GIỚI THIỆU LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2005

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA ĐỔI LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 1993
Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 đã đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta. Lần đầu tiên, các khái niệm cơ bản về môi trường, bảo vệ môi trường được định nghĩa một cách chuẩn tắc, quyền và nghĩa vụ bảo vệ  môi trường của các tổ chức, cá nhân được quy định cụ thể và rõ ràng.
Qua hơn 10 năm thực hiện Luật, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện. Ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội được nâng lên. Mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế. Công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đạt được nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, trước những áp lực của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự diễn biến sôi động và toàn diện của toàn cầu hoá và hội  nhập kinh tế quốc tế, Luật Bảo vệ môi trường đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần được sửa đổi.

Một là,bản thân Luật Bảo vệ môi trường có những bất cập cần phải được điều chỉnh: nhiều quy phạm còn ở mức khung, thiếu cụ thể và chưa rõ ràng nên hiệu lực thi hành thấp; chưa luật hoá các chính sách lớn, quan trọng về phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Hai là, môi trường nước ta tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều khu đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức; đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch nhiều nơi chưa được bảo đảm.
Ba là, môi trường nước ta trong thời gian tới sẽ phải chịu áp lực rất lớn khi công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh: nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên rất lớn và gia tăng các nguồn thải gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, gia tăng dân số nhanh cũng gây nên nhiều vấn đề môi trường bức xúc. Bên cạnh đó, các vấn đề môi trường toàn cầu như biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm nguồn nước quốc tế có xu hướng tác động mạnh và nhiều mặt đến môi trường nước ta.
Bốn là, định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ trương cải cách hành chính đòi hỏi phải đổi mới và tăng cường thể chế về bảo vệ môi trường.
Với những bất cập, hạn chế và thách thức, yêu cầu nêu trên, việc sửa đổi một cách cơ bản và toàn diện Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 là cần thiết.
II. CÁC QUAN ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC THỂ HIỆN LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2005
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã thể hiện các quan điểm và nguyên tắc sau đây:
1. Quán triệt, thể chế hoá quan điểm Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng về việc cần thiết phải “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; đặc biệt là các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ đã nêu trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Phù hợp với thực tiễn trong nước, trình độ, năng lực thực thi pháp luật hiện tại của các đối tượng áp dụng Luật, đồng thời có tính đến yêu cầu bảo vệ môi trường của cả thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3. Kế thừa ưu điểm, khắc phục những bất cập của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993; luật hoá một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đã được kiểm nghiệm qua thực tế; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới về bảo vệ môi trường.
4. Gắn với yêu cầu đổi mới việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật và cải cách nền hành chính nhà nước. Theo đó, Luật Bảo vệ môi trường lần này đã đề ra các quy định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, vừa gắn kết và hài hoà với các luật chuyên ngành liên quan, vừa thể hiện rõ vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh các quan hệ liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường.
III. BỐ CỤC, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2005
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005; được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 29/2005/L/CTN ngày 12 tháng 12 năm 2005.
Luật có 15 chương, 136 điều. So với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 tăng 8 chương, 79 điều. Tất cả các chương, điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đều sửa đổi, bổ sung.
1. Chương I. Những quy định chung – gồm 8 điều (từ Điều 1 đến Điều 7) quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc bảo vệ môi trường; chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường; những hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích và những hành vi bị nghiêm cấm.
Về phạm vi điều chỉnh: Trước đây, Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 có phạm vi điều chỉnh là các hoạt động bảo vệ môi trường, bao gồm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 xác định: Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường. Như vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh so với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993. Ngoài việc quy định về hoạt động bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 còn quy định về chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường.
Về đối tượng áp dụng: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định cụ thể đối tượng áp dụng là các cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng điều ước quốc tế đó.
Về nguyên tắc bảo vệ môi trường: Nguyên tắc bảo vệ môi trường là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong quá trình bảo vệ môi trường. Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định việc bảo vệ môi trường phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hoà với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.
- Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hoá, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Về chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định cụ thể, bổ sung một số chính sách mới về bảo vệ môi trường so với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993. Các chính sách này thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về  phát triển bền vững, bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời từng bước thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường. Điều 5 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định 9 chính sách cơ bản của Nhà nước về bảo vệ môi trường, cụ thể là:
- Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường;
- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường;
- Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải;
- Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở  gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư;
- Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hàng năm;
- Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường (các từ ngữ “thân thiện với môi trường” được hiểu là không gây hại cho môi trường); kết hợp hài hoà bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển;
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường;
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường;
- Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại.
Một điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là đã quy định cụ thể những hoạt động bảo vệ môi trường được Nhà nước khuyến khích như:Tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học; bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; giảm thiểu, thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải; phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá huỷ tầng ôzôn; đăng ký cơ sở đạt tiêu chuẩn môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường; nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường; đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường; sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thân thiện với môi trường; cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường; bảo tồn và phát triển nguồn gen bản địa; lai tạo, nhập nội các nguồn gen có giá trị kinh tế và có lợi cho môi trường; xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thân thiện với môi trường; phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư; hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xoá bỏ hủ tục gây hại đến môi trường; đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường (Điều 6).
Đối với những hành vi bị nghiêm cấm, kế thừa quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định cụ thể, có bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với thực tế. Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định những hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:
- Phá hoại, khai thác trái phép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác;
- Khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật;
- Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loại thực vật, động vật hoang dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
- Chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng nơi quy định và quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường;
- Thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước.
- Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép;
- Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép;
- Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn môi trường;
- Nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức;
- Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi sinh vật ngoài danh mục cho phép;
- Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép;
- Xâm hại di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên;
- Xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường;
- Hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với sức khỏe và tính mạng con người;
- Che giấu hành vi huỷ hoại môi trường, cản trở hoạt động bảo vệ môi trường, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu đối với môi trường;
- Các hành vi bị nghiêm cấm khác về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
2. Chương II. Tiêu chuẩn môi trường – gồm 6 điều (từ Điều 8 đến Điều 13) quy định về nguyên tắc xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn môi trường; nội dung tiêu chuẩn môi trường quốc gia; hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia; yêu cầu đối với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh; yêu cầu đối với tiêu chuẩn về chất thải và ban hành, công bố áp dụng tiêu chuẩn môi trường quốc gia.
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 quy định việc ban hành một hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 chưa quy định một cách cụ thể, toàn diện về tiêu chuẩn môi trường làm căn cứ thực hiện xây dựng, ban hành, công bố, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn môi trường Việt Nam. Khắc phục tình trạng đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã dành hẳn một chương quy định về tiêu chuẩn môi trường. Theo đó, việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn môi trường phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: Đáp ứng mục tiêu bảo vệ môi trường; phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường; ban hành kịp thời, có tính khả thi, phù hợp với mức độ phát triển kinh tế- xã hội, trình độ công nghệ của đất nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; phù hợp với đặc điểm của vùng, ngành, loại hình và công nghệ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia bao gồm tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh và tiêu chuẩn về chất thải. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định cụ thể các nhóm tiêu chuẩn môi trường trong tiêu chuẩn môi trường xung quanh và tiêu chuẩn về chất thải (Điều 12).
Việc ban hành và công bố áp dụng tiêu chuẩn môi trường quốc gia cũng được Luật xác định rõ ràng, minh bạch. Theo đó, Chính phủ có quyền quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành và công nhận tiêu chuẩn môi trường quốc gia phù hợp với quy định của pháp luật về tiêu chuẩn hóa; Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, quy định lộ trình áp dụng, hệ số khu vực, vùng, ngành cho việc áp dụng tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với sức chịu tải của môi trường. Việc điều chỉnh tiêu chuẩn môi trường quốc gia được thực hiện năm năm một lần; trường hợp cần thiết, việc điều chỉnh một số tiêu chuẩn không còn phù hợp, bổ sung các tiêu chuẩn mới có thể thực hiện sớm hơn. Tiêu chuẩn môi trường quốc gia phải được công bố rộng rãi để tổ chức, cá nhân biết và thực hiện (Điều 13).

3. Chương III. Đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường (từ Điều 14 đến Điều 27), gồm 3 mục:
Mục 1. Đánh giá môi trường chiến lược gồm 4 điều (từ Điều 14 đến Điều 17) quy định về đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược.
Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững. Quy định về đánh giá môi trường chiến lược đối với các dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển là cần thiết vì việc bảo vệ môi trường sẽ không có hiệu quả trong một dự án cụ thể và riêng lẻ mà phải thực hiện đồng bộ, có tính đến nhiều yếu tố tác động khác nhau. Điều 14 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định rõ những đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược gồm: Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội cấp quốc gia; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, vùng; quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng; quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm; quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh.
Mục 2. Đánh giá tác động môi trường gồm 6 điều (từ Điều 18 đến Điều 23) quy định về đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường; thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 tiếp tục kế thừa những quy định hợp lý trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 về đánh giá tác động môi trường, đồng thời có những quy định phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định việc báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ được thực hiện trước đối với các dự án. Để bảo đảm phù hợp với thông lệ chung trên thế giới, Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường là các dự án sau đây:
- Dự án công trình quan trọng quốc gia;
- Dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử- văn hoá, di sản tự nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;
- Dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ;
- Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề;
- Dự án xây dựng mới đô thị, khu dân cư tập trung;
- Dự án khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn;
- Dự án khác có tiềm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu đối với môi trường.
Chủ các dự án trên có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án (Điều 19).
Các dự án trên chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt (Điều 22). Chủ dự án chỉ được đưa công trình vào sử dụng khi thực hiện đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường (Điều 23). Quy định này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Mục 3. Cam kết bảo vệ môi trường gồm 4 điều (từ Điều 24 đến Điều 27) quy định đối tượng phải có bản cam kết bảo vệ môi trường; nội dung bản cam kết; đăng ký bản cam kết và trách nhiệm thực hiện và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường.
Đây cũng là quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 so với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, nhằm nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Điều 24 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định đối với những cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình và những đối tượng không phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và báo cáo đánh giá tác động môi trường thì phải có bản cam kết bảo vệ môi trường. Những đối tượng này chỉ được triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sau khi đã đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường.
Việc đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường được quy định như sau: Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường; trường hợp cần thiết, có thể uỷ quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký. Thời hạn chấp nhận bản cam kết bảo vệ môi trường là không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản cam kết bảo vệ môi trường hợp lệ (Điều 26).
4. Chương IV. Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên – gồm 7 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) quy định về điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học; bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản phẩm thân thiện với môi trường; xây dựng thói quen tiêu dùng thân thiện với môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 quy định về bảo tồn và sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại Điều 12 và Điều 13. Tuy nhiên, những điều luật này mới dừng lại ở quy định chung. Khắc phục tình trạng này, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định về việc bảo tồn và sử dụng tài nguyên thiên nhiên thành một chương riêng.
Theo đó, các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải được điều tra, đánh giá trữ lượng, khả năng tái sinh, giá trị kinh tế làm căn cứ lập quy hoạch sử dụng và xác định mức độ giới hạn cho phép khai thác, mức thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường, ký quỹ phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại về môi trường và biện pháp khác về bảo vệ môi trường. Quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải gắn với quy hoạch bảo tồn thiên nhiên (Điều 28).
Đối với việc bảo tồn thiên nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định khu vực, hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học quan trọng đối với quốc gia, quốc tế phải được điều tra, đánh giá, lập quy hoạch bảo vệ dưới hình thức khu bảo tồn biển, vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn loài- sinh cảnh (Điều 29).
Đối với việc bảo vệ đa dạng sinh học, phải được thực hiện trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương và các đối tượng có liên quan. Đồng thời quy định cụ thể các biện pháp bảo vệ các loài động vật, thực vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng (Điều 30).
Đối với việc bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên, Nhà nước khuyến khích phát triển các mô hình sinh thái đối với thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc, khu dân cư, khu công nghiệp, khu vui chơi, khu du lịch và các loại hình cảnh quan thiên nhiên khác để tạo ra sự hài hoà giữa cảnh quan và thiên nhiên. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động quy hoạch, xây dựng, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt phải bảo đảm các yêu cầu về giữ gìn, tôn tạo cảnh quan thiên nhiên (Điều 31).
Đối với việc bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phải tuân theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải theo đúng nội dung bảo vệ môi trường quy định trong giấy phép khai thác, sử dụng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; khi kết thúc hoạt động thăm dò, khai thác phải phục hồi môi trường  theo quy định của pháp luật (Điều 32).
Đối với việc phát triển năng lượng sạch, tổ chức, cá nhân đầu tư, phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường được Nhà nước ưu đãi về thuế, hỗ trợ vốn, đất đai để xây dựng cơ sở sản xuất. Nhà nước khuyến khích sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm, hàng hoá ít gây ô nhiễm môi trường, dễ phân huỷ trong tự nhiên; sử dụng chất thải để sản xuất năng lượng sạch; sản xuất, nhập khẩu, sử dụng máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông dùng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo (Điều 33).
Đặc biệt Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định việc xây dựng thói quen tiêu dùng thân thiện với môi trường, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tiêu dùng các loại sản phẩm tái chế từ chất thải, sản phẩm hữu cơ, bao gói dễ phân huỷ trong tự nhiên, sản phẩm được cấp nhãn sinh thái và sản phẩm khác thân thiện với môi trường (khoản 1 Điều 34). Đây là quy định mới, đảm bảo cho phát triển bền vững, phù hợp với xu hướng chung của thế giới.
5. Chương V. Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm 15 (từ Điều 35 đến Điều 49) quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; bảo vệ môi trường đối với khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, làng nghề, bệnh viện, cơ sở y tế; trong hoạt động xây dựng, giao thông vận tải, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, nhập khẩu phế liệu, khoáng sản, du lịch, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, mai táng và xử lý cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 có quy định tại Điều 14, Điều 15 và Điều 16 về việc phòng chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường đối với các tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên những quy định này mới chỉ dừng lại ở quy định có tính nguyên tắc, chưa cụ thể trong từng lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Khắc phục tình trạng đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã có một chương riêng quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy định một cách cụ thể yêu cầu bảo vệ môi trường đối với các ngành, lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38); bệnh viện, cơ sở y tế (Điều 39); xây dựng (Điều 40); giao thông vận tải (Điều 41); thương mại (Điều 42, Điều 43); hoạt động khoáng sản (Điều 44); du lịch (Điều 45); sản xuất nông nghiệp (Điều 46); nuôi trồng thuỷ sản (Điều 47); hoạt động mai táng (Điều 48).
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định cụ thể trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ như: Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, bản cam kết bảo vệ môi trường đã đăng ký và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường; phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường từ các hoạt động của mình; khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động của mình gây ra; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người lao động trong cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình; thực hiện chế độ báo cáo về môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; chấp hành chế độ kiểm tra, thanh tra bảo vệ môi trường; nộp thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường.
Điều 49 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định những biện pháp chế tài mạnh trong việc xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường. Các hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường được quy định như sau: Phạt tiền và buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; tạm thời đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong biện pháp bảo vệ môi trường cần thiết; xử lý bằng hình thức khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trường hợp có thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc gây ô nhiễm môi trường thì còn phải bồi thường thiệt hại hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khi cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì ngoài việc bị xử lý theo các hình thức quy định nêu trên, còn bị xử lý bằng một trong các biện pháp sau: buộc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi môi trường; buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải của môi trường; cấm hoạt động.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng có sự phân định rõ trách nhiệm và thẩm quyền quyết định việc xử lý đối với cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng giữa các cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp (Khoản 3 Điều 49) .
6. Chương VI. Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư – gồm 5 điều (từ Điều 50 đến Điều 54) quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư; yêu cầu bảo vệ môi trường đối với đô thị, khu dân cư tập trung; bảo vệ môi trường nơi công cộng; yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình và quy định về tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 chưa có quy định riêng về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Nhiều đô thị mới, khu dân cư ra đời đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Song bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường ở đô thị và khu dân cư diễn ra phổ biến, nhiều nơi ở mức báo động. Chính vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã có một chương riêng quy định về bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư.
Đối với vấn đề quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư phải là một nội dung của quy hoạch đô thị, khu dân cư. Cấm xây dựng mới cơ sở sản xuất, kinh doanh tiềm ẩn nguy cơ lớn về ô nhiễm, sự cố môi trường trong đô thị, khu dân cư (Điều 50).
Bên cạnh việc quy định về yêu cầu bảo vệ môi trường đối với đô thị, khu dân cư tập trung, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường. Trong đó quy định rõ hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường như: Thu gom và chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi do tổ chức giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa bàn quy định; xả nước thải vào hệ thống thu gom nước thải; không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn và tác nhân khác vượt quá tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, sinh hoạt của cộng đồng dân cư xung quanh; nộp đủ và đúng thời hạn các loại phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; tham gia hoạt động vệ sinh môi trường khu phố, đường làng, ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư; có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm  vệ sinh, an toàn đối với khu vực sinh hoạt của con người; thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong hương ước, bản cam kết bảo vệ môi trường. Thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường là một trong những tiêu chí gia đình văn hóa (Điều 53).
Để nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường nơi công cộng, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quy định giữ gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng bị xử lý bằng các biện pháp sau đây: Phạt tiền; buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng; tạm giữ phương tiện có liên quan gây ra ô nhiễm môi trường (Điều 52).
Đồng thời, nhằm xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bảo vệ môi trường, Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống (Điều 54).
7. Chương VII. Bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác – gồm 11 điều (từ Điều 55 đến Điều 65). Đây là chương mới so với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993. Trong những năm gần đây, chất lượng các nguồn nước giảm mạnh do khai thác thiếu kế hoạch, không gắn với bảo vệ môi trường, đặc biệt tình trạng khai thác, đánh bắt thuỷ sản với số lượng lớn, bằng các phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, các chất độc, chất nguy hại vào nguồn nước còn diễn ra nhiều. Để bảo vệ hữu hiệu tài nguyên nước, đảm bảo phát triển bền vững, tăng hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, việc quy định vấn đề về bảo vệ  môi trường biển; môi trường nước trong lưu vực sông; môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch, hồ; môi trường hồ chứa nước phục vụ mục đích thuỷ lợi, thuỷ điện; môi trường nước dưới đất là cần thiết.
Mục 1. Bảo vệ môi trường biển gồm 4 điều (từ Điều 55 đến Điều 58) quy định nguyên tắc bảo vệ môi trường biển; bảo tồn, sử dụng hợp lý tài nguyên biển; kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển; tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển.
Đối với việc bảo vệ môi trường nước biển phải dựa trên nguyên tắc bảo vệ môi trường là một nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển nhằm giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường biển và tăng hiệu quả kinh tế biển; phòng ngừa và hạn chế chất thải từ đất liền và từ các hoạt động trên biển, chủ động, phối hợp ứng phó sự cố môi trường biển; bảo vệ môi trường biển phải trên cơ sở phân vùng, chức năng bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ môi trường biển phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển phục vụ phát triển bền vững. (Điều 55). Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ có tính huỷ diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển (Điều 56).
Mục 2. Bảo vệ môi trường nước sông gồm 4 điều (từ Điều 59 đến Điều 62) quy định nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông; kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường  nước trong lưu vực sông; trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường nước trong lưu vực sông và quy định về tổ chức bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông.
Đối với việc bảo vệ môi trường nước sông, việc phải tuân thủ nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông là một trong những nội dung cơ bản của quy hoạch khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước trong lưu vực sông. Các địa phương trên lưu vực sông phải cùng chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường nước trong lưu vực sông; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do tài nguyên nước trong lưu vực sông mang lại và bảo đảm lợi ích cho cộng đồng dân cư  (Điều 59). Nguồn thải trên lưu vực sông phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải pháp kiểm soát, xử lý trước khi thải vào sông. Chất thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản dưới lòng sông và chất thải sinh hoạt của các hộ gia đình sinh sống trên sông phải được kiểm soát và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường trước khi thải vào sông. Việc phát triển mới các khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tập trung trong lưu vực sông phải được xem xét trong tổng thể toàn lưu vực, có tính đến các yếu tố dòng chảy, chế độ thuỷ văn, sức chịu tải, khả năng tự làm sạch của dòng sông và hiện trạng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phát triển đô thị trên toàn lưu vực (Điều 60).
Mục 3. Bảo vệ môi trường các nguồn nước khác gồm 3 điều (từ Điều 63 đến Điều 65) quy định việc bảo vệ môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch, hồ chứa nước phục vụ mục đích thuỷ lợi, thuỷ điện, nước dưới đất.
Đối với việc bảo vệ môi trường nước hồ, ao, kênh, mương, rạch, nghiêm cấm tổ chức, cá nhân không được lấn chiếm, xây dựng mới các công trình, nhà ở trên mặt nước hoặc trên bờ tiếp giáp mặt nước hồ, ao, kênh, mương, rạch đã được quy hoạch; hạn chế tối đa việc san lấp hồ ao trong đô thị, khu dân cư. Không được đổ đất, đá, cát, sỏi, chất thải rắn, nước thải chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường và các loại chất thải khác vào nguồn nước mặt của hồ, ao, kênh, mương, rạch (Điều 63).
Đối với việc bảo vệ môi trường hồ chứa nước phục vụ mục đích thuỷ lợi, thuỷ điện, thì việc xây dựng, quản lý và vận hành hồ chứa nước phục vụ mục đích thuỷ lợi, thuỷ điện phải gắn với bảo vệ môi trường; không được lấn chiếm diện tích hồ, đổ chất thải rắn, đất, đá, nước thải chưa qua xử lý vào lòng hồ (Điều 64).
Đối với việc thăm dò, khai thác nước dưới đất, thì dự án khai thác nước dưới lòng đất có công suất từ 10.000 mét khối trong một ngày đêm trở lên phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; chỉ sử dụng các loại hoá chất trong danh mục cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thăm dò, khai thác nước dưới đất; nghiên cấm việc đưa vào nguồn nước dưới đất các loại hoá chất, chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và các tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật; có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước dưới đất qua giếng khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất; cơ sở khai thác nước dưới đất có trách nhiệm phục hồi môi trường khu vực thăm dò, khai thác; các lỗ khoan thăm dò, lỗ khoan khai thác không còn sử dụng phải được lấp lại theo đúng quy trình kỹ thuật để tránh làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất (Điều 65).
8. Chương VIII. Quản lý chất thải – bao gồm 20 điều (từ Điều 66 đến Điều 85)
Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ, thải loại chất thải. Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đã có quy định về quản lý chất thải tại Điều 26, tuy nhiên còn sơ sài. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định việc quản lý chất thải thành một chương mới nhằm cụ thể hoá quyền và nghĩa vụ đối với từng trường hợp.
Mục 1. Quy định chung về quản lý chất thải gồm 4 điều (Điều 66 đến Điều 69) quy định về trách nhiệm quản lý chất thải; thu hồi, xử lý sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ; tái chế chất thải và trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải.
Theo đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng để hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phải tiêu huỷ, thải bỏ. Chất thải phải được xác định nguồn thải, khối lượng, tính chất để có phương pháp và quy trình xử lý thích hợp với từng loại chất thải. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thực hiện tốt việc quản lý chất thải được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường (Điều 66).
Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm thu hồi sản phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ như: Nguồn phóng xạ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; pin, ắc quy; thiết bị điện tử, điện dân dụng và công nghiệp; dầu nhớt, mỡ bôi trơn, bao bì khó phân huỷ trong tự nhiên; sản phẩm thuốc, hoá chất sử dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản; thuốc chữa bệnh cho người; phương tiện giao thông; săm, lốp; sản phẩm khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Điều 67).
Đồng thời, Nhà nước cũng có chính sách ưu đãi khuyến khích các tổ chức, cá nhân có hoạt động tái chế chất thải; tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở tái chế chất thải (Điều 68).
Mục 2. Quản lý chất thải nguy hại bao gồm 7 điều (Điều 70 đến Điều 76) quy định việc lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép và mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại; phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại; vận chuyển chất thải nguy hại; xử lý chất thải nguy hại; cơ sở xử lý chất thải nguy hại; khu chôn lấp chất thải nguy hại và quy hoạch về thu gom, xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định tổ chức, cá nhân có hoạt động phát sinh chất thải nguy hại hoặc bên tiếp nhận quản lý chất thải nguy hại phải lập hồ sơ, đăng ký với cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện về năng lực quản lý chất thải nguy hại thì được cấp giấy phép, mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại (Điều 70). Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải nguy hại phải tổ chức phân loại, thu gom hoặc hợp đồng chuyển giao cho bên tiếp nhận quản lý chất thải thu gom chất thải nguy hại; lưu giữ chất thải nguy hại tạm thời trong thiết bị chuyên dụng bảo đảm không rò rỉ, rơi vãi, phát tán ra môi trường; có kế hoạch, phương tiện phòng, chống sự cố do chất thải nguy hại gây ra; không được để lẫn chất thải nguy hại với chất thải thông thường (Điều 71). Đồng thời, trong vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại, Luật quy định chỉ những tổ chức, cá nhân có giấy phép vận chuyển chất thải nguy hại mới được tham gia vận chuyển (Điều72); chỉ những tổ chức, cá nhân được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép và mã số hoạt động mới được tham gia xử lý chất thải nguy hại (Điều 73).
Mục 3. Quản lý chất thải rắn thông thường gồm 4 điều (Điều 77 đến Điều 80) quy định phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải rắn thông thường; cơ sở tái chế, tiêu huỷ, khu chôn lấp chất thải rắn thông thường và quy hoạch về thu gom, tiêu huỷ, chôn lấp chất thải rắn thông thường.
Chất thải rắn thông thường được phân thành hai nhóm chính là: chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng và chất thải phải tiêu huỷ, chôn lấp. Tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn thông thường có trách nhiệm thực hiện phân loại tại nguồn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải (Điều 77).
Về thu gom, vận chuyển chất thải rắn thông thường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định: Tổ chức, cá nhân quản lý khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, khu dân cư tập trung, khu vực công cộng phải bố trí đủ và đúng quy định thiết bị thu gom để tiếp nhận chất thải rắn phù hợp với việc phân loại tại nguồn. Chất thải rắn thông thường phải được vận chuyển theo nhóm đã được phân loại tại nguồn, trong thiết bị chuyên dụng phù hợp, bảo đảm không rơi vãi, phát tán mùi trong quá trình vận chuyển. Vận chuyển chất thải trong đô thị, khu dân cư chỉ được thực hiện theo những tuyến đường được cơ quan có thẩm quyền phân luồng giao thông quy định (Điều 78).
Mục 4. Quản lý nước thải bao gồm 2 điều (Điều 81 và Điều 82) quy định việc thu gom, xử lý nước thải và hệ thống thu gom, xử lý nước thải.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định việc thu gom, xử lý nước thải tại các đô thị, khu dân cư tập trung phải có hệ thống thu gom nước mưa và nước thải; nước thải sinh hoạt phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi đưa vào môi trường; nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung phải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường (Điều 81). Đồng thời, quy định cụ thể các đối tượng phải có hệ thống xử lý nước thải bao gồm: Khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; Khu, cụm công nghiệp làng nghề; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không liên thông với hệ thống xử lý nước thải tập trung (Điều 82).
Mục 5. Quản lý và kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ bao gồm 3 điều (Điều 83 đến Điều 85) quy định việc quản lý và kiểm soát bụi, khí thải; quản lý khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá huỷ tầng ô zôn và việc hạn chế tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ.
Theo đó, các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ có phát tán bụi, khí thải phải có trách nhiệm kiểm soát và xử lý bụi, khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường. Phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị, công trình xây dựng có phát tán bụi, khí thải phải có bộ phận lọc, giảm thiểu khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường, có thiết bị che chắn hoặc biện pháp khác để giảm thiểu bụi bảo đảm đạt tiêu chuẩn môi trường (Điều 83).
Tổ chức, cá nhân gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ vượt quá tiêu chuẩn môi trường phải có trách nhiệm kiểm soát, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường. Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu dân cư gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ vượt quá tiêu chuẩn cho phép phải thực hiện biện pháp hạn chế, giảm thiểu không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, sức khoẻ của cộng đồng dân cư. Đồng thời, Luật quy định cấm sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo nổ. Việc sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo hoa theo quy định của Thủ tướng Chính phủ (Điều 85).
Có tính đến tác động của các vấn đề môi trường toàn cầu, thể hiện sự tham gia, đóng góp tích cực của Việt Nam vào việc bảo vệ môi trường thế giới, Điều 84 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định cụ thể việc quản lý khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá huỷ tầng ôzôn.
9. Chương IX. Phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường – bao gồm  8 điều (từ Điều 86 đến Điều 93).
Kế thừa những quy định tại Chương III Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 quy định về khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, Chương IX Luật Bảo vệ môi trường quy định cụ thể hơn về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm và bổ sung nội dung phục hồi môi trường.
Mục 1. Phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường bao gồm 6 điều (Điều 86 đến Điều 91) quy định việc phòng ngừa sự cố môi trường; an toàn sinh học; an toàn hoá chất; an toàn hạt nhân và an toàn bức xạ; ứng phó sự cố môi trường; xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường.
Điều 86 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa sau đây: Lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; lắp đặt, trang bị các thiết bị, dụng cụ, phương tiện ứng phó sự cố môi trường; đào tạo, huấn luyện, xây dựng lực lượng tại chỗ ứng phó sự cố môi trường; tuân thủ quy định về an toàn lao động, thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên; có trách nhiệm thực hiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện kịp thời biện pháp để loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố khi phát hiện có dấu hiệu sự cố môi trường.
Khi xảy ra sự cố môi trường thì trách nhiệm ứng phó sự cố môi trường được quy định như sau:
- Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố môi trường có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khẩn cấp để bảo đảm an toàn cho người và tài sản; tổ chức cứu người, tài sản và kịp thời thông báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường nơi xảy ra sự cố;
- Sự cố môi trường xảy ra ở cơ sở, địa phương nào thì người đứng đầu cơ sở, địa phương đó có trách nhiệm huy động khẩn cấp nhân lực, vật lực và phương tiện để ứng phó sự cố kịp thời;
- Sự cố môi trường xảy ra trong phạm vi nhiều cơ sở, địa phương thì người đứng đầu các cơ sở, địa phương nơi có sự cố có trách nhiệm cùng phối hợp ứng phó;
- Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó sự cố của cơ sở, địa phương thì phải khẩn cấp báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp để kịp thời huy động các cơ sở, địa phương khác tham gia ứng phó sự cố môi trường; cơ sở, địa phương được yêu cầu huy động phải thực hiện các biện pháp ứng phó sự cố môi trường trong phạm vi khả năng của mình (Điều 90).
Bên cạnh quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong xây dựng lực lượng, trang bị, thiết bị dự báo, cảnh báo về thiên tai, thời tiết, sự cố môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc xây dựng năng lực phòng ngừa và ứng phó thiên tai, sự cố môi trường (Điều 91).
Mục 2. Khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường bao gồm 2 điều (Điều 92 và Điều 93) quy định các căn cứ để xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm; khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường.
Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định căn cứ để xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm, bị ô nhiễm nghiêm trọng và bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng.
Để việc khắc phục ô nhiễm môi trường kịp thời và hiệu quả, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định trách nhiệm điều tra, xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường. Một điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là quy định kết quả điều tra về nguyên nhân, mức độ, phạm vi ô nhiễm và thiệt hại về môi trường phải được công khai để nhân dân được biết (Điều 93).
Đồng thời, Khoản 3 Điều 93 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định cụ thể trách nhiệm khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường của các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường như sau:
- Thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong quá trình điều tra, xác định phạm vi, giới hạn, mức độ, nguyên nhân, biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường;
- Tiến hành ngay các biện pháp để ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống của nhân dân trong vùng;
- Thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường;
- Bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ô nhiễm môi trường thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường.
10. Chương X. Quan trắc và thông tin về môi trường – bao gồm 12 điều (từ Điều 94 đến Điều 105) quy định về quan trắc môi trường, hệ thống quan trắc, quy hoạch hệ thống quan trắc và chương trình quan trắc môi trường; chỉ thị môi trường; báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh; báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực; báo cáo môi trường quốc gia; thống kê, lưu trữ dữ liệu, thông tin về môi trường; công bố, cung cấp, công khai thông tin, dữ liệu về môi trường và thực hiện dân chủ cơ sở về bảo vệ môi trường.
Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường. Quan trắc và thông tin về môi trường là quy định mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 so với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993.
Đặc biệt nhằm xã hội hóa mạnh mẽ, nâng cao vai trò của người dân trong hoạt động bảo vệ môi trường, bên cạnh việc quy định trách nhiệm quan trắc môi trường của các cơ quan nhà nước như Bộ Tài nguyên và Môi trường; bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 còn quy định trách nhiệm quan trắc môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung. Điểm d Khoản 2 Điều 94 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định: Người quản lý, vận hành cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung có trách nhiệm quan trắc các tác động đối với môi trường từ các cơ sở của mình.
Điều 103 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định trách nhiệm công bố, cung cấp thông tin về môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung như sau:
- Tổ chức, cá nhân quản lý khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường có trách nhiệm báo cáo các thông tin về môi trường trong phạm vi quản lý của mình với cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh.
- Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường có trách nhiệm cung cấp thông tin về môi trường liên quan đến hoạt động của mình cho cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp huyện hoặc cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường cấp xã nơi cơ sở hoạt động và công bố thông tin về môi trường để cộng đồng dân cư được biết.
Nhằm đảm bảo quyền được biết thông tin về môi trường của mọi tổ chức, cá nhân, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 còn quy định về công khai thông tin, dữ liệu về môi trường (Điều 104) và thực hiện dân chủ cơ sở về bảo vệ môi trường (Điều 105). Theo đó, trừ các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, các thông tin, dữ liệu về môi trường phải được công khai bao gồm: Báo cáo đánh giá tác động môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kế hoạch thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; cam kết bảo vệ môi trường đã đăng ký; danh sách, thông tin về các nguồn thải, các loại chất thải có nguy cơ gây hại tới sức khoẻ con người và môi trường; khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; quy hoạch thu gom, tái chế, xử lý chất thải; báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh, báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực và báo cáo môi trường quốc gia.
Tổ chức, cá nhân quản lý khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; cơ quan chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường có trách nhiệm công khai với nhân dân, người lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ về tình hình môi trường, các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường và biện pháp khắc phục ô nhiễm, suy thoái.
11. Chương XI. Nguồn lực bảo vệ môi trường - bao gồm 12 điều (từ Điều 106 đến Điều 117) quy định việc tuyên truyền về bảo vệ môi trường; giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường; phát triển khoa học, công nghệ về bảo vệ môi trường; phát triển công nghiệp  môi trường, xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo về môi trường; nguồn tài chính, ngân sách nhà nước về bảo vệ môi trường; thuế, phí bảo vệ môi trường; ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên; quỹ bảo vệ môi trường; phát triển dịch vụ bảo vệ môi trường và chính sách ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đã quy định các nguồn lực bảo vệ môi trường tại Điều 4, Điều 7. Tuy nhiên, những quy định này chỉ mang tính khái quát, thiếu cụ thể và chưa đầy đủ. Để phát huy sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực trong bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định khá toàn diện về các nguồn lực bảo vệ môi trường bao gồm: nguồn lực về con người (Điều 106, Điều 107); nguồn lực về công nghiệp, khoa học, công nghệ (Điều 108, Điều 109); nguồn lực về tài chính (Điều 110).
Trong đó, các quy định về thuế môi trường (Điều 112); phí bảo vệ môi trường (Điều 113); ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên (Điều 114); quỹ bảo vệ môi trường (Điều 115) là những công cụ kinh tế góp phần quản lý môi trường một cách hiệu quả.
12. Chương XII. Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường – bao gồm 3 điều (từ Điều 118 đến Điều 120) quy định việc thực hiện các điều ước quốc tế về môi trường; bảo vệ môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá; mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.
Ngày nay, bảo vệ môi trường là vấn đề có tính chất toàn cầu, kế thừa những quy định về hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định vấn đề hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường một cách cụ thể. Trong đó, quy định rõ Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả công tác bảo vệ môi trường trong nước; nâng cao vị trí, vai trò của Việt Nam về bảo vệ môi trường trong khu vực và quốc tế. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, hỗ trợ hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, bảo tồn thiên nhiên và các hoạt động khác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Điều 120).
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng đã bổ sung quy định về bảo vệ môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa (Điều 119), nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế gắn với bảo vệ môi trường.
13. Chương XIII. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về bảo vệ môi trường - bao gồm 4 điều (từ Điều 121 đến Điều 124) quy định trách nhiệm của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp; cơ quan chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường và trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong bảo vệ  môi trường.
Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thiếu những quy định rõ ràng, cụ thể theo hướng phân công, phân cấp về trách nhiệm, quyền hạn giữa cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa cơ quan quản lý chung và cơ quan chuyên môn. Khắc phục nhược điểm đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã tách quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên về bảo vệ môi trường thành một chương riêng. Trong đó phân định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp, Bộ Thuỷ sản, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các bộ khác, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong bảo vệ môi trường.
Điều 123 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định rõ việc tổ chức cơ quan, bộ phận chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn; các tổng công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế, ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có chất thải nguy hại hoặc tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố môi trường.
Quán triệt tư tưởng bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 cũng quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các thành viên của tổ chức và nhân dân tham gia bảo vệ môi trường; giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường (Điều 124).
14. Chương XIV. Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại về môi trường – bao gồm 9 điều (từ Điều 125 đến Điều 134).
Mục 1. Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về môi trường bao gồm 4 điều (Điều 125 đến Điều 129) quy định về trách nhiệm của thanh tra bảo vệ môi trường; xử lý vi phạm; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường và tranh chấp về môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định thanh tra bảo vệ môi trường là thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường. Thẩm quyền, nhiệm vụ của thanh tra bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra. Tổ chức và hoạt động của thanh tra bảo vệ môi trường do Chính phủ quy định (Điều 125). Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm thực hiện kiểm tra, thanh tra bảo vệ môi trường một cách cụ thể của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thanh tra bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, thanh tra bảo vệ môi trường cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã (Điều 126).
Về vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, Điều 127 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định:
- Người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì còn phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây phiền hà, nhũng nhiễu cho tổ chức, công dân, bao che cho người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường hoặc thiếu trách nhiệm để xảy ra ô nhiễm, sự cố môi trường nghiêm trọng thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại thì còn phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Luật Bảo vệ môi trường quy định rõ nội dung tranh chấp về môi trường, các bên tranh chấp môi trường, việc giải quyết tranh chấp về môi trường. Việc giải quyết tranh chấp về môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tranh chấp về môi trường trên lãnh thổ Việt Nam mà một hoặc các bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài được giải quyết theo pháp luật Việt Nam; trừ trường hợp có quy định khác trong điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Điều 129).
Mục 2. Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm 5 điều (Điều 130 đến Điều 134) quy định các loại thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái; xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường; giám định thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường và bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp về môi trường, vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường cũng đã được đặt ra. Song Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, gây khó khăn cho quá trình giải quyết tranh chấp về môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định tương đối cụ thể vấn đề này làm cơ sở cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại xảy ra trong thực tế.
Điều 130 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm: Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.
Đồng thời, Luật cũng quy định cụ thể việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gồm có: các mức độ suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; xác định phạm vi, giới hạn môi trường bị suy giảm chức năng, tính hữu ích; xác định các thành phần môi trường bị suy giảm; việc tính toán chi phí thiệt hại về môi trường; cơ chế xác định thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; việc xác định thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do gây ô nhiễm, suy thoái môi trường (Điều 131).
Theo quy định tại Điều 133 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, việc giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường được thực hiện trên cơ sở tự thoả thuận của các bên. Trường hợp các bên không thoả thuận được với nhau thì có thể thống nhất yêu cầu trọng tài giải quyết hoặc khởi kiện tại toà án.
Một biện pháp chế tài mới trong quản lý môi trường được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 là việc bắt buộc mua bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho môi trường (Điều 134).
15. Chương XV. Điều khoản thi hành – gồm 2 điều (Điều 135 và Điều 136) quy định về hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006, Luật này thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 1993.
Như vậy, so với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Luật lần này có nhiều điểm mới, một số điểm mới chính có thể kể đến như sau:
1. Luật quy định một cách có hệ thống các hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực cho bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ  bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân.
2. Các quy định của Luật đã ở mức khá chi tiết, cụ thể, phù hợp hơn với thực tiễn cuộc sống nên có tính khả thi cao. Luật đã đáp ứng yêu cầu giảm số lượng các quy phạm giao Chính phủ quy định.
3. Quy định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân; phân công, phân cấp quản lý bảo vệ môi trường rõ ràng hơn; giảm bớt các thủ tục hành chính gây phiền hà đối với doanh nghiệp, người dân, thể hiện rõ quan điểm cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước.
4. Cho phép áp dụng nhiều công cụ, biện pháp, chế tài “mạnh” có tính răn đe cao hơn, quy định các nguồn lực cụ thể cho bảo vệ môi trường cũng như tăng cường năng lực quản lý nhà nước từ Trung ương đến cơ sở nên hiệu lực thi hành của Luật được đảm bảo.
5. Xã hội hoá mạnh mẽ các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm tạo cơ hội để mọi đối tượng có thể tham gia bảo vệ môi trường và huy động mọi nguồn lực trong xã hội cho bảo vệ môi trường.
6. Có tính đến tác động của các vấn đề môi trường toàn cầu, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế cũng như nâng cao vai trò, vị trí của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế về môi trường.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi toàn diện, cơ bản và có nhiều quy định mới, vì vậy việc tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến, tập huấn sâu rộng để  mọi tổ chức, cá nhân hiểu đúng và đầy đủ các quy định của Luật, quyền và nghĩa vụ của mình là hết sức cần thiết;
2. Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật trước khi Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2006, bảo đảm các hướng dẫn đúng tinh thần của Luật, đồng bộ và không chồng chéo, trong đó có những nội dung quan trọng như: quy định về các nguồn lực thực hiện; phân công phân cấp trách nhiệm giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác…
3. Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên làm tốt việc vận động, giáo dục quần chúng tự nguyện tham gia hoạt động bảo vệ môi trường./.

SOURCE: http://www.vibonline.com.vn/vi-VN/Home/PreLawDetail.aspx?PreLawID=63

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 621 other followers

%d bloggers like this: