ nhận việc kê biên tài sản nhằm thanh toán khoản tiền chi phí chung cư.

Bình luận bản án thường được yêu cầu đối với sinh viên đã biết rõ phương pháp phân tích bản án.Thực ra, bình luận là bước tiếp theo của việc phân tích bản án: Trước khi bình luận, sinh viên phải phân tích bản án để hiểu bản án. Khi bình luận, sinh viên không chỉ phải hiểu bản án mà còn phải diễn giải bản án, làm cho mọi người biết được tầm quan trọng, sự ảnh hưởng của bản án. Đây là đánh giá cá nhân về bản án. Đối với bản án đề cập ở trên, sinh viên có thể cho biết là nhà nước Công gô không được viện dẫn quyền miễn trừ tư pháp để phủ nhận việc kê biên tài sản vì quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài là không tuyệt đối theo pháp luật Pháp: Quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài là một nguyên tắc có ngoại lệ và, đối với tranh chấp đang nghiên cứu, chúng ta thuộc trường hợp ngoại lệ. Sinh viên có thể nói thêm là, trước khi có bản án này, các ngoại lệ của quyền miễn trừ tư pháp liên quan đến tài sản được sử dụng vào hoạt động thương mại hay kinh tế. Nhưng trong bản án này, ngoại lệ của quyền miễn trừ tư pháp cũng được áp dụng đối với tài sản được sử dụng vào hoạt động dân sự. Đây là một điểm mới quan trọng của bản án. Từ bản án này, chúng ta có thể biết là theo Phòng dân sự số 01 Tòa án tối cao Pháp, về nguyên tắc thì nhà nước nước ngoài có quyền miễn trừ tư pháp. Nhưng nguyên tắc này có ngoại lệ và ngoại lệ này không chỉ giới hạn ở tài sản được sử dụng vào hoạt động thương mại hay kinh tế mà cả đối với tài sản được sử dụng vào hoạt động dân sự. Trước khi kết thúc bài bình luận, sinh viên có thể đặt ra câu hỏi sau: bản án được nghiên cứu là của Phòng dân sự số 01 Tòa án tối cao Pháp, liệu các Phòng khác của Tòa án tối cao Pháp có theo giải pháp ghi nhận trong bản án trên không? Việc đặt câu hỏi này sẽ làm cho người quan tâm chú ý khi họ nghiên cứu bản án của các Phòng khác về quyền miễn trừ tư pháp. Họ sẽ tìm xem, các Phòng khác có mở rộng ngoại lệ của quyền miễn trừ tư pháp đối với tài sản được sử dụng vào hoạt động dân sự hay không.

2.2 Ở Việt Nam

Nếu việc khai thác các bản án được công bố của Tòa án tối cao Pháp được coi là một công việc thường ngày của sinh viên thì ở Việt Nam việc khai thác các bản án của Tòa án tối cao Việt Nam là một việc xa lạ. Chúng tôi có hỏi một số sinh viên học luật ở Việt Nam và được biết là việc khai thác bản án của Tòa án tối cao Việt Nam gần như không tồn tại. Phần lớn sinh viên luật ở Việt Nam chỉ được tiếp cận với bản án của Tòa án tối cao khi có cơ hội thực tập tại Tòa án. Chúng tôi có tham gia giảng dạy sau đại học luật do trường Đại học Ngoại thương tổ chức và thấy rằng sinh viên Việt Nam rất lúng túng khi được yêu cầu phân tích bản án.

III. LỢI ÍCH CỦA VIÊC CÔNG BỐ BẢN ÁN

Trong thực tế, việc công bố bản án của Tòa án tối cao có rất nhiều lợi ích. Chúng tôi xin nêu một số lợi ích cơ bản của việc công bố này.

Thứ nhất, việc công bố bản án sẽ củng cố việc áp dụng thống nhất pháp luật. Trong thực tế, rất nhiều vấn đề pháp lý không có văn bản điều chỉnh nhưng tòa án vẫn phải giải quyết. Và ở đây, thường có nhiều quan điểm khác nhau và các thẩm phán có thể đưa ra những phán quyết không thống nhất. Việc công bố các bản án sẽ giúp các luật gia thấy được sự không thống nhất để từ đó tìm ra hướng giải quyết chung. Xin trích một ví dụ trong thực tế pháp lý Pháp liên quan đến thuê mua tài chính để minh họa.

Trong quan hệ thuê mua tài chính, một bên (bên A) mua tài sản (tài sản S) của một bên (bên B) để cho một bên khác thuê (bên C). Đến cuối hợp đồng, bên thuê có thể mua tài sản S. Trong quan hệ này có hai hợp đồng: hợp đồng mua bán tài sản S giữa A và B; hợp đồng thuê tài sản S giữa A và C. Hai hợp đồng này có cùng một đối tượng là tài sản S. Hai hợp đồng trên có hoàn toàn độc lập với nhau không? Việc hợp đồng mua bán giữa A và B bị vô hiệu (do nhầm lẫn, do bị lừa, do vi phạm điều cấm…) hay bị hủy (do thỏa thuận hay do vi phạm hợp đồng) có làm vô hiệu hóa hợp đồng giữa A và C không?

Trong một số bản án được công bố11, theo Phòng dân sự số 01 Tòa án tư pháp tối cao Pháp, câu trả lời là có: Việc hợp đồng mua bán giữa A và B bị hủy làm chấm dứt hợp đồng giữa A và C. Tuy nhiên, trong một số bản án khác được công bố12, theo Phòng thương mại Tòa án tư pháp tối cao Pháp, câu trả lời là không. Trước sự không thống nhất giữa Phòng thương mại và Phòng dân sự được thể hiện trong các bản án được công bố, hai Phòng trên đã phải họp lại với nhau và đi đến câu trả lời chung trong bản án ngày 23 / 11/199013: Việc hợp đồng mua bán giữa A và B bị hủy làm chấm dứt hợp đồng giữa A và C. Ngày nay, các Phòng của Tòa án tối cao Pháp đã thống nhất giải quyết như bản án ngày 23/ 11/ 199014.

Thứ hai, việc công bố bản án có lợi cho công tác lập pháp. Trong thực tế, khi xây dựng một quy phạm pháp luật, các nhà làm luật thường xuất phát từ một hoàn cảnh pháp lý cụ thể trong khi đó một bản án cho biết một hoàn cảnh pháp lý cụ thể và giải pháp tương ứng của Tòa án. Do vậy, việc công bố bản án cho phép nhà lập pháp biết thực trạng pháp luật của nước mình và đánh giá tính hợp lý của quy phạm ghi nhận trong bản án được công bố đối với một hoàn cảnh pháp lý cụ thể.

Trong thực tế ở Pháp, các nhà lập pháp thường xuyên để ý đến các bản án được công bố và chấp nhận giải pháp của Tòa án bằng cách luật hóa chúng trong một văn bản cụ thể. Xin dẫn một ví dụ liên quan đến con nuôi có yếu tố nước ngoài. Theo bản án ngày 07/11/1984 của Tòa án tối cao Pháp, pháp luật của nước mà đứa trẻ là công dân được áp dụng để điều chỉnh việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi hoặc để xác định ai là người đại diện có quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi15. Giải pháp trên đã được ghi nhận trong Hiệp định về con nuôi giữa Việt Nam và Pháp: theo Điều 8 của Hiệp định, “việc xác định cá nhân, tổ chức có quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi và hình thức thể hiện sự đồng ý đó tuân theo pháp luật của nước ký kết mà trẻ em đó là công dân”.

Trong thực tế Pháp, đôi khi các nhà lập pháp không chấp nhận giải pháp ghi nhận trong bản án được công bố vì ý tưởng của họ không giống ý tưởng của Tòa án. Ví dụ, theo bản án ngày 30/10/1905 của Tòa án tư pháp tối cao Pháp, khi vợ và chồng có cùng một quốc tịch, pháp luật điều chỉnh ly hôn là pháp luật của nước mà vợ và chồng có quốc tịch16. Quy định này cho phép pháp luật nước ngoài của vợ và chồng được áp dụng để điều chỉnh ly hôn khi vợ và chồng có cùng quốc tịch nước ngoài mặc dù họ sống trên lãnh thổ Pháp. Song nhân dịp sửa đổi pháp luật về hôn nhân và gia đình năm 1975, các nhà lập pháp Pháp lại quy định khác. Theo họ, pháp luật Pháp được áp dụng để điều chỉnh ly hôn khi vợ và chồng sống trên lãnh thổ Pháp ngay cả khi họ có cùng một quốc tịch nước ngoài (xem Điều 310 Bộ luật Dân sự Pháp).

Về quan hệ giữa nhà lập pháp và Tòa án, cũng cần nói thêm là việc công bố bản án sẽ giúp cho các nhà lập pháp biết những quy phạm mà họ thiết lập được áp dụng như thế nào, có hiệu quả không và có được tôn trọng không trong thực tế. Nói một cách khác, việc công bố bản án sẽ giúp các nhà lập pháp giám sát tốt hơn việc áp dụng văn bản pháp luật mà họ đã thiết lập.

Thứ ba, việc công bố bản án sẽ làm tăng chất lượng luật gia. Nó tạo cho công tác xét xử minh mạch hơn, sẽ làm giảm hiện tượng thẩm phán tùy tiện trong hoạt động tố tụng. Nó sẽ làm giảm hiện tượng một vấn đề pháp lý hôm nay được giải quyết thế này trong một bản án và ngày mai được giải quyết khác trong một bản án khác. Khi biết rằng bản án của mình sẽ được công bố, các thẩm phán sẽ thận trọng hơn, nghiêm túc hơn khi xét xử và viết án.17 Ở Pháp, người dân rất tôn trọng thẩm phán. Khi nói đến thẩm phán, họ thường dùng những từ ngữ có nhiều niềm tin và tôn trọng. Trong thực tế, Tòa án có được lòng tin và sự tôn trọng của người dân là do chất lượng xét xử được thể hiện qua các bản án được công bố.

Cũng xin nói thêm là việc công bố bản án không chỉ góp phần vào củng cố chất lượng của thẩm phán mà cả của học sinh, sinh viên, những người nghiên cứu pháp luật. Bản án được công bố sẽ là tài sản vô giá đối với họ. Khi được tiếp cận thường xuyên các bản án được công bố, những người này sẽ có cách nhìn và tư duy thực tiễn hơn. Họ sẽ ít bỡ ngỡ hơn khi đi vào thực tiễn.

Các ví dụ nêu trên liên quan đến pháp luật Pháp. Song, thiết nghĩ nó cũng đúng với Việt Nam.

Để minh họa cho sự cần thiết của việc công bố bản án của Tòa án tối cao Việt Nam, chúng tôi xin dẫn trường hợp người nước ngoài gốc Việt Nam mua nhà ở Việt Nam. Theo pháp luật Việt Nam, những người này được quyền mua nhà ở khi thỏa mãn một số điều kiện. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp người nước ngoài mua nhà ở thông qua người quen mặc dù họ không được pháp luật Việt Nam cho phép. Chúng ta cần phải xử lý các trường hợp này như thế nào? Từ vài năm gần đây, Tòa án tối cao đã phải giải quyết vấn đề này. Theo Tòa án tối cao, nhà ở được giao cho cơ quan thi hành án để bán đấu giá. Nếu số tiền bán đấu giá nhiều hơn số tiền mà người nước ngoài đã giao thì người nước ngoài chỉ được nhận phần đã giao, phần còn lại sung vào công quỹ nhà nước.18

Nhưng vì bản án không được công bố nên phần lớn mọi người không biết giải pháp cụ thể ra sao.

Việc công bố bản án của Tòa án tối cao Việt Nam về vấn đề này sẽ cho phép các nhà lập pháp biết rõ thực trạng tôn trọng văn bản và giải pháp của Tòa án là như thế nào. Nó cho phép các tòa án địa phương cũng như các Tòa thuộc Tòa án tối cao tìm ra hướng áp dụng thống nhất pháp luật về vấn đề trên. Đồng thời nó cho phép người quan tâm hiểu được thực trạng pháp lý Việt Nam như thế nào về vấn đề được nêu.

Tóm lại, so với ở Pháp, việc công bố bản án của Tòa án tối cao ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Trong khi dường như tất cả bản án của Tòa án tối cao Pháp ngày nay được công bố thì tuyệt đại đa số bản án của Tòa án tối cao Việt Nam lại không được công bố. Đây là một điều đáng tiếc vì công bố bản án của Tòa án tối cao là cần thiết, có nhiều lợi ích và hoàn toàn có thể làm được ở Việt Nam, nhất là khi chúng tôi được biết rằng các bản án hiện nay được đánh trên máy vi tính. Chúng ta đang tiến hành cải cách tư pháp, thiết nghĩ cũng nên thay đổi cách nhìn về bản án của Tòa án tối cao. Đã đến lúc chúng ta phải cho rằng các phán quyết của Tòa án tối cao không phải là tài sản riêng của Tòa án mà là tài sản chung của quốc gia bởi vì, khi xét xử, Tòa án chỉ nhân danh Nhà nước cộng hòa xã hội Việt Nam, Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Tài liệu tham khảo:

1 Về vấn đề công bố bản án của tòa án ở Mỹ, xem thêm Lưu Tiến Dũng, Công bố phán quyết của Tòa án, Cảm nghĩ một luật sư, Tạp chí Tòa án Nhân dân, tháng 1-2005 (số 2).

2 Về vai trò của Internet, xem thêm Đặng Thị Thu Thảo, Internet – Một kênh tiếp cận pháp luật và khả năng tiếp cận án lệ ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 02/2005.

3 Theo Tư pháp quốc tế, khi có quyền miễn trừ xét xử nhà nước này không thể bị tòa án nhà nước kia xét xử và khi có quyền miễn trừ thi hành án thì nhà nước này không bị tòa án nhà nước kia áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành bản án.

4 Xem kết luận được công bố trên Tạp chí Dalloz năm 2005, tr. 616 và tiếp theo.

5 Bản án được công bố trên Tạp chí Dalloz năm 1929 (tr. 172, bình luận Savatier) và trên Tạp chí Sirey năm 1930 (tr. 49, bình luận Niboyet).

6 Bản án được công bố trên Bản tin bản án năm 1984 (phần I, số 98), Tạp chí Dalloz năm 1984 (tr. 629 và tiếp theo, kết luận Fabre và bình luận Bobert), Tạp chí JCP năm 1984 (phần II, số 20205, kết luận Gulphe và bình luận Synvet), Tạp chí JDI năm 1984 (tr. 598, bình luận Oppetit), Tạp chí RCDIP năm 1984 (tr. 664, bình luận Bischof), Tạp chí Rev. arb. năm 1985 (tr. 69, bình luận Couchez) và trong cuốn Những bản án quan trọng của Tư pháp quốc tế Pháp (bản án số 65).

7 Bản án được công bố trên Bản tin bản án năm 1985 (phần I, số 236), Tạp chí JCP năm 1985 (phần II, số 20566, kết luận Gulphe, bình luận Synvet), Tạp chí JDI năm 1986 (tr. 170, bình luận Oppetit), Tạp chí RCDIP năm 1985 (tr. 527, bình luận Audit) và trong cuốn Những bản án quan trọng của Tư pháp quốc tế Pháp (bản án số 66).

8 Xem bản án ngày 25.01.2005, được công bố trên Tạp chí Dalloz năm 2005 (tr. 620 và 621).

9 Xem Tạp chí Dân chủ và pháp luật,2001, số tr 20-23.

10 Xem Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 1-2005 (số 1), tr. 16 và tiếp theo.

11 Ví dụ bản án ngày 03 tháng 03 năm 1982, được công bố trên Tạp chí Gazettes du Palais năm 1983, phần I, tr. 71, bình luận Defossez.

12 Ví dụ bản án ngày 15 tháng 03 năm 1983, được công bố trên Bản tin bản án năm 1983, phần IV, số 103 và trên Tạp chí Gazettes du Palais năm 1983, phần II, tr. 484, bình luận Delgrange.

13 Bản án được công bố trên Tạp chí Dalloz năm 1991, tr. 121, bình luận Larroumet và trên Tạp chí Contrats-conc.- consomm. năm 1991, bình luận Leveneur.

14 Về vấn đề này, xem thêm Đỗ Văn Đại, Vai trò của lợi ích tư nhân trong hợp đồng ở Pháp, Nxb PUAM 2004, với lời giới thiệu của Hiệu trưởng GS.TS. J. Mestre, tr.134.

15 Bản án được công bố trên Tạp chí RCDIP năm 1985, tr. 533, bình luận Simon-Depitre; Tạp chí Clunet năm 1985, tr.

434, bình luận Gaudemet-Tallon; Tạp chí Dalloz năm 1985, tr. 459, bình luận Posson-Drocourt; Tạp chí Defrénois năm

1985, tr. 1006, bình luận Massip và trong cuốn Những bản án quan trọng của Tư pháp quốc tế Pháp (bản án số 67).

16 Bản án được công bố trên Tạp chí Sirey năm 1911, phần I, tr. 581.

17 Về nâng cao hiệu quả công tác viết án ở Việt Nam, xem thêm Đào Thị Hằng, Một số ý kiến về phương pháp viết bản án lao động sơ thẩm, Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 2-2005 (số 4), tr. 27 và tiếp theo.

18 Xem bản án số 60/DSPT ngày 23/5/1998, thụ lý số 280/DSPT ngày 29/11/1997; bản án số

295/DSPT ngày 26/9/2003, thụ lý số 207/DSPT ngày 14/8/2003.

Các bài viết cùng tác giả: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22%C4%90%E1%BB%96+V%C4%82N+%C4%90%E1%BA%A0I%22

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2005

HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ CỔ PHẦN HÓA

THS. LÝ QUỐC HÙNG

Nghị định 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần ngày 16 tháng 11 năm 2004 là văn bản đã đưa ra những quy định thông thoáng, chặt chẽ, phù hợp hơn với tiến trình thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Tuy nhiên, do đây là Nghị định của Chính phủ nên không thể quy định hết các điều kiện, trình tự, thủ tục và các bước công việc để chuyển DNNN sang công ty cổ phần. Văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định đã được cụ thể hoá bằng Thông tư 126/2004/TT-BTC ngày 24 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính. Sau một thời gian thực hiện, thông tư 126 đã nảy sinh một số bất cập cần hoàn thiện để việc cổ phần hoá các DNNN được nhanh, công khai, minh bạch, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, tập thể và người lao động.

1. Vấn đề kế thừa liên doanh

Trong những năm qua, có nhiều DNNN thực hiện liên doanh với các công ty nước ngoài theo các hình thức được quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, khi DNNN tiến hành cổ phần hoá, các trường hợp sau có thể xảy ra (quy định tại điểm 1.5 phần B Mục II – Xử lý tài chính khi cổ phần hoá của Thông tư 126):

- Trường hợp doanh nghiệp có kế thừa liên doanh thì phải tính giá trị vốn góp liên doanh vào giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Điều 20 của Nghị định 187/2004/NĐ-CP.

- Trường hợp các doanh nghiệp không kế thừa liên doanh, thì cơ quan có thẩm quyền quyết định cổ phần hoá (là các Bộ, UBND cấp tỉnh) xem xét, xử lý theo ba hướng. Một là bán lại số vốn góp của doanh nghiệp cho đối tác hoặc nhà đầu tư khác. Hai là, chuyển giao cho doanh nghiệp khác làm đối tác sau khi thỏa thuận, thống nhất với đối tác liên doanh. Ba là, chấm dứt liên doanh .

Đây là những quy định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có sự chọn lựa hợp lý cho mình, khi tiến hành cổ phần hoá, là có thể tiếp tục hay chấm dứt việc liên doanh trước khi chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Vấn đề là ở chỗ, quy định việc xác định giá trị để bán lại số vốn góp của DNNN trước đây khi tiến hành liên doanh, đặc biệt là trường hợp khi chuyển nhượng vốn đó cho chính đối tác trong liên doanh. Quy định tại Thông tư 126 còn chung chung “Giá bán phải sát với giá thị trường, nhưng không thấp hơn giá trị phần vốn góp theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất với thời điểm bán.” Quy định là giá phải sát với thị trường nhưng lại không có cơ sở để định giá, so sánh hay kiểm tra, kiểm soát của cơ quan khác, dẫn đến tuỳ thuộc hoàn toàn vào sự quyết định của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt DNNN cổ phần hóa. Lý do nữa mà chúng ta ai cũng rõ là phần vốn góp của DNNN vào liên doanh chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị thực của nó tăng theo cùng thời gian, nhất là ở các thành phố lớn hay vị trí thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ đó thấy rằng, phần thiệt thòi có thể sẽ thuộc về Nhà nước bởi cái “chốt an toàn” của giá chuyển nhượng là không thấp hơn giá trị phần vốn góp theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất. Như vậy, thuận lợi cho các bên, cấp thẩm quyền duyệt cổ phần hóa nhưng không hợp lý hoá được lợi ích Nhà nước.

2. Thực hiện bán đấu giá cổ phần

Theo quy định, việc bán đấu giá cổ phần được thực hiện thông qua tổ chức tài chính trung gian với trường hợp có tổng mệnh giá của cổ phần từ trên 1 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng và tại Trung tâm giao dịch chứng khoán với trường hợp có tổng mệnh giá của cổ phần bán đấu giá trên 10 tỷ đồng. Quy định của Thông tư 126 cũng không hạn chế các trường hợp có số cổ phần bán đấu giá thấp hơn các mức trên nhưng có nhu cầu thì vẫn được bán qua Trung tâm giao dịch chứng khoán (dưới 10 tỷ đồng) hay tổ chức tài chính trung gian (mức dưới 1 tỷ đồng). Quy định này thể hiện tính công khai, minh bạch cao, không “khép kín” như trước đây và qua đấu giá cổ phần, phần thu về cho ngân sách Nhà nước là cao hơn, như các trường hợp của Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn, Sông Hinh, Điện lực Khánh Hoà và nhiều trường hợp khác.

Các quy định của Nghị định 187/2005/NĐ-CP và Thông tư 126/TT-BTC cũng không có quy định nào hạn chế hay cấm đối với những trường hợp tham gia đấu giá cổ phần. Điều này có nghĩa là, những người có khả năng tài chính đều có quyền tham gia đấu giá không hạn chế. Tuy nhiên, thực tế có thể xảy ra là một số người hoặc cá nhân tham gia đấu giá có quan hệ mật thiết, ruột thịt với người lãnh đạo của tổ chức tài chính trung gian đứng ra bán cổ phần, thông qua đó họ có thể nắm vững thông tin về tình hình của doanh nghiệp (ở đây đề cập đến doanh nghiệp cổ phần hoá có khả năng sinh lợi cao) sẽ đấu giá cổ phần được chính xác hơn. Từ đó họ có khả năng mạnh dạn trong việc quyết sách các mức giá để mua hay “thâu tóm” cổ phần. Hệ quả của nó tuy không có vấn đề gì nghiêm trọng, nhưng ảnh hưởng tới tính bình đẳng trong đấu giá cổ phần và có thể làm “méo mó” kết quả đấu giá, gây ra những kiện tụng sau này. Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan, cần quy định những điều kiện hạn chế hay cấm những người có quan hệ ruột thịt với lãnh đạo các tổ chức tài chính trung gian không được tham gia đấu giá cổ phần khi tổ chức trung gian đó đứng ra bán đấu giá.

Về cơ bản, các quy định về cổ phần hoá DNNN của Nghị định 187/2005/NĐ-CP và Thông tư 126/TT-BTC đã được triển khai, áp dụng có kết quả. Việc hoàn thiện các vấn đề nêu trên nhằm hoàn chỉnh quy định là điều cần làm để việc cổ phần hóa DNNN ngày một tốt hơn.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP KỲ 1 THÁNG 5/2006

 

 

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. NGUYỄN THỊ HOĄI PHƯƠNG  -  Khoa Luật Dân sự, trường ĐH Luật TP. HCM

Từ năm 1989 đến nay, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (29/11/1989) là văn bản pháp lý cao nhất quy định về trình tự, thủ tục để tòa án áp dụng giải quyết xét xử các vụ án dân sự. Việc ban hành văn bản này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xét xử của tòa án, bên cạnh đó bảo đảm cho các đương sự thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, sự phát triển của các quan hệ xã hội ngày càng phong phú, các tranh chấp dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình chứa đựng sự đa dạng, phức tạp của đời sống trong cơ chế thị trường, thì Pháp lệnh này đã thể hiện nhiều bất cập, làm giảm hiệu quả của hoạt động xét xử. Thực tiễn đòi hỏi phải có một văn bản hoàn chỉnh hơn, phù hợp hơn, đầy đủ và linh hoạt hơn để áp dụng cho trình tự tố tụng tại tòa án khi xét xử giải quyết tranh chấp. Việc gấp rút soạn thảo, ban hành Bộ luật tố tụng dân sự là một tất yếu khách quan.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số điểm mới cơ bản trong dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự (lần VI) so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) để bạn đọc cùng tham khảo.

Thứ nhất: Về phạm vi điều chỉnh

Nếu như PLTTGQCVADS chỉ quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án được quy định tại Điều 10 trong Pháp lệnh thì dự thảo Bộ luật có phạm vi điều chỉnh rất rộng. Cụ thể dự thảo quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự và thủ tục giải quyết các vụ kiện, các yêu cầu, khiếu nại và nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng dân sự, hiệu lực của bản án, quyết định của tòa án và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi cá nhân trong việc tôn trọng và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án. Các quy định trong Bộ luật được áp dụng để giải quyết các vụ kiện, các yêu cầu, khiếu nại về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân – gia đình và các vụ việc khác mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của tòa án (trừ hình sự và hành chính).

Như vậy, theo tinh thần của dự thảo, các quy định trong các Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế và lao động, hôn nhân – gia đình hiện hành sẽ được dự thảo tổng hợp, hoàn thiện thành nội dung của Bộ luật.

Thứ hai: Về trách nhiệm cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh

Điều 94 dự thảo quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và có trách nhiệm chứng minh. Thẩm phán có quyền ấn định một thời hạn nhất định cho đương sự xuất trình chứng cứ, hết thời hạn đó mà không xuất trình thì mất quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây là vấn đề mới trong tố tụng dân sự nước ta, bảo đảm thực hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của các đương sự, tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án trong quá trình thực hiện chức năng giải quyết xét xử án dân sự, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế về tố tụng dân sự.

Thứ ba: Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Ngoài 7 biện pháp đã được quy định tại Điều 41 PLTTGQCVADS thì tại Điều 111 dự thảo quy định thêm 4 biện pháp mới gồm: Cấm thay đổi hiện trạng đang tranh chấp (khoản 6); Phong tỏa tài sản tại ngân hàng, phong tỏa tài khoản tại nơi gửi giữ (khoản 8); Kê biên tạm giữ tài sản (khoản 10).

Điều 129 khoản 2 quy định: Các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ mất hiệu lực nếu có quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ.

Điều 133 quy định: Nếu đương sự không chấp hành quyết định này thì có thể bị phạt tiền. Điều 134 còn quy định: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo tinh thần Điều 624

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 1/2003

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN

TS. PHẠM THỊ GIANG THU – Khoa Pháp luật kinh tế, trường ĐH Luật Hà Nội

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã qua 3 năm chính thức vận hành. Yếu tố có ảnh hưởng rất quan trọng tới thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam là hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh toàn bộ thị trường. Bài viết này xin được trao đổi về một số nội dung pháp lý cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các chủ thể kinh doanh chứng khoán. “Chủ thể kinh doanh chứng khoán được hiểu là những đối tượng được pháp luật cho phép tiến hành các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Chủ thể kinh doanh chứng khoán bao gồm: công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty tư vấn đầu tư”1. Với quan điểm như vậy, chúng tôi cho rằng, những quy định về các vấn đề sau cần sớm được giải quyết.

Thứ nhất, xác định rõ nội hàm của khái niệm kinh doanh chứng khoán.

Kinh doanh chứng khoán là một hoạt động cụ thể của kinh doanh, mặc dù nó có những nét đặc thù riêng. Nếu một hoạt động chứng khoán hàm chứa đầy đủ đặc tính của kinh doanh thì cũng phải được coi là hoạt động kinh doanh chứng khoán. Nếu lập luận này được chấp nhận, thì ngoài 5 hình thức kinh doanh chứng khoán mà pháp luật quy định, chúng tôi cho rằng còn có những hoạt động khác cũng là kinh doanh chứng khoán. Việc chưa xác định đầy đủ nội hàm kinh doanh chứng khoán sẽ tạo ra những đối xử khác nhau cho cùng một loại hành vi như nhau, có nghĩa là không công bằng. Cần phải xác định rõ về tiêu chí để nhận diện hoạt động kinh doanh chứng khoán. Chúng tôi cho rằng những hoạt động liên quan đến chứng khoán do các chủ thể đủ điều kiện thực hiện, tiến hành nhằm mục đích kiếm lời là các hoạt động kinh doanh chứng khoán mà không nhất thiết chỉ là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư.

Những hoạt động có liên quan đến chứng khoán có đủ các yếu tố nêu trên trong hiện tại là hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, hoạt động lưu ký chứng khoán. Trong tương lai, có thể sẽ xuất hiện thêm những loại hành vi mới như định mức tín nhiệm. Thực tế, khái niệm kinh doanh chứng khoán được các quốc gia có thị trường định nghĩa theo những cách khác nhau, nhưng thường lựa chọn phương án đưa dấu hiệu nhận diện hoặc phương án liệt kê. Mỗi phương án đều có những ưu nhược điểm riêng nên hiện nay có xu hướng xích lại gần cách định nghĩa về kinh doanh chứng khoán. Các nước có thị trường chứng khoán mới nổi thường xác định theo phương pháp liệt kê nhưng họ cũng tạo ra những cửa mở cho những hoạt động có thể sẽ hình thành. Cũng có ý kiến cho rằng vì kinh doanh chứng khoán là một ngành nghề đặc biệt nên phải xác định rõ nội dung kinh doanh trong ngành nghề này, tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi, cho đến thời điểm hiện tại, các chủ thể thực hiện các hoạt động chứng khoán nêu trên đều đã tuân thủ điều kiện luật định. Pháp luật hiện hành quy định các tổ chức muốn hoạt động lưu ký chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký, hoạt động quản lý quỹ. Nhân viên hành nghề lưu ký, quản lý quỹ đầu tư là người đã được Ủy ban chứng khoán cấp giấy phép hành nghề lưu ký, kinh doanh chứng khoán2. Nếu so sánh với những tiêu chuẩn của hoạt động kinh doanh chứng khoán ghi nhận tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 thì không có điểm gì khác biệt.

Việc xác định đúng nội hàm của hoạt động kinh doanh chứng khoán theo chúng tôi có ý nghĩa quan trọng. Để đảm bảo tính tôn nghiêm của pháp luật, các chủ thể có cùng điều kiện, môi trường kinh doanh, đối tượng kinh doanh và mục đích kinh doanh, phải có cùng những quy định pháp luật điều chỉnh. Nói cách khác, các chủ thể cùng tiến hành kinh doanh chứng khoán phải được đối xử như nhau về quyền và nghĩa vụ, cơ quan quản lý, thực hiện chế độ tài chính kế toán và báo cáo tài chính kế toán. Chẳng hạn những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, các quỹ phòng ngừa rủi ro, dự trữ bắt buộc cần phải được áp dụng thống nhất mà trong thực tế những vấn đề này chưa thực hiện được.

Thứ hai, xác định cụ thể bản chất pháp lý của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, các chủ thể khác tham gia hoạt động chứng khoán cũng như các điều kiện khả thi để những mô hình này có thể chính thức ra đời.

Xuất phát từ những luận giải về khái niệm kinh doanh đã đề cập, chúng tôi cho rằng, đi đôi với việc xác định lại nội hàm của khái niệm kinh doanh chứng khoán, cần phải xem xét bản chất pháp lý công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.

Nếu xét nội dung hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua chứng chỉ quỹ đầu tư thì cơ chế hoạt động của công ty quản lý quỹ là cơ chế ba bên: công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; ngân hàng giám sát; nhà đầu tư. Thực tiễn thị trường thời gian qua cho thấy chưa có một công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán nào chính thức ra đời (có thể mới ở giai đoạn manh nha, những bước khởi động ban đầu cho cơ chế đầu tư ấy). Dự định liên doanh của Dragol Capital với Ngân hàng cổ phần Thương Tín, Prudential Việt Nam có thể coi là những ví dụ. Câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý, cho cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật là tại sao cho đến thời điểm hiện tại, chưa có mô hình này tồn tại trong thực tế ? Có lẽ nguyên nhân xuất phát từ chính nội dung của các quy định pháp luật hiện hành. Pháp luật hiện hành chỉ quy định đây là pháp nhân thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, nhưng bản chất của nó có phải là công ty chứng khoán hay không lại chưa có khẳng định rõ ràng. Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các nhà làm luật cũng như các nhà quản lý đều công nhận đây là một loại công ty chứng khoán. Chẳng hạn quan điểm “Đối với Việt Nam, công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các hình thức kinh doanh chứng khoán. Riêng hình thức quản lý quỹ đầu tư, yêu cầu phải được hoạt động tách rời dưới hình thức một công ty độc lập”3 đã được phổ cập đến đông đảo người quan tâm. Điều này có nghĩa hoạt động quản lý đầu tư chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán là một công ty chứng khoán. Tuy nhiên, đây chỉ là những suy diễn hoặc diễn giải “ngoài hành lang”, mà không phải là một quy định pháp luật. Điều này thực sự gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật.

Việc đưa ra những đề xuất liên quan đến bản chất của công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không chỉ xuất phát từ yêu cầu áp dụng pháp luật mà còn là một đòi hỏi khách quan của những người có dự định kinh doanh chứng khoán theo hình thức này. Nếu như những nội dung liên quan đến công ty chứng khoán có thể coi là khá rõ ràng thì đối với công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán vẫn còn đang mở. Chẳng hạn, việc xác định các loại thu nhập của công ty quản lý quỹ, ưu đãi hoặc miễn trừ nghĩa vụ trong những trường hợp nhất định có được áp dụng tương tự công ty chứng khoán. Về vấn đề này, Ủy ban chứng khoán Nhà nước thừa nhận “là không thực tế”4, cần phải sớm điều chỉnh lại cho phù hợp.

Vì hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được thực hiện theo cơ chế giám sát ba bên (trong khi đó Hội đồng những người đầu tư, Điều lệ quỹ còn đang là những nội dung hết sức không rõ ràng nên lòng tin của người đầu tư còn là vấn đề cần tiếp tục xem xét) thì vai trò của ngân hàng giám sát phải càng đặc biệt đề cao. Nhiệm vụ của ngân hàng là bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư nên hoạt động của nó gắn với chứng khoán. Mặc dù đây không phải là hoạt động cơ bản của ngân hàng, cũng chưa nằm trong nội hàm của kinh doanh chứng khoán nên không xác định được căn cứ pháp lý cho loại hình hoạt động này, những biện pháp an toàn trong kinh doanh của ngân hàng có được áp dụng đối với hoạt động này hay không? Cần phải có những quy định mới, cụ thể và chi tiết liên quan đến cơ chế giám sát của ngân hàng giám sát, những quy định về bảo đảm an toàn tài sản của quỹ (tách bạch khỏi khối tài sản mà ngân hàng đang thực hiện hoạt động kinh doang ngân hàng thông thường). Ngoài ra, chúng tôi cho rằng người đầu tư cũng giống như người có tiền gửi tại tổ chức tín dụng, cũng là những người “thiếu hiểu biết một cách ngay tình” trong kinh doanh ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, cần phải bảo vệ quyền lợi của họ thông qua cơ chế bảo hiểm bắt buộc đối với tài sản quỹ.

Tham gia thị trường chứng khoán, không chỉ có nhà phát hành, người đầu tư, công ty chứng khoán mà còn có nhiều loại chủ thể khác cũng tham gia với mục đích kiếm lời. Họ có thể là những nhà kinh doanh chuyên nghiệp (không phải là người đầu tư kể cả trường hợp đầu tư có tổ chức). Việc tham gia của họ không chỉ tạo ra cơ hội sử dụng vốn của người đầu tư trực tiếp, mà còn tạo ra sức cạnh tranh mới cho thị trường, tạo ra chính sự ổn định thị trường trong thế cạnh tranh đó. Chúng tôi có thể đặt ra một vài loại chủ thể đại diện.

Nếu hoạt động định mức tín nhiệm là hoạt động phổ biến tại thị trường các quốc gia thì vấn đề này còn rất mới đối với Việt Nam. Đó là việc “đánh giá đúng về khả năng của một người phát hành có thể thanh toán đúng nợ gốc và lãi của một chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại loại công cụ này”5. Việc tồn tại các tổ chức định mức tín nhiệm sẽ tạo niềm tin cho người đầu tư vào các trái phiếu lưu hành trên thị trường, cũng tạo ra cơ hội xác định đúng đắn về giá chứng khoán, sự lựa chọn đầu tư của người đầu tư.

Đối với các ngân hàng lưu ký, thanh toán chứng khoán, thực tiễn đang tiến hành các hành vi gắn với giao dịch chứng khoán, với mục đích kiếm lời, nhưng đây có phải là chủ thể kinh doanh chứng khoán hay không? Pháp luật hiện hành vẫn chưa xét tới vấn đề này. Câu hỏi này liên quan đến chế độ chịu trách nhiệm của ngân hàng lưu ký với nhà đầu tư chứng khoán. Ngoài ra, hoạt động lưu ký, thanh toán của các ngân hàng này có tách bạch hoàn toàn với nghiệp vụ ngân hàng hay không? Theo Báo cáo của Ngân hàng đầu tư phát triển (Ủy ban chứng khoán chỉ định là ngân hàng thanh toán) thực hiện rất nhiều nghiệp vụ gắn với giao dịch chứng khoán, nhưng không có báo cáo nào về việc tách bạch hoạt động này với các hoạt động kinh doanh ngân hàng khác6. Ở đây chưa tính tới phương hướng mở rộng nghiệp vụ của Ngân hàng Đầu tư trong tương lai về vấn đề này. Với lý lẽ đó, chúng tôi cho rằng cần sớm phải xác định lại vị trí của ngân hàng lưu ký, ngân hàng thanh toán trong tổng thể các loại chủ thể tham gia kinh doanh chứng khoán. Gắn liền với vấn đề “ngân hàng chỉ định thanh toán, ngân hàng đầu mối” chúng tôi cũng đề xuất sớm mở rộng hơn đối tượng có thể tham gia vào hoạt động này, bởi lẽ thực tiễn hiện nay nếu áp dụng chế độ chỉ định, đây là biểu hiện rõ nét của tính độc quyền trong kinh doanh, mà

sự độc quyền ấy do chính Nhà nước (thông qua cơ quan chức năng thực hiện), không phù hợp với yêu cầu của cơ chế kinh tế mới. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm nền kinh tế thị trường ở nước ta trong nhiều trường hợp không tránh khỏi độc quyền nhà nước (không đồng nghĩa với độc quyền tự nhiên), nhưng là các lĩnh vực “vật liệu nổ, hóa chất độc, chất phóng xạ, hệ thống truyền tải điện quốc gia, mạng trụ thông tin quốc gia và quốc tế, sản xuất thuốc lá điếu”7. Ngay cả đối với những trường hợp chấp nhận có độc quyền, cũng không được phép đẩy độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.

Thứ ba, xây dựng lại và chuẩn hóa một số điều kiện thành lập hoạt động của công ty chứng khoán, kể cả điều kiện đối với chủ thể có yếu tố nước ngoài.

Là loại hình kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, công ty chứng khoán cũng giống như một nhóm các loại chủ thể như doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng, cần có mức vốn tối thiểu trước khi thực hiện hành vi kinh doanh trong thực tế, tức cần có vốn pháp định. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, mức vốn pháp định hiện nay quy định cho lĩnh vực kinh doanh này chưa phù hợp với thực tiễn và chưa đáp ứng được yêu cầu bình đẳng trong kinh doanh. Khảo sát thực tế 9 công ty chứng khoán hiện nay cho thấy đó đều là công ty con của ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tài chính phi ngân hàng. Vấn đề ở chỗ, công ty mẹ khi đầu tư vốn thông qua việc thành lập công ty chứng khoán đều phải sử dụng vốn sở hữu chủ, mà chỉ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số vốn sở hữu chủ. Đây cũng là cách nhìn nhận hoàn toàn đúng đắn của công ty mẹ để phân tán rủi ro cũng như tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Câu hỏi đặt ra là họ sẽ đầu tư mức tối đa là bao nhiêu? Kết quả điều tra cho thấy các doanh nghiệp đầu đàn của Việt Nam như hàng không, điện lực, bưu chính viễn thông, xi măng, dầu khí chưa có kế hoạch thành lập công ty chứng khoán. Các doanh nghiệp khác, hoặc vì vốn sở hữu chủ còn khiêm tốn, kinh doanh chứng khoán còn là lĩnh vực mới mẻ, chưa có nhu cầu tham gia8.

Việc xác định mức vốn pháp định cho các công ty chứng khoán, theo ý kiến chúng tôi cũng cần phải xem xét tới những quy định có liên quan đến những lĩnh vực kinh doanh đặc thù, gắn liền với tiền tệ. Cần phải cải tiến lại phương pháp xác định mức vốn, đảm bảo bình đẳng cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh. Pháp luật hiện hành quy định mức vốn pháp định riêng cho từng hình thức kinh doanh chứng khoán nhằm hạn chế

rủi ro cho nhà đầu tư đồng thời cũng tăng tiềm lực tối đa cho công ty chứng khoán. Nếu muốn thực hiện đồng thời nhiều loại hình kinh doanh chứng khoán, công ty chứng khoán phải có vốn pháp định là tổng số vốn quy định cho từng loại hình. So sánh với những quy định về vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, có những khác biệt lớn, mà sự thiệt thòi thuộc về các công ty chứng khoán. Luật Tổ chức tín dụng quy định doanh nghiệp muốn kinh doanh tiền tệ, cần phải có vốn điều lệ ít nhất bằng vốn pháp định. Khi đã có đủ điều kiện nêu trên, họ được phép thực hiện tất cả các loại hình kinh doanh ngân hàng khác nhau theo tính chất của doanh nghiệp được thành lập9. Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm cũng quy định tương tự như Luật tổ chức tín dụng10, họ được phép thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm khác nhau mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về vốn cho các sản phẩm bảo hiểm. Theo quan điểm của chúng tôi, hoạt động kinh doanh chứng khoán cũng giống như hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh ngân hàng, đều là hoạt động có độ rủi ro lớn; đối tượng kinh doanh là các phương tiện tài chính nên quy định khác biệt về vốn pháp định cho công ty chứng khoán là không đảm bảo bình đẳng trong kinh doanh. Xét quy định của một số quốc gia có thị trường, chúng tôi nhận thấy quy định về vấn đề này cũng rất cụ thể. Luật Chứng khoán Trung Quốc quy định vốn pháp định cho công ty chứng khoán đa năng là 500 triệu NDT; công ty môi giới là 50 triệu NDT11. Điểm khác biệt của công ty chứng khoán đa năng là chúng được thực hiện tất cả các loại hình kinh doanh chứng khoán mà không tách bạch điều kiện vốn cho từng loại hình. Trong khi đó Luật Chứng khoán Singapore lại quy định vốn ròng là 3 triệu USD12. Với những phân tích trên, quan điểm của chúng tôi là cần quy định mức vốn pháp định cho công ty chứng khoán theo hướng nhóm hoạt động môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, khi đã có đủ điều kiện môi giới nếu có nhu cầu tư vấn đầu tư có thể được Ủy ban Chứng khoán cấp phép mà không cần tăng vốn. Nhóm hoạt động bảo lãnh phát hành, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư có thể quy định điều kiện riêng về vốn cho từng hình thức kinh doanh nhưng khi đã được phép bảo lãnh phát hành thì có thể thực hiện thêm các hoạt động khác mà không cần tăng vốn. Giải quyết vấn đề này không đơn giản tạo cơ hội cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện hữu mà quan trọng hơn, sẽ kích hoạt cho các nhà đầu tư dự định thành lập công ty mới.

Gắn với sự ra đời của công ty chứng khoán là việc thành lập và cho phép hoạt động kinh doanh chứng khoán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trước khi xác định điều kiện, trình tự, thủ tục để cho ra đời một pháp nhân kinh doanh chứng khoán, chúng tôi muốn đề cập tới bản chất pháp lý của pháp nhân. Đối với các doanh nghiệp hình thành bằng nguồn vốn trong nước, việc thành lập và hoạt động dựa trên cơ sở hoặc Luật Doanh nghiệp, hoặc Luật Doanh nghiệp nhà nước, hoặc luật đơn hành. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc thành lập còn dựa trên cơ sở Giấy phép đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thực tế đặt ra nếu có nhu cầu thành lập công ty chứng khoán liên doanh thì trách nhiệm cho ra đời pháp nhân này thuộc về ai? Hoặc trong trường hợp doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, được thành lập tại Việt Nam, có nhu cầu thành lập công ty con, cơ sở pháp lý để thành lập loại hình này là văn bản pháp lý nào? Thực tiễn quản lý các chủ thể kinh doanh chứng khoán hiện nay của các nhà quản lý đang lúng túng, vướng mắc về vấn đề này. Ủy ban Chứng khoán nhà nước quy định “các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài muốn kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam phải thành lập công ty liên doanh với đối tác Việt Nam theo giấy phép do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp”13. Quy định này được hiểu công ty chứng khoán liên doanh sẽ do Ủy ban Chứng khoán thành lập và cấp giấy phép hoạt động, không phù hợp với tinh thần tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998. Theo quan điểm của chúng tôi, cần phải có sự thống nhất giữa Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Kế hoạch đầu tư trong quá trình thực hiện, bởi lẽ Luật Đầu tư nước ngoài đã quy định cụ thể về việc thành lập các doanh nghiệp có vốn hoặc có nguồn gốc vốn của nước ngoài; Nghị định 48/1998/NĐ-CP cũng quy định khá cụ thể nhiệm vụ của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chỉ “cấp giấy phép hoạt động cho các công ty chứng khoán”14. Tuy nhiên, một khả năng khác cũng có thể lựa chọn là có nên cho phép Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các công ty chứng khoán hay không? Xét theo quy định của các văn bản Luật điều chỉnh các lĩnh vực đặc thù nhưng lại có điểm chung với kinh doanh chứng khoán là kinh doanh ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm thì Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam15; Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm trên lãnh thổ Việt Nam16. Lựa chọn theo phương án này theo chúng tôi có rất nhiều ưu điểm bởi lẽ kinh doanh chứng khoán là một hoạt động kinh doanh có điều kiện, yêu cầu quản lý chặt chẽ, nhưng nếu rải nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý khác nhau thì thực tiễn sẽ rất khó khăn cho các chủ thể dự định đầu tư; đồng thời có những công đoạn sẽ gặp rắc rối cho cả đối tượng quản lý và đối tượng bị quản lý.

Nếu chấp nhận phương án cho rằng công ty quản lý quỹ cũng là một loại công ty chứng khoán thì những đề xuất nêu trên sẽ được áp dụng cả đối với công ty quản lý quỹ. Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến xác định có cho phép hình thành quỹ đầu tư liên doanh đồng thời với việc thành lập công ty hay không; trình tự thủ tục liên quan cũng cần được làm rõ.

Về điều kiện chuyên môn đối với các thành viên sáng lập cũng là vấn đề cần phải xem xét thêm. Điều kiện Giám đốc và người kinh doanh phải có giấy phép hành nghề kinh doanh chứng khoán17 khó có tính khả thi. Để có được điều này người được đề nghị cấp giấy phép hành nghề phải “đáp ứng đủ các điều kiện sau đây theo đề nghị của công ty chứng khoán”18. Quy định này dẫn tới một vòng lẩn quẩn bởi lẽ bản thân pháp nhân là công ty chứng khoán đang cố gắng để thành lập. Trước khi xin cấp giấy phép hoạt động, phải chờ thời gian “30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ”19 để xin Giấy phép hành nghề, có nghĩa cần phải có thời gian đáng kể mà không phải là 30 ngày. Nếu xem xét dưới góc độ của một nhà kinh doanh, chúng tôi cho rằng, đây là thủ tục cực kỳ phiền hà mà không có hiệu quả, làm mất đi cơ hội kinh doanh. Một phương án khác đặt ra, vậy các

cá nhân này đã hành nghề tại một công ty chứng khoán khác chuyển thành lập hoặc làm việc cho công ty chứng khoán xin giấy phép hoạt động có phải là phương án phù hợp? Phương án này không thực sự phù hợp bởi lẽ đây không phải là vấn đề đúng cho mọi trường hợp và liệu rằng có khả năng việc “ra đi” của họ sẽ kèm theo một hệ quả là đề nghị bị thu hồi giấy phép hành nghề hay không?

Thứ tư, mở rộng phạm vi hoạt động của công ty chứng khoán

Khó có thể nói rằng công ty chứng khoán của chúng ta hiện nay theo mô hình đa năng hay mô hình chuyên doanh. Vì vậy, liên quan đến hoạt động của các chủ thể kinh doanh chứng khoán, chúng tôi đề xuất đến một số yêu cầu cụ thể sau:

Pháp luật hiện hành quy định công ty chứng khoán “chỉ được phép kinh doanh chứng khoán theo nội dung giấy phép”20. Quy định này có thể hiểu theo hai hướng. Hướng thứ nhất, các chủ thể chỉ được phép hoạt động kinh doanh theo những hình thức đã ghi nhận

là hoạt động kinh doanh chứng khoán đã đăng ký và cấp phép, mà không được phép thực hiện bất kỳ hoạt động kinh doanh nào khác, kể cả các hoạt động liên quan đến chứng khoán. Với cách hiểu này chúng tôi có đề xuất nhằm mở rộng cơ hội kinh doanh cho chủ thể kinh doanh chứng khoán.

Một là nên cho phép các công ty chứng khoán thực hiện một hoặc một số hoạt động kinh doanh ngân hàng… Thực tiễn các công ty chứng khoán không phải là công ty con của ngân hàng thương mại đang gặp những khó khăn trong việc cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Vì vậy, nếu cho phép các công ty chứng khoán thực hiện thêm một số hoạt động kinh doanh ngân hàng mà các hoạt động đó gắn liền với hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ giải quyết được khó khăn đó; đồng thời cũng xóa đi những bất lợi của các công ty chứng khoán độc lập. Để hạn chế rủi ro xảy ra cho nhà đầu tư chứng khoán hoặc cho các hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc quy định trước phạm vi khách hàng cũng như các nội dung kinh doanh ngân hàng cũng hoàn toàn cần thiết. Xét đề nghị này với quy định của Luật Tổ chức tín dụng hoàn toàn phù hợp21 đồng thời thực tế Ngânhàng Nhà nước đã cấp phép hoạt động kinh doanh ngân hàng cho các tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng22.

Hai là, đối với từng nội dung kinh doanh chứng khoán, pháp luật cũng phải có quy định

rõ cụ thể từng nội dung. Chẳng hạn như, đối với bảo lãnh phát hành chứng khoán, bao gồm những nội dung nào, tương tự như vậy đối với môi giới, tự doanh, tư vấn… Với những quy định như “việc lập hồ sơ xin phép phát hành phải được ít nhất một công ty tham gia tư vấn và chịu trách nhiệm trong phạm vi tư vấn”23. Vậy tư vấn phát hành nằm trong nội dung của hoạt động kinh doanh nào? Trong giai đoạn bảo lãnh phát hành hay tư vấn đầu tư chứng khoán? Quy định này gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán. Việc chỉ rõ nội hàm của từng nội dung kinh doanh chứng khoán sẽ tránh được hiện tượng xâm lấn nội dung kinh doanh này sang nội dung kinh doanh khác; đồng thời cũng sẽ dễ dàng hơn rất nhiều cho chính các cơ quan quản lý khi tìm kiếm căn cứ, cơ sở pháp lý để xác định một hành vi có vi phạm pháp luật hay không. Về phía chủ thể kinh doanh chứng khoán, họ cũng rất cần được biết và phải biết giới hạn phạm vi kinh doanh của họ. Pháp luật không chỉ dành riêng cho nhà quản lý.

Ba là, trong những kiến nghị đã đề cập, nếu phương án xác định mở rộng khái niệm kinh doanh chứng khoán rộng hơn so với quy định hiện hành được chấp nhận cũng đồng nghĩa với việc chủ thể kinh doanh chứng khoán có cơ hội hơn khi xác định các nội dung kinh doanh của mình. Vấn đề này không chỉ đề cập tới các công ty chứng khoán, công ty quản

lý quỹ đầu tư mà còn đối với các chủ thể khác thực tế đang thực hiện hoạt động gắn trực tiếp với chứng khoán.

Thứ năm, chuẩn hóa quy định về phá sản các loại chủ thể kinh doanh chứng khoán

Đối với phá sản công ty chứng khoán, còn có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Một số chuyên gia pháp lý cho rằng, kinh doanh chứng khoán là lĩnh vực đặc thù, việc giải thể phá sản một công ty chứng khoán có ảnh hưởng nhất định đến thị trường, đến lợi ích của nhà đầu tư và có thể gây ra hậu quả mang tính dây chuyền… Có thể có những công ty chứng khoán của nhà nước (trong điều kiện mới hình thành thị trường chứng khoán) không được phá sản hoặc phá sản có điều kiện. Một số ý kiến cho rằng, công ty chứng khoán có thể bị tuyên bố phá sản như bất kỳ doanh nghiệp nào khác. Chúng tôi cho rằng, công ty chứng khoán cũng có thể bị tuyên bố phá sản theo trình tự phá sản có điều kiện và nhất thiết phải quy định cụ thể vấn đề này tại văn bản pháp luật tương xứng. Luật Chứng khoán nhiều quốc gia trên thế giới không quy định cụ thể vấn đề phá sản công ty chứng khoán, nhưng Luật Công ty thường lại quy định cụ thể vấn đề này. Chẳng hạn, Luật Công ty Trung Quốc quy định cụ thể về việc tuyên bố phá sản mà không quy định tại luật chuyên ngành. Quá trình sửa đổi Luật Phá sản doanh nghiệp cũng phải đưa các doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán trong diện phá sản có điều kiện. Tuy nhiên, liệu các công ty chứng khoán chỉ thực hiện dịch vụ môi giới chứng khoán, dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán nhất thiết phải nằm trong diện phá sản có điều kiện không? Đây cũng là vấn đề cần bàn. Các công ty chứng khoán chỉ có thể bị tuyên bố phá sản theo đề nghị của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, sau khi đã khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán chi trả mà không khôi phục được. Mặt khác, cũng giống như việc khắc phục hậu quả xảy ra sau khi phá sản doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (trừ doanh nghiệp chuyên môi giới bảo hiểm), phải quy định rõ việc chuyển trách nhiệm cũng như các nghĩa vụ có liên quan của công ty chứng khoán đối với khách hàng.

Thứ sáu, những kiến nghị khác nhằm ổn định thị trường cho các chủ thể kinh doanh chứng khoán

Một là phải cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của khách hàng.

Tiến hành hoạt động kinh doanh chứng khoán, một đối tượng thường xuyên của các chủ thể kinh doanh là khách hàng của mình. Họ có thể là nhà đầu tư có tổ chức hoặc người đầu tư cá thể. Nhưng xét trong mối tương quan với chủ thể kinh doanh chứng khoán, họ thường thiếu hiểu biết hơn. Sự thiếu hiểu biết ở đây hoàn toàn chấp nhận được và pháp luật bảo hộ cho chính sự thiếu hiểu biết đó. Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi có một số đề xuất cụ thể:

- Phải tách bạch các hoạt động của công ty chứng khoán để đảm bảo quyền lợi cho người đầu tư, gắn trách nhiệm của công ty chứng khoán và người hành nghề kinh doanh chứng khoán với những thiệt hại công ty gây ra cho khách hàng, kể cả biện pháp ký quỹ của nhân viên kinh doanh chứng khoán. Quy định cụ thể để tách bạch hoạt động này ở Việt Nam còn quá mỏng, chưa đủ để giám sát việc thực hiện trong thực tế cũng như các chế tài cũng còn quá hình thức, chưa gây áp lực được đối với đối tượng có hành vi vi phạm. Yêu cầu tách bạch hoạt động môi giới và tự doanh của công ty chứng khoán phải thực hiện càng sớm, càng có lợi cho người đầu tư.

- Khi hành nghề, các công ty chứng khoán và nhân viên công ty chứng khoán phải gắn trách nhiệm của mình với những thiệt hại gây ra cho khách hàng, kể cả trách nhiệm vật chất. Đối với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, cũng giống như các hoạt động tư vấn khác, phải có những tiêu chuẩn nhất định cho người hành nghề. Pháp luật các nước có thể đề ra những quy định rất cụ thể, thậm chí áp dụng tiền ký quỹ đối với tổ chức tư vấn đầu tư và đối với ngay chuyên gia tư vấn. Đây chính là biện pháp đảm bảo trong chừng mực nhất định đối với chất lượng tư vấn. Lỗi trong giao dịch không phải chỉ xuất hiện đâu đó trên thị trường “đại gia” mà đã “chễm chệ” trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Lỗi giao dịch của Công ty Chứng khoán Sài Gòn 14/1/2002 là ví dụ điển hình.

- Cũng liên quan đến việc hành nghề chứng khoán, chúng tôi cho rằng, không chỉ yêu cầu công ty chứng khoán và nhân viên của mình phải chịu trách nhiệm vật chất đối với những thiệt hại đã gây ra cho khách hàng mà còn phải gắn trách nhiệm của bản thân nhân viên công ty với công ty.

Hai là tăng cường công tác hậu kiểm đối với các chủ thể kinh doanh chứng khoán.

Kể từ khi nước ta chyển cơ chế quản lý từ cơ chế hành chính trực tiếp sang cơ chế thị trường, vai trò của chính thành viên xã hội ngày càng được đề cao. Gắn với hoạt động kinh tế là cơ chế mở cho các chủ thể kinh doanh. Pháp nhân kinh tế được hình thành chủ yếu theo quyết định của chính các sở hữu chủ. Nhà nước chỉ là người xác nhận sự ra đời của các tổ chức ấy. Nhưng đi kèm với chế độ công nhận là những biện pháp giám sát việc tuân thủ pháp luật kinh doanh của chính các chủ thể kinh doanh – công tác hậu kiểm. Các chủ thể kinh doanh chứng khoán cũng không nằm ngoài cái chung đó. Thực trạng công tác hậu kiểm của chúng ta hiện nay đều được các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử cũng như các chuyên gia về vấn đề này thừa nhận rằng đang bị bỏ lửng hoặc quá yếu. Câu hỏi đặt ra là công tác hậu kiểm sẽ được áp dụng như thế nào? Riêng đối với công ty chứng khoán, những thực thể đang thực tế tồn tại tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán hiện nay, đã có những quy định cụ thể về chế độ báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh24 nhưng đối với các chủ thể có liên quan khác, những quy định này hiện nay đang thiếu hoặc chưa rõ ràng, hoặc có sự xâm lấn giữa công tác hậu kiểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán với các hoạt động kinh doanh khác.

Câu hỏi thứ hai là cơ quan nào sẽ thực hiện công tác hậu kiểm? Theo quy định của pháp luật hiện hành, đang có cùng lúc nhiều cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu chủ thể kinh doanh chứng khoán báo cáo kết quả hoạt động của mình. Có thể chỉ ra một số chủ thể mang tính đại diện như: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước với tư cách là cơ quan quản lý chuyên ngành; Cơ quan kế hoạch và đầu tư nếu đó là doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoặc Doanh nghiệp chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài; Bộ chủ quản nếu doanh nghiệp chứng khoán là công ty con của một doanh nghiệp nhà nước hạch toán toàn ngành. Nếu chấp nhận tất cả các cơ quan này đều có thẩm quyền thì trình tự hoặc thứ tự báo cáo được thực hiện như thế nào? Không có câu trả lời chính xác cho vấn đề này từ các quy định của pháp luật hiện hành. Vì vậy phải xác định chính xác, chính thức bằng văn bản pháp luật có hiệu lực cao để giải quyết những vấn đề trên. Đề xuất này, chúng tôi cho rằng cũng hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, nội dung công tác cải cách hành chính mà chúng ta đang quyết tâm thực hiện.

Câu hỏi thứ ba là, nếu doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán không làm tốt công tác hậu kiểm thì những chế tài nào sẽ được áp dụng và mức độ áp dụng có tương xứng hoặc thỏa đáng hay không? Nghị định 22/2000/NĐ-CP ngày 10/7/2000 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đang bị vướng bởi chính Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính25. Mức phạt, hình thức xử lý trong Nghị định 22 chưa tương xứng với những hậu quả pháp lý cũng như hậu quả kinh tế mà hành vi vi phạm có thể gây ra. Nói khác đi, với mức phạt cao nhất hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán không có nhiều ngại ngần, thậm chí sẵn sàng nộp phạt. Các chuyên gia về vấn đề này đã chỉ ra rằng: “Các chế tài được quy định đối với các vi phạm kinh tế chưa đủ sức ngăn chặn các vi phạm”26.

Trên đây là một số ý kiến cá nhân xin được trao đổi cùng với bạn đọc với mong muốn cuối cùng: Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và thịnh vượng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguồn: Ủy ban Chứng khoán nhà nước: Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về chủ thể kinh doanh chứng khoán, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Mã số UB.02.09, 2002, tr. 9.

2 Nguồn: Hệ thống hóa các văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, tập 1, tr. 255-256, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.

3 Nguồn: Chứng khoán và thị trường chứng khoán – Những kiến thức cơ bản, tr. 81, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, 1/1999.

4 Nguồn: Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Nghị định thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998, tr. 4, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, 2002.

5 Nguồn: Vai trò của các tổ chức định mức tín nhiệm trong các thị trường chứng khoán mới nổi, Công ty tài chính quốc tế, 1997.

6 Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động ngân hàng chỉ định thanh toán từ tháng 7/2000 đến tháng 6/2002 và phương hướng mục tiêu, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, 7/2002.

7 Nguồn: Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Phần 3 – Các giải pháp lớn.

8 Nguồn: Khả năng thành lập các công ty chứng khoán của các doanh nghiệp. Hy vọng – dè dặt trước một cơ hội mới, Hồ Khôi, Tạp chí Chứng khoán, số 8 (22) 2000, tr. 21 – 25.

9 Nguồn: Điều 83 Luật Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành về vốn pháp định áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.

10 Nguồn: Luật kinh doanh bảo hiểm, 2000.

11 Nguồn: Điều 121, 122 Luật Chứng khoán nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, 1998.

12 Nguồn: Matthew Harrison: Asia – Pacific Securities Market, page 440. Longman Group (far East) Ltd,

1991.

13 Nguồn: Điều 12 khoản 4 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo

Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

14 Nguồn: Điều 29 khoản 1 Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998.

15 Nguồn: Điều 5 khoản 1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

16 Nguồn: Luật Kinh doanh bảo hiểm.

17 Nguồn: Khoản 4, Điều 30 Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998.

18 Nguồn: Điều 12 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

19 Nguồn: Điều 16 khoản 2 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

20 Nguồn: Điều 3 Khoản 1 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

21 Nguồn: Điều 13, 14, 22 Luật Tổ chức tín dụng.

22 Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1999 – 2001.

23 Nguồn: Thông tư 02/2001/TT-UBCK ngày 28/9/2001.

24 Nguồn: Điều 23-30 Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998.

25 Nguồn: Lời nói đầu Nghị định 22/2000/NĐ-CP ngày 10/7/2000.

26 Nguồn: Những nền tảng pháp lý cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tr. 23, Bộ Tư pháp – Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2002.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2003

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: