THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO

PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH TỰ - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế mỗi nước. Tình hình sôi động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam, thời gian qua đã phản ánh hiện tượng kinh tế tốt lành. Sự phát triển của TTCK một cách ổn định là tác nhân quan trọng không chỉ cho sự phát triển của thị trường tài chính nói riêng mà đối với cả nền kinh tế nói chung. 

1. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam

Việc buôn bán cổ phiếu ở Việt Nam đã diễn ra sôi động kể từ sau khi các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, nhưng thị trường chứng khoán (TTCK) nước ta mới chính thức hoạt động từ năm 2000, kể từ khi ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28-7-2000. Khi đó mới có một vài cổ phiếu được giao dịch với tổng số vốn 27 tỉ đồng và 6 công ty chứng khoán thành viên. Hơn 6 năm đầu, mức vốn hoá của thị trường mới chỉ tăng lên 0,5 tỉ USD. Vài năm gần đây mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) và đến cuối tháng 4- 2007, đạt 24,4 tỉ USD (chiếm 38% GDP), tăng hơn 1400 lần so với năm 2000, và nếu tính cả trái phiếu thì đạt mức 46% GDP.

Số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng 704% so với năm 2000. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có sự gia tăng đáng kể. Tính đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đã đổ vào khoảng 4 tỉ USD. Theo dự tính, quy mô của thị trường còn tiếp tục được mở rộng do các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá sẽ tiếp tục niêm yết vào năm 2007-2008 trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với số vốn lên tới hàng ngàn tỉ đồng. (more…)

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LÊ QUÍ ĐỨC – VŨ THỊ HUỆ

Gia đình có vai trò to lớn mang tính đặc thù trong việc duy trì nòi giống và là môi trường nuôi dưỡng nhân cách của con người, không một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Để hình thành nhân cách con người Việt Nam hôm nay, cùng với việc phát huy vai trò của xã hội, chúng ta cần phát huy vai trò của gia đình.

Gia đình – “hạt nhân của xã hội”

Gia đình sẽ còn tồn tại mãi mãi trong đời sống xã hội, trong các cộng đồng người, nên cần nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình và giáo dục của gia đình đối với con người và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt”[1]. Nếu xét từ chiều sâu tư tưởng, đạo đức, tinh thần thì gia đình là hạt nhân của xã hội. Gia đình bao chứa những quan hệ nhân bản, sâu nhất của con người, gắn với bản chất của con người – tính người. (more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH VIỆC GIA HẠN NỢ

KHẮC LUYỆN – NHCT Phú Yên

Trong quan hệ vay vốn, việc khách hàng chậm trả nợ là điều khó tránh khỏi. Vẫn biết, chậm trả nợ dẫn đến gia hạn nợ phải xuất phát từ yếu tố khách quan, song cũng có trường hợp xin gia hạn nợ lại xuất phát từ yếu tố chủ quan của chính người vay vốn. Vậy làm cách nào để nhận biết và hạn chế được tình trạng gia hạn nợ không đúng hiện nay?
Thông thường, khi người vay vốn chưa có khả năng trả được nợ đúng hạn theo cam kết đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) trong các hợp đồng tín dụng thì họ phải làm đơn xin gia hạn nợ để có thời gian thu hồi vốn từ người mua hàng (gọi là thu hồi công nợ), hoặc tiếp tục đẩy mạnh bán hàng hoá tồn kho để có tiền trả nợ cho các TCTD. Trước đây, các TCTD quy định thời gian cho gia hạn trả nợ đối với khách hàng vay vốn tối đa bằng một chu kỳ sản xuất, kinh doanh nhưng không quá 12 tháng đối với cho vay ngắn hạn và bằng 1/2 thời gian vay vốn đối với cho vay trung hạn và dài hạn (Quyết định 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam). (more…)

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ TÊN DOANH NGHIỆP

TRẦN THỊ PHƯƠNG HẠNH -  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng…”, đây chính là đoạn đầu trong khái niệm doanh nghiệp được nghi nhận tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 (LDN 2005). Điều này cho thấy tên doanh nghiệp là một thành tố – một thành tố quan trọng – cấu thành doanh nghiệp. Tên có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của doanh nghiệp, nó gắn liền với sự tồn tại, hưng thịnh hay suy vong của doanh nghiệp. Hiểu được tầm quan trọng của tên doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã có những chiến lược xây dựng và bảo vệ đối với tên gọi của doanh nghiệp mình; bên cạnh đó, pháp luật kinh tế, đặc biệt là pháp luật doanh nghiệp, cũng đã tạo dựng một hành lang pháp lý nhằm bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp đối với tên gọi của doanh nghiệp.

1. Các yếu tố cấu thành tên doanh nghiệp

Cũng giống như con người, doanh nghiệp khi được khai sinh cũng cần có một cái tên. Tuy nhiên, khác với con người, doanh nghiệp là một sản phẩm nhân tạo mang tính pháp lý vì thế tên của doanh nghiệp phải thể hiện được những nội dung theo quy định của pháp luật, cụ thể là quy định của LDN 2005. Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 LDN 2005 thì tên doanh nghiệp phải viết được bằng tiếng Việt, có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được và có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp tên riêng.

Thành tố thứ nhất, loại hình doanh nghiệp là hình thức tổ chức của doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân. Thành tố thứ hai, tên riêng của doanh nghiệp là từ hoặc nhóm từ mà những người thành lập tùy ý đặt cho doanh nghiệp. Tên riêng của doanh nghiệp là yếu tố giúp phân biệt các doanh nghiệp với nhau, nhất là các doanh nghiệp có loại hình giống nhau hoạt động cùng ngành, nghề. Theo quy định của Nghị định số 8 8/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh doanh (sau đây viết tắt là Nghị định 88) thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể sử dụng tên riêng bằng tiếng nước ngoài đã đăng ký để cấu thành một phần hoặc toàn bộ tên riêng của doanh nghiệp. (more…)

HIỂU VÀ VẬN DỤNG QUI ĐỊNH ĐIỀU CHỈNH KỲ HẠN TRẢ NỢ NHƯ THẾ NÀO CHO ĐÚNG

VÕ MƯỜI – Ngân hàng Nhà nước Quảng Ngãi

Thời gian qua, việc thực hiện điều chỉnh kỳ hạn trả nợ đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) đi vào nề nếp, không những góp phần quan trọng vào công tác quản lý tín dụng, đặc biệt là tín dụng trung, dài hạn mà còn tạo điều kiện cho khách hàng vượt qua khó khăn tạm thời về tài chính và để phục hồi sản xuất kinh doanh, có nguồn trả nợ. Tuy niên, trong thực tiễn việc nhận thức và vận dụng qui định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ vẫn đang là nỗi băn khoăn của nhiều người. (more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: