TỜ TRÌNH VỀ DỰ ÁN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

CHÍNH PHỦ***Số: 23/TTr-CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do- Hạnh phúc

clip_image002

Hà Nội, ngày 25tháng 3 năm 2008

TỜ TRÌNH

Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự (phần liên quan đến lãi suất huy động vốn, cho vay vốn của tổ chức tín dụng và một số quy định khác liên quan đến việc áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố)

Kính gửi: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/NQ-QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007-2011) và năm 2008, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp với các Bộ ngành liên quan soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự (phần liên quan đến lãi suất huy động vốn, cho vay vốn của tổ chức tín dụng và một số quy định khác liên quan đến việc áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố). Sau quá trình nghiên cứu và soạn thảo, Chính phủ kính trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội những vấn đề cơ bản liên quan đến dự án Luật như sau:

I. Sự cần thiết phải ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự

1. Về quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với đối với loại cho vay tương ứng”.

Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện quy định này:

a. Đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng:

- Quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS không phù hợp với cơ chế tự do hoá lãi suất trong hoạt động ngân hàng:

Từ tháng 6/2002, theo chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bãi bỏ quy định các tổ chức tín dụng (TCTD) phải ấn định lãi suất cho vay theo lãi suất cơ bản cộng biên độ, các TCTD xác định lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm của khách hàng vay; NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản nhưng với mục đích định hướng lãi suất thị trường và chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với các TCTD khi ấn định lãi suất kinh doanh. Trong những trường hợp đặc biệt, khi lãi suất của các TCTD tăng cao, gây bất ổn cho thị trường tiền tệ, tín dụng, NHNN mới thực hiện việc can thiệp vào lãi suất của các TCTD để ổn định mặt bằng lãi suất, phục vụ cho việc tăng trưởng kinh tế.

Như vậy, về cơ bản, cơ chế tự do hoá lãi suất đã được thực hiện đối với hoạt động ngân hàng ở nước ta. Cụ thể là trong những điều kiện bình thường, các TCTD tự ấn định lãi suất kinh doanh trên cơ sở cung cầu vốn thực tế trên thị trường, NHNN không can thiệp trực tiếp vào lãi suất của các TCTD.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS thì đối với các TCTD sẽ quay trở lại cơ chế can thiệp lãi suất dựa trên lãi suất cơ bản của NHNN. Quy định này không phù hợp với chủ trương tự do hoá lãi suất của Đảng và Nhà nước ta và không phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Tự do hoá lãi suất theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế được hiểu là việc Ngân hàng Trung ương không thực hiện can thiệp trực tiếp vào lãi suất trên thị trường tiền tệ và lãi suất hoạt động kinh doanh của các TCTD, các lãi suất trên thị trường hình thành và biến động theo quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường. Sự can thiệp của Nhà nước lúc này chỉ bằng công cụ gián tiếp tác động lên cung – cầu vốn để kiểm soát lãi suất thị trường biến động phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Trong điều hành chính sách lãi suất, Ngân hàng Trung ương chỉ công bố các mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay của mình đối với các Ngân hàng thương mại. Khi đó, cơ cấu về các mức lãi suất (bao gồm lãi suất cho vay và huy động vốn) của các TCTD đối với nền kinh tế do TCTD tự quyết định dựa trên cơ sở cung – cầu về vốn và sự cạnh tranh trên thị trường, từ đó mà hình thành nên các mức lãi suất phản ánh đúng yêu cầu của thị trường. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hiện nay các nước phát triển đều thực hiện tự do hoá lãi suất như Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Anh, Ngân hàng Trung ương Nhật bản, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc…

- Mức khống chế lãi suất cho vay theo khoản 1 Điều 476 BLDS là quá thấp, không phù hợp với thực tế:

Trong thời gian vừa qua, lãi suất cơ bản do NNHN công bố chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với các TCTD khi ấn định lãi suất huy động vốn và cho vay vốn. Lãi suất cơ bản do NHNN công bố thường ở mức thấp hơn khá nhiều so với lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của các TCTD và chỉ điều chỉnh tăng, giảm với biên độ thấp nhằm tác động ổn định lãi suất thị trường và kiểm soát lạm phát.

Vì vậy, nếu áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS (khống chế lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản) thì sẽ dẫn đến rất nhiều hợp đồng cho vay của các TCTD vi phạm quy định này của BLDS.

b. Đối với các quan hệ cho vay dân sự khác:

Đối với các quan hệ cho vay dân sự như hụi, họ, biêu, phường, cho vay cầm đồ và các quan hệ cho vay dân sự khác, mức không chế lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS (không quá 150% lãi suất cơ bản) cũng là quá thấp, không phù hợp với thực tế.

2. Về quy định tại khoản 5 Điều 474 BLDS:

Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện quy định này:

a. Đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng:

Khoản 5 Điều 474 BLDS quy định: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và +lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Quy định này đã gây rất nhiều khó khăn cho các TCTD, vì nguyên tắc trên thị trường tín dụng là các khoản vay quá hạn phải bị phạt với lãi suất cao hơn các khoản vay trong hạn, do đó, nếu các TCTD áp dụng lãi suất nợ quá hạn bằng lãi suất cơ bản do NHNN công bố thì khách hàng vay sẽ có xu hướng chậm trả nợ vay ngân hàng để hưởng mức lãi suất nợ quá hạn thấp hơn lãi suất vay trong hạn, điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động của các TCTD.

b. Đối với các quan hệ cho vay dân sự khác:

Đối với các quan hệ cho vay dân sự như hụi, họ, biêu, phường, cho vay cầm đồ và các quan hệ cho vay dân sự khác, quy định tại khoản 5 Điều 474 BLDS cũng không hợp lý với cùng lý do như đã nêu đối với hoạt động cho vay của các TCTD.

3. Về một số quy định liên quan đến việc áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (khoản 2 Điều 305; khoản 2 Điều 436; khoản 4 Điều 474; khoản 5 Điều 474; khoản 1 Điều 476; khoản 2 Điều 476; khoản 2 Điều 576; Điều 709):

Tại các điều khoản nói trên quy định về việc áp dụng lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với từng loại thời hạn. Tuy nhiên, lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ có một mức, không có các mức khác nhau cho các thời hạn khác nhau. Do vậy, các quy định tại các điều khoản này không phù hợp với thực tế của lãi suất cơ bản do NHNN công bố.

Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc nêu trên, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng và các quan hệ dân sự khác trong xã hội, việc sửa đổi một số quy định của BLDS khoản 1 Điều 476; khoản 5 Điều 474; khoản 2 Điều 305, khoản 2 Điều 436, khoản 4 Điều 474, khoản 2 Điều 476, khoản 2 Điều 576, Điều 709 là hết sức cấp thiết.

II. Quan điểm xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định “Thực hiện chính sách lãi suất thoả thuận theo nguyên tắc thị trường và đi tới loại bỏ quy định hành chính đối với lãi suất ngoại tệ”. Quán triệt quan điểm chỉ đạo của đảng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của BLDS cần đáp ứng các yêu cầu sau:

- Tôn trọng sự tự do, tự thoả thuận của các bên trong quan hệ dân sự theo quy định của pháp luật.

- Lãi suất đối với hoạt động huy động vốn, cho vay vốn của các TCTD được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng. Lãi suất đối với các quan hệ cho vay dân sự khác vẫn cần khống chế mức lãi suất trần để tránh hiện tượng cho vay nặng lãi trong nhân dân, nhưng cần nâng mức khống chế cao hơn để bảo đảm tính hợp lý và tính khả thi.

- Lựa chọn một loại lãi suất thích hợp để làm căn cứ cho việc áp dụng pháp luật trong những trường hợp các bên không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được về lãi suất.

- Giữ nguyên tên gọi của các điều khoản được sửa đổi, bổ sung như nêu trên, chỉ sửa đổi nội dung của các điều, khoản đó.

III. Quá trình xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự

Tại Nghị quyết số 11/2007/NQ-QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007-2011) và năm 2008, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự (phần liên quan đến lãi suất huy động và cho vay vốn của tổ chức tín dụng) dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua vào tháng 5/2008.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ ngành liên quan nghiên cứu, soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự (phần liên quan đến lãi suất huy động vốn, cho vay vốn của tổ chức tín dụng và một số quy định khác liên quan đến việc áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố). Trong quá trình soạn thảo, Ngân hàng Nhà nước đã lấy ý kiến tham gia của các tổ chức tín dụng, các Bộ ngành liên quan. Các ý kiến đóng góp về cơ bản nhất trí với dự thảo Luật (Dự án Luật đã được Bộ Tư pháp thẩm định văn bản số 433/BTP-PLDSKT ngày 20/02/2008 và đã được các Thành viên Chính phủ nhất trí trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội).

IV. Nội dung Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự

Sau quá trình nghiên cứu, soạn thảo và tiếp thu các ý kiến của các Thành viên Chính phủ, dự án Luật đã hoàn thiện với các nội dung như sau:

1. Về việc sửa đổi khoản 1 Điều 476:

Để việc khống chế trần lãi suất đối với các quan hệ cho vay dân sự (hụi, họ, biêu, phường, cho vay cầm đồ và các quan hệ cho vay dân sự khác), dự thảo Luật quy định mức lãi suất cho vay do các bên thoả thuận nhưng tối đa không vượt quá 300% lãi suất trái phiếu Kho bạc thấp nhất của lần phát hành cuối cùng trước thời điểm cho vay (cơ sở chọn lãi suất trái phiếu Kho bạc được trình bày ở phần sau). Việc quy định mức lãi suất cao nhất mà các bên không được thoả thuận vượt quá mức lãi suất này cũng làm cơ sở cho quy định tại Điều 163 Bộ luật Hình sự về tội cho vay nặng lãi.

Đối với hoạt động huy động vốn và cho vay vốn của các TCTD, để phù hợp với cơ chế lãi suất tự do hoá lãi suất đã được thực hiện ở nước ta theo chủ trương của Đảng và Nhà nước và để phù hợp với đặc thù của hoạt động ngân hàng (kênh huy động vốn, cung cấp vốn chính của nền kinh tế và gắn liền với việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia), dự thảo Luật quy định lãi suất đối với hoạt động huy động vốn và cho vay vốn của các TCTD được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng.

Như vậy, khoản 1 Điều 476 được sửa đổi như sau:

Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 300% lãi suất trái phiếu Kho bạc thấp nhất của lần phát hành cuối cùng trước thời điểm cho vay. Lãi suất đối với hoạt động huy động vốn và cho vay vốn của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng”.

2. Về việc sửa đổi khoản 5 Điều 474:

Hiện nay, theo quy định của pháp pháp về ngân hàng, lãi suất nợ quá hạn do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất nợ trong hạn. Quy định này cũng phù hợp nếu được áp dụng cho các các quan hệ cho vay dân sự khác.

Trong trường hợp các bên không thoả thuận mức lãi suất nợ quá hạn, pháp luật cần quy định mức lãi suất nợ quá hạn cụ thể để làm cơ sở cho việc xử lý khi có tranh chấp về lãi suất (trường hợp này lãi suất nợ quá hạn được quy định cụ thể bằng 150% lãi suất trong hạn).

Theo hướng trên, khoản 5 Điều 474 được sửa đổi như sau:

“Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với nợ quá hạn theo lãi suất do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất tại hợp đồng vay, trường hợp các bên không thoả thuận thì lãi đối với nợ quá hạn bằng 150% lãi suất tại hợp đồng vay.”

3. Về việc sửa đổi một số quy định khác liên quan đến việc áp dụng lãi suất do NHNN công bố (khoản 2 Điều 305, khoản 2 Điều 436, khoản 4 Điều 474, khoản 5 Điều 474, khoản 1 Điều 476, khoản 2 Điều 476, khoản 2 Điều 576, Điều 709):

a. Về việc chọn lãi suất trái phiếu Kho bạc thay cho lãi suất cơ bản tại các quy định có liên quan của BLDS:

- Như đã trình bày ở trên, lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ mang tính tham khảo đối với việc ấn định lãi suất kinh doanh của các TCTD. Lãi suất cơ bản không phải là một loại lãi suất huy động vốn hay lãi suất cho vay cụ thể; hơn nữa, việc công bố mức lãi suất cơ bản là bao nhiêu còn nhằm mục đích điều hành chính sách tiền tệ quốc gia; do đó lãi suất cơ bản có thể không phản ánh đúng lãi suất thực tế trên thị trường.

Mặt khác, thực hiện chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu xây dựng dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) để trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp tháng 10/2008, định hướng xây dựng Luật Ngân hàng Nhà nước mới sẽ không còn quy định về lãi suất cơ bản. Như vậy, các quy định viện dẫn đến lãi suất cơ bản do NHNN công bố sẽ không còn cơ sở để thực hiện.

- Dự thảo Luật đã chọn lãi suất trái phiếu Kho bạc để làm cơ sở cho các quy định của BLDS có viện dẫn đến việc áp dụng lãi suất.

Cơ sở để chọn lãi suất trái phiếu Kho bạc vì lãi suất trái phiếu Kho bạc tương đối phản ánh đúng lãi suất thị trường và dễ xác định. Tại Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 của Chính phủ về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương đã quy định cụ thể về trái phiếu Kho bạc, theo đó trái phiếu Kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, do Kho bạc Nhà nước phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt của ngân sách nhà nước theo dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định. Đối tượng mua trái phiếu là các tổ chức tín dụng, các công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, các chi nhánh quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế của Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, các công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cá nhân là nước ngoài làm việc, sinh sống hợp pháp tại Việt Nam. Lãi suất trái phiếu Kho bạc do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định trên cơ sở tình hình thực tế của thị trường tài chính tại thời điểm phát hành; trường hợp đấu thầu lãi suất thì lãi suất hình thành theo kết quả đấu thầu.

b. Thực tế các quan hệ dân sự liên quan đến việc áp dụng lãi suất có thời hạn rất đa dạng, nhiều thời hạn không tương ứng với các thời hạn của trái phiếu Kho bạc. Trong các quan hệ dân sự, pháp luật luôn luôn trao cho các bên quyền tự thoả thuận và ưu tiên sự tự thoả thuận của các bên, trường hợp các bên không thoả thuận (ví dụ hợp đồng vay có lãi nhưng không xác định rõ lãi suất..) thì cần sự bảo vệ của pháp luật và sự bảo vệ của pháp luật cũng chỉ mang tính tương đối.

Do đó, để cho việc áp dụng pháp luật được đơn giản và khả thi, đồng thời cũng bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự, lãi suất trái phiếu Kho bạc được chọn làm cơ sở là lãi suất trái phiếu Kho bạc thấp nhất tại lần phát hành cuối cùng trước thời điểm đến hạn trả nợ (khi mà các bên không xác định rõ lãi suất vay) hoặc trước thời điểm đến hạn thanh toán (khi mà một bên không thanh toán đúng hạn)…

Việc sửa đổi các quy định của BLDS liên quan đến áp dụng lãi suất theo hướng trên cũng đảm bảo được sự thống nhất trong việc chọn lãi suất (lãi suất được chọn sẽ là duy nhất và không có các cách hiểu khác nhau) nhằm tạo thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật.

4. Về việc áp dụng pháp luật đối với các hợp đồng vay từ ngày 01/01/2006 (ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực) đến trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự có hiệu lực

Để các hợp đồng vay tài sản ngày 01/01/2006 (ngày BLDS có hiệu lực) đến trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLDS có hiệu lực không vi phạm quy định về lãi suất theo quy định của BLDS, nhất là đối với các hợp đồng cho vay của các TCTD, dự thảo Luật quy định:

“Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01tháng 01 năm2009.

Quy định tại Luật này cũng được áp dụng đối với các hợp đồng vay tài sản phát sinh từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 đến trước thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành được áp dụng quy định của Luật này”.

Trên đây là những nội dung cơ bản của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự (phần liên quan đến lãi suất huy động vốn, cho vay vốn của tổ chức tín dụng và một số quy định khác liên quan đến việc áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố), Chính phủ kính trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định để trình ra Quốc hội./.

Nơi nhận:- Như trên;- Thủ tướng Chính phủ;- Các Phó Thủ tướng Chính phủ;- Văn phòng Quốc hội;- Văn phòng Chính phủ;- Bộ Tư pháp;- Lưu: VPCP, NHNN.

TM. CHÍNH PHỦ

TUQ. THỦ TƯỚNG

THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

(đã ký)

CÁC BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/?s=%22vay+tài+sản%22

Một phản hồi

  1. xin hỏi là nghe nói năm nay bộ giáo dục quy định là thi đại học cao đẳng bằng sách mới mà theo nguồn tin được biết thì các sĩ tử năm ngoái bị rớt thì năm nay quyết tâm thi lại thì sẽ gặp trắc trở trong thi cử vì họ học hoàn toàn theo sách cũ

    thế thì bộ giáo dục có ưu đãi họ về vấn đề gì không?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 642 other followers

%d bloggers like this: