LUẬT CÁC CÔNG CỤ CHUYỂN NHƯỢNG – THỰC TRẠNG, SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN

THS. ĐOÀN THÁI SƠN – Ngân hàng Nhà nước Việt nam

Theo Nghị quyết số 35/2004/QH11 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2005, dự án Luật Các công cụ chuyển nhượng sẽ được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ bảy (tháng 5/2005) và thông qua tại kỳ họp thứ tám (tháng 11/2005). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ giao là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, soạn thảo dự án Luật này (Luật công cụ chuyển nhượng đã được ban hành năm 2005 – Civillawinfor)

Để góp phần hoàn thiện dự án Luật Các công cụ chuyển nhượng trước khi trình Quốc hội thông qua, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập thực trạng pháp luật về công cụ chuyển nhượng, sự cần thiết phải ban hành và một số vấn đề pháp lý cơ bản về dự án Luật Các công cụ chuyển nhượng. Để thống nhất cách hiểu về các loại công cụ, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “hối phiếu” để gọi hối phiếu, hối phiếu đòi nợ1 (bill of exchange, draft) và thuật ngữ “kỳ phiếu” để gọi hối phiếu nhận nợ2, lệnh phiếu3, giấy nhận nợ (promissory note). Lý do cho việc sử dụng các thuật ngữ này sẽ được chúng tôi giải thích tại phần sau của bài viết.

(more…)

BÀN VỀ GIÁ BÁN CỔ PHẦN ƯU ĐÃI CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN KHI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA

TS. TÔN THANH TÂM

1. Cổ phần hóa - xu hướng của thời hội nhập

Xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nói chung, các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) nói riêng như: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam VCB (đã hoàn tất cổ phần hóa và phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng – IPO), Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB)… đang trở thành xu thế chung của thời hội nhập. Cổ phần hóa nhằm thay đổi vai trò sở hữu vốn và tài sản tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần, trong đó Nhà nước nắm giữ một phần vốn (thường tối thiểu là 51%) và bên ngoài (có thể là pháp nhân, tư nhân..) nắm giữ tối đa là 49%. Tuy nhiên, tỷ lệ này còn tùy thuộc vào tầm quan trọng ngành nghề mà doanh nghiệp đó đang đảm nhận đối với nền kinh tế quốc dân để Chính phủ xem xét, quyết định đưa ra tỷ lệ Nhà nước cần nắm giữ là cao hay thấp. Có một điều chúng ta phải thừa nhận rằng: “cổ phần hóa”có nghĩa là thay đổi tính chất sở hữu vốn, tài sản từ “Doanh nghiệp nhà nước” sang “Doanh nghiệp cổ phần” đã mang lại cho chúng ta những thay đổi lớn về nhận thức, tính năng động, sáng tạo và hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA NỔI TIẾNG

image THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Kể từ khi Việt nam chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước cho đến nay đã chứng tỏ là một thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, nhà sản xuất nước ngoài. Ngày càng nhiều nhãn hiệu hàng hoá nôỉ tiếng xuất hiện và được sử dụng tại nước ta như : Malboro, Coca-cola, Pepsi-Cola, Honda, Toyota, Ford, Mercedes, Sony, Nike, Adidas, Pampers, Colgate, Kodak, Bristol Myers, Levis, Johnson & Johnson, Shell, Mobil, Esso..

Việt nam đã trở thành thành viên của công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ 8/3/1949. Trong khi đó những hiểu biết về nhãn hiệu nổi tiếng nói chung và nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng nói riêng của chúng ta không nhiều (thực tế cho thấy không ít nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng bị vi phạm tại Việt Nam. Ví dụ: vụ Công ty Phillip Moris (Mỹ)- chủ sở hữu của nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng Malboro đã kiện Công ty Lotaba (Thanh Hoá), Công ty thuốc lá Khánh Hoà, Công ty Goldern Desire về việc làm giả thuốc lá gắn nhãn hiệu Malboro tại Việt Nam). Chính vì vậy, việc tìm hiểu các vấn đề pháp lý và thực tiễn về nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng không chỉ có ý nghía đối với các nhà quản lý, nhà sản xuất mà cả đối với người tiêu dùng.

(more…)

TRANH CHẤP XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: "TRUẤT NGỰA TRUY PHONG"

CẨM DUYÊN

TAND huyện Tuy An (Phú Yên) đang giải quyết một vụ kiện đòi truy nhận cha và yêu cầu giải quyết tiền cấp dưỡng cho một cháu bé ngoài giá thú. Người bị kiện không thừa nhận cháu bé là giọt máu rơi của mình trong khi trước đó đã cùng mẹ cháu có một thời gian yêu thương, chung sống và đưa nhau đến xã đăng ký kết hôn…

Say tình, trót dại

Cha mất sớm, chị gái cũng qua đời sau một cơn bạo bệnh, cô E. sống côi cút cùng mẹ trong căn nhà vách đất xiêu vẹo ở Tuy An. Cuộc sống trông chờ vào hai sào ruộng nên mẹ con họ gặp không ít khó khăn thế nhưng cô E. vẫn cố học hết bậc phổ thông trung học rồi thi đậu vào Trường trung học Y tế Phú Yên. Ra trường, không xin được việc nên tháng 5-2006, cô đành kiếm cơm trái nghề bằng công việc đánh máy cho UBND xã nơi cô sống với mức lương mỗi tháng 540 ngàn đồng.

Cô E. tường trình, khi làm việc ở xã, cô được anh H. – phó bí thư xã đoàn kết bạn thân tình rồi dần dà yêu thương nhau. Mật ngọt tình yêu đã khiến cô nhiều lần trao thân gửi phận cho anh H. và dẫn đến hậu quả là cô mang bầu.

Bị gia đình cấm cản, ngày 14-6-2007, anh H. vẫn quyết tâm bảo vệ tình yêu và hạnh phúc của mình. Anh tìm đến nhà cô E. thưa chuyện với mẹ cô E. rồi xin ở lại đó như là con rể. Biết tin con gái mình đã mang bầu, mẹ cô E. đành im lặng chấp nhận. Bốn ngày sau khi nhập gia, anh H. và cô E. cùng ký tên vào tờ khai xin đăng ký kết hôn rồi đem tới cho cán bộ chuyên trách tư pháp xã xác nhận.

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ RANH GIỚI GIỮA BỒI THƯỜNG VÀ ĐỀN BÙ

StudentLoans TS. DƯƠNG VĂN  HẬU

Xét về mặt truyền thống, nhận thức về ranh giới giữa bồi thường và đền bù xuất phát từ sự bất hợp pháp. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng “lý luận về hậu quả sai trái” và cơ sở khách quan của sự cẩu thả, và với sự hội tụ của các cơ sở lý thuyết về bồi thường và đền bù, ranh giới giữa bồi thường và đền bù đang dần biến mất. Khái niệm khiến cho chúng ta nhìn lại nghiên cứu truyền thống về các biện pháp bồi thường nhà nước, mà nó đồng thời cũng có ảnh hưởng to lớn đến định hướng sửa đổi Luật Bồi thường Nhà nước. Vì vậy, cần thiết phải cơ cấu lại các yếu tố của bồi thường nhà nước và đền bù hành chính.

Sự hợp pháp và bất hợp pháp của hành vi được coi là sự kiểm định ranh giới giữa bồi thường và đền bù không chỉ là một học thuyết chung chung trong giới nghiên cứu luật hành chính, mà nó cũng chiếm một vị trí quan trọng trong lý luận về luật hành chính ở các nước khác. Tuy nhiên, với việc ngày càng nhấn mạnh ý tưởng về bảo vệ quyền con người, phạm vi, và mức độ của bồi thường và đền bù càng mở rộng và tăng cường, và vì thế mà sự kiểm định đó trở nên đáng nghi ngờ đối với các học giả, và ở đây có xu hướng hội tụ ngày càng tăng của bồi thường và đền bù trong thực tiễn tư pháp. Chính vì vậy, điều cần thiết đối với chúng ta là xem xét ranh giới giữa bồi thường và đền bù và dự đoán xu hướng phát triển của Luật về Bồi thường Nhà nước.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: