VAI TRÒ CỦA VÀNG VÀ NGOẠI TỆ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM

image XT- VP NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

I. Biến động của thị trường vàng và tác động đến điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) tại Việt Nam

Do ảnh hưởng của khủng hoảng dầu lửa vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước, giá vàng thế giới đạt mức kỷ lục 850 USD/ounce vào tháng 10/1980, sau đó liên tục giảm và xuống dưới 260 USD/ounce vào giữa năm 1999. Nhờ biện pháp chống bán phá giá, nên giá vàng phục hồi dần, nhưng đã tăng mạnh sau sự kiện 11/9/2001 và đạt đỉnh điểm 730 USD/ounce vào ngày 12/5. Khi đó, giá vàng trong nước cũng lên tới 1,5 triệu đ/chỉ. Giá vàng tăng đã ảnh hưởng đến tâm lý người dân về giá trị VND, tác động đến thị trường bất động sản, qua đó tác động gián tiếp đến giá cả hàng hóa trong nước. Tuy nhiên, do tỷ giá trong thời gian qua biến động ít nên đã hạn chế sức ép tăng giá trong nước.

Tại Việt Nam, vàng được đưa vào lưu thông rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã, nhưng thị trường vàng trong nước phụ thuộc vào vàng nhập khẩu, cả về khối lượng và giá cả. Hàng năm, nước ta nhập khoảng 60 tấn vàng, đáp ứng trên 90% nhu cầu trong nước, nhưng vàng không ảnh hưởng đến mục tiêu điều hành CSTT, mặc dù một bộ phận người dân vẫn sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán mua bán nhà đất, cất trữ vàng làm tài sản hộ thân, gửi ngân hàng và vay vốn bằng vàng tại ngân hàng. Trên thực tế, tỷ trọng vàng sử dụng trong thanh toán cũng như giao dịch gửi và vay ngân hàng là không đáng kể so với M2, tổng vốn huy động và cho vay tại các TCTD. Hơn nữa, NHNN chỉ có thể can thiệp vào thị trường vàng thông qua biện pháp hành chính và quản lý như cấp phép nhập khẩu vàng, bán vàng ra để can thiệp, chứ không thể sử dụng công cụ CSTT để điều hành thị trường này.

Do giá vàng tăng cao, người dân có xu hướng chuyển từ tiết kiệm và mua chứng chỉ VND có bảo đảm bằng vàng sang hình thức mua chứng chỉ bằng vàng. So với cuối tháng 12/2005, tại Tp. Hồ Chí Minh, tiền gửi dưới hình thức chứng chỉ bằng vàng trong sáu tháng đầu năm tăng 66,8%, tiền gửi VND bảo đảm theo giá vàng giảm 31,5%, dư nợ cho vay bằng vàng và cho vay VND bảo đảm bằng giá vàng trong sáu tháng đầu năm giảm lần lượt 17,7% và 24,4%.

1. Các biện pháp của NHNN

NHNN đã kịp thời cấp giấy phép nhập khẩu vàng cho các đơn vị kinh doanh vàng nhằm tạo nguồn cung ổn định cho thị trường, cho phép các NHTM và doanh nghiệp kinh doanh vàng thực hiện giao dịch vàng tài khoản theo thông lệ quốc tế, góp phần giảm nhu cầu vàng vật chất và phòng ngừa rủi ro do biến động của giá vàng, khuyến cáo người dân thận trọng trước biến động của giá vàng, cho phép thành lập kho ngoại quan vàng tại Sóc Sơn, Hà Nội. Mặt khác, NHNN đã công bố và thực hiện việc bán ngoại tệ cho các công ty vàng bạc nếu có nhu cầu, nên các đơn vị kinh doanh vàng đã nhanh chóng nhập khẩu trên 10 tấn vàng góp phần ổn định giá vàng trong nước.

2. Một số khuyến nghị

Tiếp tục bán ngoại tệ và kịp thời cấp phép nhập khẩu cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng nhằm tăng nguồn cung và ổn định thị trường vàng trong nước, mở rộng đối tượng được nhập khẩu vàng nhằm tránh đầu cơ và buôn lậu qua biên giới; giảm thuế nhập khẩu vàng nhất là vàng nguyên liệu.

Nâng cao chất lượng dự báo nhu cầu thị trường vàng trong từng thời kỳ, thường xuyên cung cấp thông tin về tình hình thị trường vàng quốc tế và trong nước, khuyến cáo người tiêu dùng về rủi ro khi mua bán vàng và giữ tài sản bằng vàng;

Tăng cường đào tạo nghề, nhất là cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề;

Xúc tiến thành lập trung tâm kiểm định chất lượng vàng, nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng. Đồng thời, khuyến khích các nhà sản xuất vàng xây dựng uy tín, phát triển thương hiệu vàng nhằm giảm tình trạng độc quyền của vàng SJC trên thị trường trong nước như hiện nay.

II. Vấn đề đô la hóa tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, tiền gửi ngoại tệ (chủ yếu là USD) tại các NHTM tại Việt Nam tăng nhanh và hiện nay chiếm trên 30% tổng tiền gửi. Theo đánh giá của IMF, một nền kinh tế bị đô la hóa nếu tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ chiếm trên 30% tổng tiền gửi hoặc chiếm trên 30% tổng phương tiện thanh toán. Tuy nhiên, tỷ trọng dư nợ cho vay ngoại tệ tăng chậm và hiện nay chiếm trên 20% là điều không đáng lo ngại. Có nhiều yếu tố tác động đến tốc độ tăng tiền gửi ngoại tệ, bao gồm:

- Nguồn ngoại tệ trong nước ngày càng tăng, làm tăng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng;

- Sự khác biệt về lợi nhuận thực tế và động cơ đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm phân tán rủi ro, nhất là trước những kỳ vọng về lạm phát trong nước;

- Xuất khẩu tăng mạnh cùng với tỷ lệ kết hối giảm dần xuống 0% hiện nay đã góp phần tăng doanh thu ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

Giải pháp hạn chế tình trạng đô la hóa

Điều kiện tiên quyết để hạn chế tình trạng đô la hóa là phải duy trì lạm phát thấp và lãi suất thực dương đối với tiền gửi trong nước, đồng thời cần quan tâm đến một số vấn đề sau:

a) Đối với CSTT

-Tiếp tục đổi mới chính sách nhằm khuyến khích các nguồn ngoại tệ chuyển về nước, gửi vào hệ thống ngân hàng đồng thời với tăng cường môi trường pháp lý, tiến tới mục tiêu trên đất Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam ;

- NHTW phải rất linh hoạt trong việc lựa chọn và thay đổi mục tiêu trung gian trong điều hành CSTT;

- Lựa chọn cơ chế điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp nhằm giảm dần tình trạng đô la hóa;

- Nâng cao hiệu quả của NHTW trong việc kiểm soát tiền tệ thông qua các công cụ CSTT, đồng thời phát triển thị trường tiền tệ nhằm đảm bảo sự lưu chuyển tiền tệ thông suốt và khắc phục tình trạng phân tách thị trường tiền tệ như hiện nay;

- Xây dựng quy trình quản lý dự trữ ngoại hối theo thông lệ quốc tế, xác định mức dự trữ ngoại hối phù hợp. Điều chỉnh cơ cấu dự trữ quốc gia theo hướng đa dạng hóa và giảm sự phụ thuộc vào USD, hoàn thiện các chế tài như giới hạn vay nợ, tỷ lệ dự trữ, quy định về kế toán và kiểm toán;

- Công khai hóa số liệu dự trữ ngoại hối nhằm tăng tính minh bạch trong quản lý dự trữ ngoại hối, tạo lập niềm tin của dân chúng vào việc ổn định tỷ giá và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

b) Đối với thị trường ngoại tệ

- Triển khai thêm một bước trong lộ trình linh hoạt hóa tỷ giá, đó là tự do hóa điểm hoán đổi theo thông lệ quốc tế, cho phép các TCTD được tự xác định tỷ giá kỳ hạn và điểm hoán đổi trên cơ sở chênh lệch lãi suất giữa USD và VND tại TCTD;

- Cho phép các TCTD thực hiện linh hoạt các công cụ bảo hiểm biến động tỷ giá như quyền chọn VND để các TCTD và khách hàng thích nghi dần với cơ chế tỉ giá linh hoạt và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh;

- Cho phép mở rộng đối tượng thí điểm mua bán ngoại tệ tiền mặt theo tỷ giá thoả thuận và mở rộng biên độ tỷ giá vào một thời điểm thích hợp.

III. Một số vấn đề về tự do hóa tài khoản vốn tại Việt Nam

Trong quá trình hội nhập và mở cửa nền kinh tế trong nước, tự do tài khoản vốn là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu. Tự do hóa tài khoản vốn tạo điều kiện tiếp cận các luồng vốn quốc tế, tăng đầu tư trong nước, tạo ra tác động lan truyền đến những phần còn lại của nền kinh tế nhờ chuyển giao công nghệ và phát riển thị trường tài chính. Tuy nhiên, tự do hóa tài khoản vốn cũng gây ra những rủi ro đáng kể nếu chính sách kinh tế vĩ mô không nhất quán và khả năng kiểm soát tài chính kém.

Kinh nghiệm các nước ASEAN cho thấy, việc tự do hóa giao dịch vốn quá nhanh khi nền kinh tế trong nước chưa chuẩn bị đủ điều kiện có thể dẫn tới sự gia tăng luồng vốn nước ngoài quá mức và bóp méo cấu trúc kinh tế trong nước, gây ra mất cân đối giữa nguồn vốn và đầu tư, giữa ngoại tệ huy động và nhu cầu sử dụng vốn, tạo nên sự thiếu hụt nghiêm trọng khi có biến động của thị trường tài chính quốc tế và có thể gây đổ vỡ hệ thống tài chính.

Để thực hiện tự do hóa tài khoản vốn, cần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, triệt để cải cách hệ thống ngân hàng, có hệ thống tài chính đủ mạnh, có hệ thống giám sát tài chính hiệu quả. Đồng thời, việc tự do hóa tài khoản vốn phải phù hợp với sự phát triển của thị trường chứng khoán và phải theo dõi được số liệu thống kê tài khoản vốn một cách cập nhật.

Một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam

- Thực hiện kiểm soát một cách thận trọng luồng vốn nước ngoài ngắn hạn thông qua việc quản lý chặt chẽ các hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM, theo đó các NHTM phải báo cáo đầy đủ và kịp thời các giao dịch vay vốn ngắn hạn, quản lý chặt chẽ hoạt động vay vốn nước ngoài của các doanh nghiệp;

- Xây dựng và củng cố năng lực phân tích tài chính và quản trị tài chính của doanh nghiệp, hoàn thiện cơ sở pháp lý trước khi tự do hoá tài khoản vốn;

- Chuyển dịch cơ cấu đầu tư nước ngoài trực tiếp theo hướng phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ và yêu cầu đổi mới công nghệ trong xu thế hội nhập;

- Sớm hoàn thiện các văn bản pháp lý theo hướng đơn giản hóa các thủ tục và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào cổ phiếu và mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước, cho phép nhà đầu tư nước ngoài chuyển tiền về nước sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và báo cáo đầy đủ về hoạt động kinh doanh tại Việt Nam theo thông lệ quốc tế;

- Nâng cao năng lực của NHNN về thanh tra giám sát hoạt động ngân hàng theo hướng cải thiện chất lượng, nội dung, phương pháp thanh tra theo nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế;

- Phát triển thị trường vốn trong nước theo hướng đẩy mạnh cổ phần hóa và mở rộng phạm vi tham gia của nhà đầu tư nước ngoài;

- Xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chính xác về các giao dịch vốn, có giải pháp cần thiết để tập hợp số liệu và đánh giá, phân tích hoạt động giao dịch vốn.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (SBV.GOV.VN)

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 621 other followers

%d bloggers like this: