5 HỦ TỤC TÀN BẠO NHẤT VỚI PHỤ NỮ TRÊN THẾ GIỚI

vectorsedge-eyeloveyouBLUE Pravda - Công bằng vẫn điều xa lạ với nhiều cô gái trên khắp thế giới ngày nay. Họ đang bị hành hạ, tra tấn bởi các hủ tục đáng sợ. Dưới đây là 5 hủ tục kinh hoàng nhất.

5. Honor Killing (Giết vì danh dự)

Giết vì danh dự là hành vi giết người do một gia đình thực hiện đối với cô gái mà gia đình (hoặc họ hàng, cộng đồng) tin rằng cô ta đã làm mất phẩm giá của họ. Một phụ nữ thường bị trừng trị như vậy khi: từ chối một cuộc hôn nhân sắp đặt, là nạn nhân của một vụ hiếp dâm, tìm cách ly dị (ngay cả khi có người chồng ngược đãi), hoặc ngoại tình.

UNICEF thông báo chỉ riêng ở Ấn Độ, hơn 5.000 cô dâu đã bị giết mỗi năm do của hồi môn bị chê là ít. Trong năm 2004, tục giết vì danh dự đã xảy ra ở nhiều quốc gia khác nhau, như Albania, Bangladesh, Brazil, Canada, Đan Mạch, Ecuador, Đức, Ấn Độ, Iraq, Israel, Italy, Pakistan, Saudi Arabia, Thụy Điển, Uganda, Anh và Mỹ.

(more…)

ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG VIỆC NHẬN BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN HÌNH THÀNH TỪ VỐN VAY

TRẦN LUYỆN – NHNN Chi nhánh tỉnh Quảng Ngãi

Từ quy định

Ngày 22/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 85/2002/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng (TCTD). Theo Nghị định này thì bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là một trong những biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản. Theo đó, TCTD được xem xét, quyết định việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay khi đáp ứng các điều kiện sau:

Đối với khách hàng vay: Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ; có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định của pháp luật; có mức vốn tự có tham gia vào dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và giá trị bảo đảm tiền vay bằng các biện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 15% vốn đầu tư của dự án hoặc phương án đó.

(more…)

BÀN VỀ QUYỀN CHỦ NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHU VĂN THÁI

Ngân hàng được đề cập trong bài viết này là ngân hàng thương mại (NHTM), trung gian tài chính, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Cho đến nay, hoạt động chính của ngân hàng vẫn là huy động tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư… nhằm thu lợi nhuận trên cơ sở bảo đảm khả năng thanh toán. Do đó, mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động của các ngân hàng là đảm bảo thu hồi được vốn cho vay và có lãi ngày càng bền vững.

Với bản chất là đi vay để cho vay, nên ngân hàng là chủ nợ lớn nhất và cũng là con nợ lớn nhất. Điều đó khiến cho hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn thường trực và tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao. Khi khách hàng không trả nợ đúng hạn, ngân hàng không trả được tiền vay của người gửi tiền. Do đó, phát huy quyền chủ nợ đã được pháp luật quy định khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ đầy đủ và đúng hạn là công cụ đầu tiên và có hiệu quả nhất để bảo đảm khả năng thu hồi vốn của ngân hàng qua đó đảm bảo an toàn và ổn định của hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) ở Việt Nam.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là quyền chủ nợ của ngân hàng và các biện pháp, phương thức đảm bảo cho quyền chủ nợ của ngân hàng có được thực thi một cách hiệu quả trên thực tế hay chưa. Hiện trạng nợ xấu với tỷ lệ cao của hệ thống ngân hàng hiện nay đặc biệt là hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) là câu trả lời cho vấn đề này. “Đánh giá tình hình quản trị doanh nghiệp” của Wolrd Bank năm 2006 cũng nhận định quyền pháp định của chủ nợ ở Việt Nam yếu hơn so với trung bình các nước trong khu vực và các nước OECD. Đánh giá này được căn cứ trên một loạt thước đo chuẩn mực do Ngân hàng Thế giới xây dựng cho 130 quốc gia trong đó có Việt Nam.

(more…)

SỞ HỮU NHÀ NƯỚC TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY

image TS. NGUYỄN HỒNG NGA

Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường đang là vấn đề có ý nghĩa lớn đối với công cuộc hội nhập và phát triển của Việt Nam, đặc biệt là vấn đề sở hữu nhà nước (SHNN) trong hệ thống ngân hàng (HTNH) khi chúng ta đang sống trong một nền kinh tế chuyển đổi, mở và đang phát triển. Theo đánh giá của GS. David Dollar – Trưởng ban kinh tế vĩ mô và nhóm tăng trưởng của WB, đóng góp của xác định quyền tài sản trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là lớn nhất với 2,6 điểm phần trăm trong 7,2% tăng trưởng, chiếm 36% tốc độ tăng trưởng. Vậy có nên giảm thiểu SHNN trong HTNH hay không? Bài viết mong muốn trả lời một phần nào đó câu hỏi trên.

Tại sao tồn tại SHNN trong HTNH?

Cũng như sự có mặt của Nhà nước tại các lĩnh vực khác, Nhà nước can thiệp vào HTNH do sự thất bại của thị trường:

Thứ nhất, khi thể chế yếu kém và có tình trạng thông tin bất cân xứng (điều này luôn xảy ra, nhất là tại các thị trường tài chính mới nổi), Chính phủ có thể phân bổ nguồn vốn hiệu quả cao hơn tư nhân. Alexander Gerschenkron (1904 – 1978), GS. Đại học Havard cho rằng, trong một nền kinh tế với thể chế (nhất là thể chế tài chính) yếu kém, các ngân hàng tư nhân sẽ không thể khắc phục được những thiếu sót về thông tin và việc ký kết hợp đồng, và nếu có khắc phục được cũng mất nhiều thời gian và tiền của (chi phí giao dịch cao).

(more…)

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 71/2006/QH11 CỦA QUỐC HỘI KHÓA 11

NGUYỄN XUÂN CÔNG

Bộ Tư Pháp - Ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết số 71/2006/QH11 về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước CHXHCN Việt Nam – Nghị quyết 71/2006/QH11. Sau khi Nghị quyết ra đời, liên quan đến việc áp dụng các quy định tại Nghị quyết số 71/2006/QH11 và Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Cụ thể tại Phụ lục Nội dung áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam, còn nhiều nội dung cần được giải thích để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi áp dụng vào thực tiễn. Để làm rõ vấn đề này, Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau về quan hệ giữa Luật Doanh nghiệp và Nghị quyết số 71/2006/QH11:

1. Về việc áp dụng quy định tại Nghị quyết 71/2006/QH11

Thứ nhất, về mặt pháp lý, theo quy định tại Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế (văn bản được xem là luật chuyên ngành để xử lý vấn đề này) thì nếu văn bản pháp luật nội địa và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì điều ước quốc tế đó được ưu tiên áp dụng (Điều 6(1)). Thực tế, có 3 văn bản liên quan, là Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị quyết 71/2006 và cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, đều đề cập đến vấn đề tỷ lệ số đại diện tham dự họp, thông qua quyết định trong doanh nghiệp, nên thứ tự ưu tiên áp dụng sẽ như sau:

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: