THỎA THUẬN HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUÉBEC

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(Sau đây gọi là “Việt Nam”)

CHÍNH PHỦ QUÉBEC
(Sau đây gọi là “Québec”)

Dưới đây được chỉ định là các Bên,

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong một môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Bên phải có những biện pháp thích hợp cho phép trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình của mình và bảo đảm gia đình thay thế cho trẻ em không có môi trường gia đình gốc;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế mang lại một gia đình vững bền cho trẻ em trong trường hợp không thể tìm được một gia đình phù hợp cho trẻ em đó tại Nước gốc của mình;

Dựa trên các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em ngày 20 tháng 11 năm 1989, đặc biệt những quy định nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền của trẻ em trong việc nuôi con nuôi;

Mong muốn thiết lập các quy định chung nhằm bảo đảm việc tôn trọng những quyền của trẻ em thường trú tại Việt Nam được những ngươi cư trú tại Québec nhận làm con nuôi và nhằm phòng ngừa việc thu lợi vật chất bất chính, bắt cóc trẻ em, bán và buôn bán trẻ em từ việc nuôi con nuôi;

(more…)

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ: CÓ HAY KHÔNG CÓ HÀNH VI LỪA GẠT BIẾN HỢP ĐỒNG MUA THÀNH HỢP ĐỒNG TẶNG CHO?

THÁI HIẾU

Hợp đồng mua bán nhà bỗng thành hợp đồng tặng cho, người được “cho” nhà còn “tự nhiên” được phó công an phường cấp sổ tạm trú dài hạn trong nhà nói trên.

Khoảng giữa năm 2005, bà Hoàng Thị Yến (61 Phan Xích Long, phường 3, quận Phú Nhuận, TP.HCM) đồng ý cho ông Nguyễn Tòng Tuấn (Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Tây) thuê một phần vỉa hè trước nhà để bán thịt bò với giá 600 ngàn đồng/tháng. Việc này cả hai chỉ giao ước bằng lời.

Bán nhà nhưng ký giấy cho

Đến giữa năm 2006, người con trai duy nhất của bà Yến bị bệnh nặng, phải vào bệnh viện để điều trị dài ngày. Để trang trải viện phí cho con cùng một ít nợ nần, bà Yến vay một người quen 40 triệu đồng có đóng lãi hàng tháng và phải thế chấp giấy chủ quyền nhà cho người này để làm tin. Vào đầu năm 2008, người chủ nợ cần tiền nên yêu cầu bà phải hoàn trả hết số tiền đã mượn. Bà Yến phải kêu bán căn nhà. Một người mua bán gần nhà bà Yến hỏi mua với giá 1,35 tỷ đồng nhưng sau đó lo không đủ tiền nên người này từ chối. Thấy vậy, ông Tuấn ngỏ lời xin mua căn nhà này với giá 1,2 tỷ đồng. Bà Yến đồng ý.

(more…)

GIÁO SƯ PHAN ĐÌNH DIỆU "ĐỪNG VỘI NÓI CHUYỆN ĐÃI NGỘ TRÍ THỨC THẤP, CAO"

THANH PHÁCH – Báo Đại đoàn kết

imageTrao đổi về Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp  hóa- hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế” trình Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) tới đây, Giáo sư Phan Đình Diệu cho rằng, một khi chưa có quan niệm đúng đắn về trí thức và một cơ chế để tạo môi trường cho người trí thức phát huy hết năng lực thì rất khó bàn đến chuyện đãi ngộ thế nào là xứng đáng với những đóng góp của họ.

P.V: Thưa Giáo sư, một trong những điểm nhấn của Đề án là khẳng định vai trò to lớn của đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Cá nhân ông đặt kỳ vọng gì ở Đề án này?

Giáo sư Phan Đình Diệu: Trí thức không đơn giản là người lao động trí óc. Vấn đề “thế nào là người trí thức?” đã được thảo luận từ hơn một thế kỷ trước. Paul A. Baran, một nhà kinh tế học Mỹ theo chủ nghĩa Marx, trong một bài báo viết vào đầu những năm 1960, đã căn cứ vào một câu nói của Marx và viết: “trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc trước xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”. Nói cách khác, thông qua lao động trí óc, người trí thức phải là người luôn suy nghĩ, và đưa những suy nghĩ, hiểu biết của mình đóng góp cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Do vậy, trí thức rất cần một môi trường tự do cho suy nghĩ, sáng tạo, và tự do trao đổi ý kiến, suy nghĩ với nhau để hình thành nên những đóng góp có ý nghĩa đối với xã hội..

* Nói như vậy, theo ông, tiêu chuẩn trí thức của thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế có điểm nào khác với trước đây?

- Thú thật, tôi cũng không thuộc lắm những tiêu chuẩn được đặt ra trước đây. Và về bản thân, tôi cũng chưa bao giờ dám tự xem là mình đã đạt được các tiêu chuẩn của một người trí thức. Còn nay, trước yêu cầu mới của sự phát triển đất nước, thì tôi nghĩ nếu căn cứ vào các tiêu chí kể trên, chúng ta phải phấn đấu rất nhiều để có những đóng góp xứng đáng vào giai đoạn mới của sự phát triển đất nước, cả về phương diện nâng cao năng lực lao động riêng của bản thân cũng như rèn luyện năng lực và bản lĩnh để cùng đóng góp vào những vấn đề chung của đất nước.

* Trí thức cũng là sản phẩm của nền giáo dục. Nhưng nhìn vào những vấn đề “nổi cộm” của ngành giáo dục hiện nay, có thể hi vọng gì vào đội ngũ trí thức?

- Hy vọng vào đội ngũ trí thức hiện có hay vào đội ngũ tương lai mà nền giáo dục hiện nay sẽ đào tạo ra? Tôi tin rằng đội ngũ trí thức hiện nay, nếu được huy động và phát huy mọi năng lực một cách đầy đủ, có thể có khả năng để vực dậy và phát triển dần một nền giáo dục đang yếu kém của chúng ta. Trong nhiều năm qua, ý kiến đóng góp cũng đã khá nhiều và phong phú, nhưng tiếc thay, nói thì nhiều mà nghe thì chưa được bao nhiêu. Còn về đội ngũ trí thức tương lai mà nền giáo dục hiện nay sẽ góp phần quan trọng để đào tạo nên thì…. đành phải chờ xem!

* Thực tế, đội ngũ trí thức hiện nay chưa thể hiện hết vai trò quan trọng trước những vấn đề quan trọng của đất nước. Và qua hơn hai chục cuộc thảo luận, đóng góp cho Đề án này, rất nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân là chưa có một cơ chế mang tính đột phá để tạo ra động lực mạnh mẽ cho trí thức đóng góp hết khả năng cho sự phát triển của xã hội?

- Đúng! Cơ chế ở đây là phải tạo môi trường cho việc tranh luận, trao đổi ý kiến, suy nghĩ, sáng tạo để tìm ra giải pháp hữu ích. Trước đây, tôi cũng hay phát biểu về giáo dục. Cách đây vài năm, tôi cũng đã từng đề xuất với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức một hội nghị trí thức trong và ngoài nước góp ý kiến vào việc xây dựng, phát triển đất nước. Nhưng cuối cùng cũng không được tổ chức. Trí thức vẫn chưa có điều kiện tự do tạo ra những diễn đàn thực sự cho trao đổi ý kiến và tranh luận.

* Một vấn đề khác cũng được nhắc đến nhiều khi thảo luận về Đề án, đó là chính sách đãi ngộ trí thức hiện nay rất hạn chế?

- Khoan nói đến chuyện chế độ đãi ngộ cao hay thấp mà hãy nói đến sự tương xứng. Thẳng thắn nói rằng, với cung cách quản lý thế này thì năng suất hay sản phẩm do trí thức làm ra có thật cao không mà đòi hưởng đãi ngộ cao. Chừng nào hệ thống tổ chức chưa làm cho trí thức phát huy khả năng của mình thì chừng đó chưa thể tìm ra được phương thức đãi ngộ tương xứng với những đóng góp của họ.

* Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

SOURCE:  Báo Đại đoàn kết

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Dung_voi_noi_chuyen_dai_ngo_tri_thuc_thap_cao/

PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG VIỆC XÂY DỰNG LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM

image THS. NGUYỄN ĐỖ KIÊN – Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ Tư pháp

I. Sự hình thành và phát triển chế độ bồi thường nhà nước của Trung Quốc

Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949. Năm 1949 “Cương lĩnh cộng đồng” do Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng phái dân chủ khác của Trung Quốc cùng phối hợp soạn thảo và thống nhất ban hành với nội dung có ý nghĩa như một bản Hiến pháp. Năm 1954, Trung Quốc ban hành Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trong đó, Điều 99 Hiến pháp đã lần đầu tiên ghi nhận vấn đề bồi thường đối với hành vi vi phạm pháp luật do cơ quan nhà nước hoặc nhân viên của cơ quan nhà nước xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đồng thời, chính sách và pháp luật của Trung Quốc trong thời kỳ này cũng đã qui định nhiều nội dung liên quan đến bồi thường nhà nước trong các văn bản pháp luật khác nhau.

(more…)

CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI ĐÃ BỊ HỦY TẠI NƯỚC GỐC THEO CÔNG ƯỚC NEWYORK NĂM 1958: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Tư pháp

1. Giới thiệu vấn đề:

Công ước New York năm 1958 của Liên hợp quốc về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài[1](sau đây gọi là Công ước) là một điều ước quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế. Với hơn 4 thập kỷ huy hoàng cùng 141 quốc gia thành viên[2], Công ước đã minh chứng một công cụ hiện đại cho việc công nhận và thi hành thoả thuận trọng tài và quyết định trọng tài một cách hữu hiệu và thành công hơn bất kỳ một công cụ nào trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, mặc dù bộ máy toàn cầu về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài đã được thiết lập và vận hành một cách có hiệu quả, nhưng nó vẫn không thể tránh khỏi những tồn tại nhất định sau 50 năm thi hành.  Rất nhiều điểm bất cập của Công ước đã đến lúc cần được loại bỏ để thay thế bằng những quy định mới phù hợp hơn. Trong khi việc sửa đổi Công ước chưa được tiến hành, thì sự thống nhất giữa các nước thành viên về cách hiểu và áp dụng những điều khoản của Công ước là rất cần thiết.  Việc áp dụng đúng, đồng thời phần nào linh hoạt những quy định của Công ước cũng đặc biệt quan trọng với Việt Nam, nhất là trong trường hợp pháp luật nước ta vẫn còn nhiều điểm chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, mà trong trường hợp này là bản thân Công ước.

(more…)

HƯỚNG DẪN MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ HỢP TÁC

CHÍ LINH

image Theo Thông tư số 04/2008/TT-BKH ngày 09/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì một số quy định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác được áp dụng như sau:

Về trình tự, thủ tục chứng thực hợp đồng hợp tác: Tổ hợp tác gửi ít nhất 02 bản hợp đồng hợp tác hoặc hợp đồng hợp tác sửa đổi, bổ sung và giấy đề nghị chứng thực hoặc chứng thực lại (theo mẫu) gửi Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (UBND cấp xã). UBND cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ và cấp giấy biên nhận cho Tổ hợp tác.

Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hợp đồng hợp tác có nội dung phù hợp với quy định, UBND cấp xã phải chứng thực hoặc chứng thực lại (ký và đóng dấu) vào hợp đồng hợp tác. Trường hợp  UBND cấp xã không chứng thực hợp đồng hợp tác thì trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối.

(more…)

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HÒA ITALIA

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Italia (sau đây gọi là các Nước ký kết);

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường yêu thương, hạnh phúc và cảm thông của gia đình;

Thừa nhận rằng, mỗi Nước ký kết cần áp dụng các biện pháp thích hợp bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc trong môi trường gia đình, những trẻ em không có gia đình được chăm sóc trong môi trường thay thế gia đình;

Thừa nhận rằng, nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp nhằm đem lại một môi trường gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em đó ngay tại nước gốc của mình;

Thừa nhận rằng, trẻ em được nhận làm con nuôi theo Hiệp định này được hưởng trên lãnh thổ của mỗi Nước ký kết đầy đủ những quyền và lợi ích mà trẻ em là công dân hoặc thường trú trên lãnh thổ của Nước ký kết đó được hưởng;

Đã quyết định ký kết Hiệp định này với các điều khoản dưới đây:

(more…)

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

Sweet Look bw1(e-mail) Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (sau đây gọi là các Bên);

Nhận thức rằng, để bảo đảm sự phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường yêu thương, hạnh phúc của gia đình;

Nhận thức rằng, các Bên cam kết trên cơ sở ưu tiên, áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc trong môi trường gia đình ruột thịt;

Nhận thức rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp nhằm đem lại một môi trường gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em đó ngay tại Nước gốc của mình;

Mong muốn khẳng định rằng, công dân của Bên này nhận trẻ em là công dân của Bên ký kết kia làm con nuôi, được tiến hành trên cơ sở tôn trọng những giá trị và nguyên tắc cơ bản của mỗi Bên, phù hợp với Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế ngày 29 tháng 5 năm 1993 (sau đây gọi tắt là Công ước La Hay về nuôi con nuôi), đặc biệt là những điều khoản về việc bảo vệ lợi ích cho trẻ em một cách tốt nhất và tôn trọng những quyền cơ bản của trẻ em, nhằm ngăn chặn việc bắt cóc, buôn bán trẻ em và thu lợi bất hợp pháp từ quá trình nhận nuôi con nuôi, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ;

Đã thỏa thuận như sau:

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: