TRÍ THỨC VIỆT NAM

image ANH HÙNG LAO ĐỘNG.GS. VŨ KHIÊU

Nhìn lại trí thức thời xưa

Trí thức Việt Nam dù ngày xưa hay hiện nay đều chung một dòng chảy, qua mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc. Thời kỳ khác nhau có thể đem lại sự khác nhau giữa các thế hệ trí thức Việt Nam, về hoàn cảnh xã hội, về nhiệm vụ lịch sử, về cách thức tư duy và hành động…

Ngoài những dị biệt nói trên, lịch sử còn ghi lại những nét tương đồng giữa các thế hệ trí thức Việt Nam, thể hiện phẩm chất bất diệt của họ từ xưa đến nay. Ðó là: Sự gắn bó bằng máu thịt của trí thức Việt Nam với dân tộc của họ. Họ cùng với dân tộc nổi chìm trong dòng lịch sử: hưng thịnh hay suy vong, vinh quang hay tủi nhục, thất bại hay thành công.

Tính liên tục của phẩm chất và đạo đức, tư duy và hành động ở trí thức Việt Nam khiến chúng ta có thể nghĩ rằng, trí thức thời nay đang tiếp tục sự nghiệp của trí thức thời xưa và trí thức thời xưa vẫn còn gửi lại người trí thời nay những hoài bão chưa thực hiện được và những lo lắng khôn nguôi về vận mệnh của đồng bào và Tổ quốc.

Cao Bá Quát ngày xưa chia trí thức thành ba loại:

- Loại người có chí lớn như chim hồng hộc bay tít trên mây xanh.

- Loại người thanh cao ở ẩn như chim hạc đen ngủ một mình bên sườn núi.

- Còn đáng khinh là loại người như những con hoàng điểu chỉ tìm chỗ kiếm ăn ở những nhà quyền quý.

Và ông đã kết luận rằng: Mình sẽ không bao giờ là những con chim hoàng điểu ấy.

Khi Thân Nhân Trung viết bài văn cho tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu để nói về ý nghĩa của khoa thi Hội năm 1442, ông đã lần đầu tiên nêu lên quan điểm chính thống của Việt Nam đối với trí thức: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và ngày càng lớn, nguyên khí suy thì nước yếu và ngày càng xuống thấp”.

Ðặt người trí thức ở một vị trí cao như thế, Thân Nhân Trung cũng đòi hỏi rất cao về tài năng và phẩm chất của họ. Ông giải thích vì sao phải dựng bia đá để khắc tên của người thi đỗ và đặt ở Quốc Tử Giám? Ðó là nhằm cổ vũ mọi kẻ sĩ hãy trở thành hiền tài và thường xuyên rèn luyện danh tiết để hết lòng phục vụ Tổ quốc. Có như thế họ mới xứng đáng với lòng hâm mộ của nhân dân và sự tin cậy của nhà nước. Văn bia còn lên án những kẻ sĩ được trọng dụng nhưng rồi vì hối lộ mà hư hỏng và sa ngã. Ðó là những bọn gian ác không thể đứng trong hàng ngũ của những hiền tài.

Thực ra trong ba loại trí thức, chỉ có hai loại trên đáng gọi là trí thức. Bởi vì không thể gọi là trí thức những kẻ chỉ lo lắng cho bản thân mình và chỉ băn khoăn trước sự mất còn nhỏ nhặt của cuộc sống riêng tư. Không thể gọi là trí thức những kẻ không ra khỏi vỏ ốc của bản thân mình, không thấy được lẽ sống của nhân loại, không xác định được trách nhiệm trước vận mệnh của Tổ quốc và của nhân dân.

Cao Bá Quát khẳng định thái độ rõ rệt của mình trong bài thơ dài gửi cho người bạn là Nguyễn Trúc Khê khi ông này lên đường nhận chức Tri phủ Thường Tín. Ông nhắc bạn mình hãy chọn lấy một trong hai con đường: Bảo vệ dân hay bòn rút của dân? Làm chim diều, chim cắt hay làm chim loan, chim phượng? Ông nhắc bạn ông rằng phủ Thường Tín là nơi quê hương của Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Ðó là hai nhà trí thức tiêu biểu nhất cho trí thức Việt Nam. Ông nhờ Trúc Khê hãy vì ông mà đến lạy trước bàn thờ của hai vị danh nhân đó và hãy sống theo tấm gương tuyệt vời của hai ông và đừng bao giờ như những bọn quan lại đang sống một cách nhục nhã, chỉ biết vơ vét và áp bức nhân dân.

Sự phân biệt giữa trí thức chân chính với những người không đáng gọi là trí thức còn là cách nhìn nhận phổ biến trong dân gian. Nhân dân Việt Nam coi những bọn trí thức tham nhũng là bọn giặc cướp “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.

Người trí thức được mọi người quý trọng trước hết là những người tham gia bảo vệ Tổ quốc, chăm lo hạnh phúc của nhân dân. Sau là những người không có điều kiện thi thố tài năng thì lui về ở nhà đọc sách, dạy học hoặc làm thuốc cứu dân.

Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm khi có điều kiện thuận lợi thì hiến dâng tuổi trẻ, trí tuệ, tài năng và cả cuộc đời cho đất nước. Khi gặp trở ngại từ phía nhà nước hoặc trước những khó khăn thực tế không thể vượt qua thì các ông đành lui về: Nguyễn Trãi về Côn Sơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm về Vĩnh Bảo, Ngô Thì Nhậm về chùa để nghiên cứu kinh phật. Nhưng ở các ông, tấm lòng ưu dân, ái quốc không bao giờ nguôi ở trong lòng. Nói như Nguyễn Trãi là:

Bui một tấm lòng ưu ái cũ
Ðêm ngày cuồn cuộn nước triều đông

Nói chung, những người trí thức chân chính dù ở hay về, tiến hay thoái đều xuất phát từ tấm lòng suốt đời vì nước, vì dân.

Nghĩ về trí thức ngày nay

Trí thức thời nay tiếp tục truyền thống của ông cha trong một hoàn cảnh đã biến đổi sâu sắc. Từ hơn 60 năm trước, Cách mạng Tháng Tám đã xóa bỏ sự thống trị 80 năm của chủ nghĩa thực dân Pháp và hơn 1000 năm của chủ nghĩa phong kiến Việt Nam. Vận mệnh của Tổ quốc, đời sống của nhân dân không còn tùy thuộc vào nhà nước của giai cấp bóc lột. Mọi quyền lực về kinh tế, chính trị, xã hội được trả lại cho nhân dân, trong đó có tầng lớp trí thức. Ðiều này đánh dấu một bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử phát triển của trí thức Việt Nam.

Lịch sử ghi nhận sự đóng góp to lớn của giới trí thức trong Cách mạng Tháng Tám. Tinh thần trí thức ngày một cao trong các ngành giáo dục, khoa học, y tế và đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến. Theo tiếng gọi non sông và dưới ảnh hưởng của Bác Hồ, đông đảo trí thức Việt kiều về nước hoạt động và cùng với trí thức trong nước góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Ý thức được vai trò làm chủ đất nước, trí thức Việt Nam ngày một xác định trách nhiệm thiêng liêng và khả năng đặc biệt của mình. Họ đang cùng toàn thể nhân dân đứng trước những thử thách mang ý nghĩa tồn vong của cả dân tộc.

Trí thức thời xưa trong những phút hiểm nghèo nhất cũng không lường được những khó khăn mà trí thức ngày nay đang phải gánh trên vai.

Toàn cầu hóa đang lôi cuốn mọi quốc gia và dân tộc trên hành tinh này vào một cuộc chạy đua có ý nghĩa quyết định đối với số phận của mình: Tiến bộ hay lạc hậu, thất bại hay thành công, hạnh phúc hay bất hạnh.

Trước đây là cuộc đấu tranh để đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Ngày nay là cuộc chiến đấu nhằm rút ngắn khoảng cách giữa giàu và nghèo, mạnh và yếu, tiến bộ và suy thoái giữa ta và nhiều nước trên phạm vi thế giới. Ngày xưa là sự đe dọa của nỗi nhục mất nước thì ngày nay là sự thách thức của nỗi nhục yếu kém.

Nếu như ngày xưa trong hoàn cảnh lịch sử của mình, trí thức Việt Nam đã trải trăm ngàn nỗi gian truân vất vả, ngày quên ăn, đêm quên ngủ để tìm đường cứu nước thì trí thức ngày nay cũng đang day dứt khôn nguôi về những nguy cơ đang đè nặng lên Tổ quốc.

Trong thời đại ngày nay, một sức mạnh chưa từng có trong lịch sử đã được đặt trong tay của cả nhân loại. Trí tuệ của con người đã phát triển đột biến và tạo ra sự thay đổi hằng tháng, hằng năm, hằng ngày trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự thành công của mỗi quốc gia, dân tộc không còn phụ thuộc bao nhiêu vào sự phong phú của thiên nhiên mà lại phụ thuộc vào trình độ trí tuệ của nhân dân, đặc biệt là của giới lãnh đạo, giới kinh doanh và người trí thức.

Làm thế nào để trong cuộc đua tranh quyết liệt này, trí thức Việt Nam có thể nhanh chóng vươn lên đỉnh cao của trí tuệ, đề ra được những kiến giải mầu nhiệm nhất cho mọi vấn đề lớn nhỏ, thực hiện được những hoài bão chung của cả dân tộc trên con đường tiến lên của đất nước?

Ngày nay, đất nước ta đã hội nhập toàn cầu về mặt kinh tế và chấp nhận cuộc chạy đua về mọi mặt giữa các dân tộc trên thế giới. Gia nhập WTO, chúng ta càng đi thẳng vào một trận địa mới đầy rẫy khó khăn. Ðó là khó khăn của những con thuyền từ dòng sông nhỏ đi ra biển cả, đương đầu với muôn trùng sóng gió.

Cuộc chạy đua trên toàn thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay không chỉ có thuận lợi mà còn đang diễn ra trong một tình trạng bất bình đẳng phổ biến và sâu sắc. Sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, mạnh và yếu, tiến bộ và lạc hậu đang ngày càng sâu sắc giữa các dân tộc và giữa các tầng lớp xã hội trong một quốc gia.

Hội nhập kinh tế là một thời cơ để các nước có điều kiện thâm nhập vào nhau, cùng bổ sung cho nhau để cùng phát triển. Tuy nhiên điều này lại diễn ra trong sự đối lập từ hai phía: Giữa những nước thừa thãi về mọi mặt và những nước thiếu thốn ở cả những nhu cầu tối thiểu. Làm gì có sự công bằng giữa các nước lớn và nhỏ về những điều kiện tối thiểu để kinh doanh: Về tiền vốn, về kỹ thuật, về kinh nghiệm quản lý thị trường, về nguyên liệu và hàng hóa…

Toàn cầu hóa, sản phẩm của sự phát triển kinh tế, trước hết là của sự phát triển về khoa học, công nghệ, trình độ, trí tuệ của từng dân tộc mà trước hết là trình độ của giới trí thức. Cuộc đua trên lĩnh vực trí tuệ này càng là một cuộc đua bất bình đẳng giữa các dân tộc: Một bên có đầy đủ những phương tiện hiện đại nhất để nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, để luôn luôn có những phát minh kỳ diệu trước sự kinh ngạc của cả loài người. Còn bên kia là những nước có mức sống thấp nhất, không đủ cả cơm ăn, áo mặc, không đủ sức chống đỡ với thiên tai và bệnh tật, chưa kể đến những thành kiến, chia rẽ, phân biệt tôn giáo và sắc tộc đang tạo ra nhiều cuộc xung đột đẫm máu…

Cũng như trí thức thời xưa, đại bộ phận trí thức thời nay cũng ngày đêm suy nghĩ làm thế nào để dân tộc Việt Nam phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất, vượt mọi khó khăn, đạt được những thắng lợi vẻ vang trong cuộc chạy đua có tính chất toàn cầu này?

Tôi nghĩ tới hàng triệu và hàng triệu trí thức Việt Nam cả già và trẻ, cả trong nước và ngoài nước đang ngày đêm vừa học tập, vừa suy nghĩ, vừa phát minh, vừa tìm cách đóng góp nhằm tạo ra một sức mạnh kỳ diệu cho dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay. Họ đang đứng trước sự trông chờ của toàn thể nhân dân trong cả nước và sự thách thức của cả thế giới đối với Việt Nam.

Những tâm tư, hoài bão của bao nhiêu thế hệ trí thức Việt Nam từ xưa tới nay lại trở về trong lòng họ càng sâu sắc hơn và nồng nhiệt hơn nữa.

Nếu như Nguyễn Du chờ đợi ở con người 300 năm sau, một giọt nước mắt khóc cho ông, khóc cho tâm trạng của trí thức thời xưa, thì trí thức thời nay không cần đáp lại bằng nước mắt mà bằng cả tâm huyết, trí tuệ, tài năng để đem lại phồn vinh và hạnh phúc cho nhân dân, trả lại vinh dự vẻ vang từ ngàn đời cho Tổ quốc Việt Nam anh hùng và văn hiến.

SOURCE:  Báo Nhân dân

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/NgamNghi-VietNam/Tri_thuc_Viet_Nam/

THÔNG TIN VỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN BẰNG ĐỒNG VIỆT NAM CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

LOẠI LÃI SUẤT

LÃI SUẤT

VĂN BẢN CĂN CỨ

ÁP DỤNG TỪ

MỨC LÃI SUẤT CAO NHẤT CHO PHÉP TRONG CÁC GIAO DỊCH

Lãi suất cơ bản

9%/năm

Quyết định số 2868/QĐ-NHNN

01/12/2010

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

9%/năm

Quyết định số 2619/QĐ-NHNN

05/11/2010

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8%/năm

Quyết định số 2665/QĐ-NHNN

01/12/2009

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

7%/năm

Quyết định số 1811/QĐ-NHNN

01/08/2009

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

7%/năm

Quyết định số 1539/2009/QĐ-NHNN

01/07/2009

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

7%/năm

Quyết định số 1250/2009/QĐ-NHNN

01/06/2009

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

7%/năm

Quyết định số …/QĐ-NHNN ngày …./2009

01/05/2009

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

7%/năm

Quyết định số 626/QĐ-NHNN ngày 24/3/2009

01/04/2009

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

7%/năm

Quyết định số 378/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009

01/03/2009

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

7%/năm

Quyết định số 172/QĐ-NHNN ngày 23/1/2009

01/02/2009

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,5%/năm

Quyết định số 3161QĐ-NHNN ngày 19/12/2008

22/12/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

10%/năm

Quyết định số 2948/QĐ-NHNN ngày 03 /12/2008

5/12/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

11%/năm

Quyết định số 2809/QĐ-NHNN ngày 20/11/2008

21/11/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

12%/năm

Quyết định số 2559/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008

05/11/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

13%/năm

Quyết định số 2316/QĐ-NHNN ngày 20/10/2008 21/10/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

14%/năm

Quyết định 2131/QĐ-NHNN ngày 26/9/2008

1/10/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

14%/năm

- Quyết định số 1906/QĐ-NHNN ngày 29/8/2008

1/9/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

14%/năm

- Quyết định số 1727/QĐ-NHNN ngày 30/7/2008

1/8/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

14%/năm

- 1434/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 6 năm 2008

1/07/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

12%/năm

1257/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2008

01/06/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

12%/năm

1099/QĐ-NHNN ngày 16 tháng 5 năm 2008

19/05/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

978/QĐ-NHNN ngày 29/4/2008

01/05/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8.75%

689/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 03 năm 2008

01/04/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

Quyết định 479/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 2 năm 2008

01/03/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8.75%/năm

305/QĐ-NHNN Ngày 30/1/2008

01/02/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8.25%/năm

3096/QĐ-NHNN

01/01/2008

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8.25%/năm

2881/QĐ-NHNN

01/12/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

2538/QĐ-NHNN ngày 31/10/2007

01/11/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

2265/QĐ-NHNN ngày 28 tháng 9 năm 2007

01/10/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

Số:2018/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 8 năm 2007

01/09/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

1787/QĐ-NHNN ngày 31/7/2007

01/08/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

1546/QĐ-NHNN ngày 29/06/2007

01/07/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

1143/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 5 năm 2007

01/06/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8.25%/năm

908/QĐ-NHNN ngày 27/04/2007

01/05/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

632/QĐ-NHNN ngày 29/03/2007

01/04/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

424/QĐ-NHNN ngày 27/02/2007

01/03/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

số 298/QĐ-NHNN ngày 31/1/2007

01/02/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

2517/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006

01/01/2007

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

2308/QĐ-NHNN ngày 30/11/2006

01/12/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

2045/QĐ-NHNN ngày 30/10/2006

01/11/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

8,25%/năm

1887/QĐ-NHNN ngày 29/09/2006

01/10/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

1714/QĐ-NHNN ngày 31/08/2006

01/09/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

1522/QĐ-NHNN ngày 31/7/2006

01/08/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

1234/QĐ-NHNN ngày 30/6/2006

01/07/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

1234/QĐ-NHNN ngày 30/06/2006

01/07/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

1044/QĐ-NHNN ngày 31/05/2006

01/06/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

854/QĐ-NHNN ngày 28/4/2006

01/05/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

581/QĐ-NHNN ngày 30/3/2006

01/04/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

311/QĐ-NHNN ngày 28/2/2006

01/03/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

140/QĐ-NHNN ngày 26/01/2006

01/02/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

1894/QĐ-NHNN ngày 30/12/2005

01/01/2006

Không vượt 150% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,6875%/tháng (8,25%/năm)

1746/QĐ-NHNN ngày 1/12/2005

01/12/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,80%/năm)

1556/QĐ-NHNN ngày 28/10/2005

01/11/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,8%/năm)

1426/QĐ-NHNN ngày 30/9/2005

01/10/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,8%/năm)

1246/QĐ-NHNN ngày 26/8/2005

01/09/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,8%/năm)

1103/QĐ-NHNN ngày 28/7/2005

01/08/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,80%/năm)

936/QĐ-NHNN ngày 30/6/2005

01/07/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,80%/năm)

781/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005

01/06/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,8%/năm)

567/QDD-NHNN ngày 29/4/2005

01/05/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,80%/năm)

567/QĐ-NHNN ngày 29/4/2005

01/05/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,80%/năm)

315/QĐ-NHNN ngày 25/03/2005

01/04/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,8%/năm)

211/QĐ-NHNN ngày 28/2/2005

01/03/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,65%/tháng (7,80%/năm)

93/QĐ-NHNN ngày 27 tháng 1 năm 2005

01/02/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,50%/năm)

QĐ số 1716/QĐ-NHNN ngày 31/12/2004 của Thống đốc NHNN

01/01/2005

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,50%/năm)

1522/QĐ-NHNN ngày 30/11/2004 của Thống đốc NHNN

01/12/2004

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,50%/năm)

QĐ số 1398/QĐ-NHNN ngày 29/10/2004 của Thống đốc NHNN

01/11/2004

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,5%/năm)

QĐ số 1254/QĐ-NHNN ngày 30/9/2004

01/10/2004

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,5%/năm)

QĐ số 1079/QĐ-NHNN ngày 31/8/2004 của Thống đốc NHNN

01/09/2004

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,50%/năm)

QĐ Số 968/QĐ-NHNN ngày 29/7/2004 của Thống đốc NHNN

01/08/2004

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,5%/năm)

QĐ số 797/QĐ-NHNN ngày 29/6/2004 của Thống đốc NHNN

01/07/2004

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,5%/năm)

QĐ số 658/QĐ-NHNN ngày 28/05/2004 của Thống đốc NHNN

01/06/2004

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản

0,625%/tháng (7,5%/năm)

QĐ số 210/QĐ-NHNN ngày 27/02/2004 của Thống đốc NHNN

01/03/2004

Không vượt 50% lãi suất cơ bản

VĂN BẢN, CHÍNH SÁCH CÓ LIÊN QUAN

QUYẾT ĐỊNH số 3162/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 về lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng

QUYẾT ĐỊNH số 3159/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 12 năm 2008 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng

QUYẾT ĐỊNH số 3160/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 12 năm 2008 về lãi suất tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc

QUYẾT ĐỊNH số 3161/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam

Quyết định số 3158/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 12 năm 2008 về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng

Quy trình số 10876/QT-NHNN ngày 12/12/2008 về nghiệp vụ thị trường mở.

Quyết định số 33/2008/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 về mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đối với khách hàng.

Quyết định số 2951/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng.

Quyết định số 2950/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 về lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng.

Quyết định số 2949/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng.

Quyết định số 2948/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

Công văn số 10599/NHNN-CSTT ngày 03/12/2008 về lãi suất cho vay và huy động VND của QTDND cơ sở.

Công văn số 10259/NHNN-CSTT ngày 20/11/2008 về thực hiện các biện pháp về tín dụng và lãi suất.

Quyết định số 2811/QĐ-NHNN ngày 20/11/2008 về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng.

Quyết định số 2809/QĐ-NHNN ngày 20/11/2008 về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam

Quyết định số 2810/QĐ-NHNN ngày 20/11/2008 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng

Công văn số 10080/NHNN-CSTT ngày 13/11/2008 về cung cấp thông tin lãi suất huy động và cho vay

Công văn số 9776/NHNN-CSTT ngày 03/11/2008 về việc thực hiện một số biện pháp về tín dụng và lãi suất.

Quyết định số 2559/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008 về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

Quyết định số 2560/QĐ-NHNN về điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng

Quyết định số 2561/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng.

V/v báo cáo tình hình nợ xấu trong hoạt động tín dụng.

Công văn số 9597/NHNN-CSTT về việc cho vay vốn trên địa bàn tỉnh, thành phố

Công văn số 9596/NHNN-CSTT ngày 28/10/2008 về việc báo cáo dư nợ cho vay theo lãi suất cho vay.

Quyết định số 2317/QĐ-NHNN về việc thanh toán trước hạn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc.

Về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam

Quyết định số 2321/QĐ-NHNN về lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng.

Quyết định 2318/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động bao thanh toán của các Tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 1096/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc NHNN.

Về một số biện pháp đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng.

Quyết định số 27/2008/QĐ-NHNN ngày 30/9/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc NHNN.

Quyết định số 2133/QĐ-NHNN ngày 25/9/2008 về lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng.

* Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

* Hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN

Ngày 15/7/2008, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành văn bản 6399/NHNN-CSTT hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008.

Theo văn bản này, lãi suất cho vay có điều chỉnh (floating) được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 19/5/2008 (ngày Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN có hiệu lực thi hành), các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay có điều chỉnh không vượt quá mức lãi suất cho vay theo quy định tại Quyết dịnh 16/2008/QĐ-NHNN.

Đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày 19/5/2008, trong đó có thỏa thuận lãi suất cho vay có điều chỉnh, thì kể từ ngày 19/5/2008, mức lãi suất cho vay có điều chỉnh cũng không được vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN.

Ngoài ra, về việc điều chỉnh lãi suất cho vay cố định (fixed) được thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết trước ngày 19/5/2008, về nguyên tắc tổ chức tín dụng và khách hàng vay tiếp tục thực hiện lãi suất cho vay đó. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật dân sự, pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thì các tổ chức tín dụng và khách hàng vay được thỏa thuận để điều chỉnh lãi suất cho vay đã ghi trong hợp đồng tín dụng, nhưng phải trên cơ sở thực hiện đúng quy định tại Điều 4 Bộ luật Dân sự và không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa theo quy định tại Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN.

* Quyết định số 07/2007/QĐ-NHNN Về lãi suất tiền gửi bằng Đô la Mỹ của pháp nhân tại tổ chức tín dụng.

* Quyết định số 62/2006/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006 ban hành Quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất.

* Ngày 16-7 – 2008, thống đốc Ngân hàng nhà nước có Công văn số 6486/NHNN-CSTT gửi các tổ chức tín dụng về việc áp dụng lãi suất đối với khoản nợ gốc quá hạn. Theo công văn, thống đốc nêu rõ mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng. Tuy nhiên, mức này nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng.

*. Việc tính lãi suất chậm thi hành án (HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ CỦA CỤC THI HÀNH ÁN BỘ TƯ PHÁP – http://nghiepvu.moj.gov.vn/xembai.aspx?nv=137)

- Theo quy định tại điểm b khoản 4 mục IV Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, thì đối với trường hợp tài sản phải thi hành án không phải là hiện vật theo bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực pháp luật (15/7/1997), thì cơ quan thi hành án thi hành đúng theo quyết định của Toà án, kể cả các khoản lãi mà bên phải thi hành án phải chịu do chậm thi hành án gây ra.

- Đối với khoản tiền suất lãi chậm thi hành án, theo quy định tại khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, thì kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) và từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước chỉ quy định khung lãi suất quá hạn cho các ngân hàng thương mại áp dụng (ví dụ quy định khung lãi suất quá hạn là 100% đến 150% mức lãi suất trong hạn). Mặt khác, Thông tư 01/TTLT nêu trên không quy định tiền lãi do chậm thi hành án được tính theo lãi suất của loại vay nào (có kỳ hạn hay không kỳ hạn…)

Vì vậy, để thực hiện thống nhất việc tính lãi chậm thi hành án, từ ngày 15/3/2005 trở đi, cơ quan thi hành án tính theo mức thấp nhất của khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định cho các Ngân hàng thương mại áp dụng theo từng thời kỳ với mức lãi suất vay trung hạn.

Ví dụ: Giả sử người phải thi hành án chậm thi hành 01 tháng và nếu lãi suất vay trung hạn là 1%/tháng và khung lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định là từ 100% đến 150% mức lãi suất trong hạn. Trong trường hợp này, lãi suất chậm thi hành án sẽ được tính:

Số tiền lãi chậm thi hành án = (Số tiền chậm thi hành án x 1%) x 100% x 01 tháng chậm thi hành).

(SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP)

LUẬN BÀN VỀ TRÍ THỨC

image TS. NGUYỄN QUANG A

Vài tháng nay các trí thức Việt Nam (trong và ngoài nước) sôi nổi đóng góp cho Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế” mà Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X, dự kiến sẽ thảo luận và thông qua.

Hàng loạt hội thảo, hội nghị đóng góp ý kiến đã được tổ chức. Ngày 19.5.2008 thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN đã có buổi làm việc với đại biểu trí thức về đề vấn này. Tôi chỉ muốn thảo luận hai vấn đề: Khái niệm trí thức và một biện pháp mà tôi cho là quan trọng để phát triển tầng lớp trí thức Việt Nam.

Không rõ về khái niệm thì cơ sở cho các chính sách sẽ không vững và chính sách sẽ không có mấy tác dụng. Không ít ý kiến cho rằng trí thức là những người lao động trí óc có trình độ học vấn cao (đại học và tương đương trở lên). Tôi nghĩ khái niệm được hiểu như thế là chưa ổn. Thứ nhất, nó quá thiên về một tiêu chí không cơ bản: bằng cấp, chứng chỉ. Nó phản ánh tư duy rất cổ, đã ám ảnh mọi người dân Việt Nam từ ngàn xưa, về trọng bằng cấp.

Căn bệnh quá trọng bằng cấp, chính sách nhân sự trọng bằng cấp đã gây ra bao tai hoạ cho sự phát triển của đất nước, đã tạo ra nạn “bằng giả”, “học giả bằng thật mà hoá ra bằng giả”, “tiến sĩ giấy”, và bao tiêu cực trong hệ thống giáo dục đào tạo mà xã hội từng lên án gay gắt. Rất tiếc, những người quan niệm như vậy vẫn chưa thoát khỏi căn bệnh thâm căn cố đế này.

Theo tôi, trí thức là người truyền bá tư tưởng, ý tưởng. Ý tưởng đó có thể là của chính họ (khi đó họ là các nhà tư tưởng đích thực) hay là các ý tưởng của những người khác mà họ coi là của mình (khi đó họ là những người bán ý tưởng của người khác). Họ truyền bá ý tưởng cho những người khác và muốn những người này chịu ảnh hưởng của các ý tưởng đó trong hoạt động của mình. Họ tạo dư luận.

Các ý tưởng có thể là các ý tưởng về chính trị, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, xã hội, v.v… Số các trí thức truyền bá ý tưởng, tư tưởng của riêng mình và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, của khoa học không nhiều; họ là các nhà tư tưởng, các nhà khoa học lớn. Phần đông hơn của các nhà trí thức đi truyền bá các ý tưởng của những người khác (và cũng có thể có một vài ý tưởng riêng của mình để bổ sung, minh hoạ, cải thiện các ý tưởng cũ), họ là những người mà Hayek gọi là những người “bán đồ [ý tưởng] cũ”.

Tôi thay từ “bán” bằng từ “truyền bá” để cho những người ghét từ “bán” dễ tiếp thu hơn. Nhưng vì không ai có thể biết mọi thứ, có nhiều loại ý tưởng mà một cá nhân chỉ có thể am hiểu hay có đóng góp đích thực cho một vài lĩnh vực mà thôi, nên tuyệt đại bộ phận các trí thức đều là người “bán đồ cũ”. Ngay cả những người lỗi lạc nhất khi truyền bá tư tưởng mà mình chấp nhận và nằm ngoài lĩnh vực sáng tạo của chính mình cũng là những người “bán đồ cũ”.

Hiểu theo cách này, trí thức chẳng hề gắn với bằng cấp nào cả. Vậy thì một số nhà lãnh đạo, nhà văn hoá không có điều kiện học hành để có bằng cấp, nhưng vẫn trở thành những vĩ nhân thì có là trí thức hay không? Theo cách hiểu này họ là trí thức, là các trí thức lớn. Còn hiểu theo quan niệm bằng cấp thì họ không là trí thức, vì họ chẳng có “bằng cấp” nào cả hay không được đào tạo theo các trường lớp “chính quy” nào cả. Thoát được căn bệnh “bằng cấp” kinh niên. Nó cũng không có sự phân biệt trong nước và ngoài nước, không phụ thuộc vào thời gian, vào hệ thống đào tạo.

Đấy là mấy ưu điểm của cách hiểu này mà cách hiểu của Đề án không thể có được. Hiểu theo cách này trí thức chắc chắn là người lao động trí óc, song không phải cứ lao động trí óc ắt là trí thức. Một kế toán viên cao cấp và chỉ đơn thuần làm đủ phận sự chuyên môn của mình là một người lao động trí óc, song không là trí thức; nhưng nếu anh hay chị ta dạy, hướng dẫn cho những người khác hay tranh luận về những ý tưởng kế toán, thì anh hay chị ta là trí thức.

Như thế các nhà giáo, các nhà văn, nhà báo, văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, các nhà hoạt động chính trị và một số nhà kỹ thuật, v.v… là những trí thức phù hợp với cách hiểu thông thường. Cho đến đây chúng ta vẫn chưa đưa ra phán xét giá trị (tốt-xấu; tiến bộ-phản động; v.v…) nào đối với khái niệm trí thức cả. Vì không gắn phán xét giá trị với khái niệm nên nó đủ rộng để phân tích (không chỉ bó hẹp ở những người “ưu tú”, “tiến bộ” hay “yêu chủ nghĩa xã hội” như có người kiến nghị).

Dân chủ, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, khuyến khích tranh luận, sự khoan dung, sự chấp nhận những ý kiến khác nhau là những điều kiện tiên quyết để phát triển tầng lớp trí thức mạnh nhằm góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Thực hiện tốt những điều này trên thực tế, chứ không chỉ trên lời nói, thì sẽ có “hiền tài” và quốc gia sẽ có “nguyên khí”, sẽ có “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng và văn minh”; ngược lại thì sẽ chỉ có những “trí thức” không góp được mấy (nếu không nói là làm hại) cho sự phát triển của đất nước và dân sẽ không giàu, nước không mạnh, xã hội không văn minh, công bằng.
SOURCE:  Lao động cuối tuần

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/Luan_ban_ve_tri_thuc/

ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

imageECommerce World Book - Tất  cả  các  công  ty  đều  rất quan tâm tới TMĐT đơn giản vì nó có thể giúp họ tăng thêm lợi nhuận qua việc tăng lượng bán và  giảm  chi  phí. Quảng  cáo  tốt trên Web có thể có được thông báo quảng cáo của các công ty nhỏ tới người tiêu dùng trên mọi quốc gia trên thế giới.

Chi phí cho việc sử lý những yêu  cầu  bán  hàng,  cung  cấp các  yêu  cầu  hỏi  về  giá  cả,  và xác  nhận  các  sản  phẩm  có  sẵn có  thể  giảm  nhờ  TMĐT  trong hỗ trợ kinh doanh và quá trình đặt hàng của một doanh nghiệp. Năm  1998,  Cisco  Systems  đã bán được 72 sản phẩm thiết bị máy tính của mình qua Web, bởi
không có một dịch vụ khách hàng nào có thể đại diện cho những hoạt động kinh doanh như thế nên Cisco dự tính rằng họ có thể bớt được 500.000 cuộc gọi mỗi tháng và mỗi năm có thể tiết kiệm được hơn 500 triệu đô la.

TMĐT tăng cơ hội bán cho người bán đồng thời cũng tăng cơ hội mua cho người kinh doanh cũng như người mua. Các doanh nghiệp có thể dùng TMĐT trong quá trình mua bán để xác định các đối tác cung và cầu mới. Trong TMĐT thì thoả thuận về giá cả và chuyển giao các mặt hàng dễ dàng hơn bởi vì Web có thể cung cấp thông tin cạnh tranh về giá cả rất hiệu quả. TMĐT đẩy mạnh tốc độ và tính chính xác để các doang nghiệp có thể trao đổi thông tin và giảm chi phí cho cả hai bên trong các giao dịch.

(more…)

VIỆT NAM: SỐ ÍT NGƯỜI GIÀU HƯỞNG PHẦN NHIỀU QUYỀN LỢI

ĐOAN TRANG

tuanvietnam.net- Oxford Analytica, hãng phân tích chiến lược nổi tiếng của Anh, vừa có báo cáo đánh giá về thu nhập của người VN. Theo đó, chênh lệch về thu nhập ở VN đang ngày càng lớn thêm, hay nói cách khác, bất bình đẳng xã hội đang gia tăng và tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn nghiêm trọng, mặc dù đó là điều khó tránh khỏi ở một quốc gia đang phát triển.

10 năm qua, diện mạo kinh tế VN đã thay đổi nhiều theo hướng tích cực. Thu nhập thực tế trên đầu người tăng khoảng 7%/năm. Khoảng 30 triệu người, tương đương một phần ba dân số, đã thoát khỏi cảnh nghèo đói. Ngân hàng Thế giới dự đoán VN sẽ đạt được phần lớn trong số 8 mục tiêu thiên niên kỷ, trong đó mục tiêu đầu tiên là triệt để loại trừ tình trạng bần cùng (nghèo cùng cực) và thiếu ăn.

Số người giàu ở VN tăng lên nhiều, căn cứ vào những thống kê về số người sở hữu chứng khoán, mua xe hơi và đi du lịch nước ngoài v.v. Do thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc vào VN bị đánh quá cao, giá một chiếc ôtô ở VN có thể đắt gấp ba lần so với cùng mẫu xe đó ở Mỹ.

(more…)

TRANH CHẤP VỀ BẢO ĐẢM HỢP ĐỒNG VÔ ĐIỀU KIỆN

NGUYỄN THU TRANG

Các bên:

Các vấn đề được đề cập

Hậu quả đề xuất

Nguyên đơn: Người cung ứng Mỹ

Bị đơn: Người mua Mỹ

- Thẩm quyền: Tranh chấp có thể được giải quyết bằng Trọng tài không?
- Bảo đảm thực hiện vô điều kiện ;
- Vi phạm nghiêm trọng hợp đồng
Tiếp tục thực hiện hợp đồng dù đang có tranh chấp

Tóm tắt vụ việc:

Bằng Hợp đồng mua bán ngày 12/7/1982, nguyên đơn cam kết cung ứng cho bị đơn một số tủ văn phòng và tủ đựng quần áo. Sau đó, Bị đơn sẽ cung ứng số hàng hoá này cho một Cty Arập Xê-út (khách hàng). Hợp đồng quy định tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết bằng trọng tài ICC tại Washington.

Theo hợp đồng, trong vòng 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng nguyên đơn phải cung ứng:

“Một bảo đảm thực hiện hợp đồng vô điều kiện và không hủy ngang có thể được [bị đơn] chấp nhận, do một Ngân hàng Mỹ phát hành và xác nhận cho [bị đơn] hưởng lợi với trị giá là 10% giá bán … như là một bảo đảm cho thoả thuận này” (sau đây gọi tắt là “L/C bảo đảm thực hiện”).

(more…)

TRANH CHẤP VỀ HỦY HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN DO KHÔNG XẾP HÀNG

Các bên:

Lý do tranh chấp

Hậu quả đề xuất

Nguyên đơn: Chủ tàu Việt Nam
Bị đơn: Người thuê tàu Hồng Kông

Bốc hàng chậm hay không thực hiện nghĩa vụ bốc hàng

Huỷ hợp đồng

image

image

Tóm tắt vụ việc:

Nguyên đơn ký kết với Bị đơn một hợp đồng chở 5.200 tấn gỗ tròn từ Rangoon, Burma đến Huangpu, Trung Quốc. Bị đơn cam kết trả khoán 140.000 USD cước vận chuyển cho ngân hàng do nguyên đơn chỉ định trong vòng ba ngày làm việc kể từ khi hoàn thành việc xếp hàng lên tàu và ký vào vận đơn. Tàu phải đến cảng bốc hàng và phải ở tình trạng sẵn sàng để xếp hàng vào khoảng thời gian giữa ngày 5/2 và ngày 15/2/1992.

Nguyên đơn đưa tàu đến Rangoon thứ sáu ngày 12/2/1992 và gửi Thông báo sẵn sàng bốc hàng vào hồi 17h10 cùng ngày. Như vậy theo các qui định về thời gian bốc hàng trong hợp đồng thì thời gian bốc hàng sẽ bắt đầu tính từ 13h00 ngày thứ bảy.

(more…)

TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CÔNG PHÁP HAY TƯ PHÁP LÀM LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG

international_law HOÀNG LÊ HẰNG

Tóm tắt vụ việc:

Tranh chấp phát sinh sau khi “Hợp đồng cung ứng và mua hàng” có hiệu lực vào ngày 11/11/1976. Thủ tục tố tụng Trọng tài được tiến hành tại toà án trọng tài ICC và Toà án này đã phê chuẩn việc chỉ định trọng tài viên duy nhất ở Hague.

Phán quyết này giải quyết hai vấn đề: sự thừa kế của Người bán Italia đối với các quyền và nghĩa vụ của một công ty đã sáp nhập với người bán Italia và điều này đã được bị đơn thừa nhận; yêu cầu của người mua Hàn Quốc đề nghị Uỷ ban Trọng tài ra phán quyết tạm thời tuyên bố huỷ bỏ Hợp đồng năm 1976 do hợp đồng này không thể thực hiện được trên cơ sở Luật Công Hàn Quốc (Luật Chống độc quyền, Luật Giá cả và Luật Thương mại công bằng).

Uỷ ban Trọng tài cho rằng trong tố tụng trọng tài, công ty Italia là người thừa kế hợp pháp của công ty đã sáp nhập với nó và rằng Hợp đồng ngày 11/11/1976 được điều chỉnh bởi Luật Tư pháp Hàn Quốc. Uỷ ban trọng tài đã bác yêu cầu tuyên bố Hợp đồng không thể thực hiện được và quyết định tiếp tục tố tụng trọng tài.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 521 other followers

%d bloggers like this: