TƯ DUY PHƯƠNG TÂY VÀ TƯ DUY PHƯƠNG ĐÔNG

HOÀNG THẠCH BIÊN

Trong hai nhóm tục ngữ sau, bạn thích các câu tục ngữ trong nhóm nào hơn?

Nhóm 1:

Nhóm 2:

- Có nửa ổ bánh mì còn đỡ hơn là không có ổ bánh mì nào.
- Một người mà đòi chống lại mọi người thì chỉ có thất bại.
- “Ví dụ như” không phải là bằng chứng.
- Quá khiêm tốn là biểu hiện một nửa của sự tự cao.
- Không cần coi chừng kẻ thù mà chỉ cần cẩn thận với những người bạn.
- Một người đàn ông có thể mạnh hơn sắt thép nhưng lại mềm yếu hơn một con ruồi.

Nếu bạn thích nhóm tục ngữ thứ nhất, bạn có thể tự hào mình có lối tư duy của phương Tây, chính xác hơn là tư duy giống sinh viên Mỹ. Nếu bạn thích nhóm tục ngữ thứ hai, bạn có thể tự hào rằng tư duy của bạn thấm nhuần được tư tưởng Á Đông. Đó là kết quả thu được từ một cuộc thử nhiệm của giáo sư Tâm lý Xã hội Mỹ Nisbet. Trong thử nghiệm của mình, ông đưa hai nhóm câu tục ngữ trên cho sinh viên của trường ĐH Michigan và sinh viên trường ĐH Bắc Kinh và yêu cầu họ cho biết nhóm câu tục ngữ nào khiến họ cảm thấy thích thú. Sinh viên Mỹ cho biết họ thích nhóm 1, còn sinh viên Trung Quốc thì thích nhóm 2.

Vậy giữa hai nhóm câu tục ngữ này có sự khác biệt nào? Rõ ràng, những ý tưởng được thể hiện trong các câu tục ngữ nhóm 2 dung hàm 2 ý tưởng/khái niệm hoàn toàn mâu thuẫn, đối chọi nhau. Ví dụ trong câu đầu, Quá khiêm tốn là biểu hiện một nửa của sự tự cao, theo lẽ thường tình, khiêm tốn là trái ngược với sự kiêu ngạo, người ta không thể vừa khiêm tốn, vừa kiêu ngạo. Hoặc trong câu 2, theo logic thì chúng ta chỉ đề phòng kẻ thù chứ ai lại đi đề phòng bạn bè? Nói một cách ngắn gọn, nhóm thứ 1 biểu hiện ý tưởng thuần túy logic, nhóm thứ 2 thì chứa đựng sự mâu thuẫn về logic.

(more…)

CẦN HẾT SỨC THẬN TRỌNG XEM XÉT VIỆC THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

VÕ VĂN KIỆT

Hiện nay, việc xây dựng các tập đoàn kinh tế Nhà nước đang diễn ra khá rộng mà chưa thấy có đủ cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn kinh nghiệm cần thiết. Thực tế mô hình này đã có thành công ở một số quốc gia, trong những giai đoạn nhất định, nhưng cũng không ít nền kinh tế bị chao đảo vì chịu ảnh hưởng nặng bởi sự thua lỗ của các tập đoàn kinh tế.

Các tập đoàn kinh tế của các nước trên thế giới có lịch sử khá lâu. Hầu hết các tập đoàn đều xuất phát từ các công ty gia đình nhỏ, nhưng hoạt động rất hiệu quả, dưới sự lãnh đạo của những nhà quản lý giỏi dần trở thành tập đoàn khổng lồ. Quá trình này không diễn ra nhanh chóng mà thường phải mất hàng chục năm, gần như không có tập đoàn nào hình thành trong thời gian vài ba năm.

Các tổ chức kinh tế gọi là lớn của chúng ta (các Tổng công ty 90, 91) là nền tảng để hình thành các tập đoàn, nói chung quy mô còn khiêm tốn. Thêm nữa, khả năng quản lý hệ thống, quản lý theo mô hình công ty mẹ – công ty con, vấn đề sở hữu… còn nhiều bất cập. Yếu tố then chốt đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động tốt là cơ chế quản lý, quan hệ giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp với Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu lại chưa được làm rõ, thực tế hiện nay ở ta vẫn là chia sẻ trách nhiệm. Khi xảy ra sự cố, người điều hành doanh nghiệp thường đẩy trách nhiệm lên trên. Như vậy, người trực tiếp điều hành vừa không đủ quyền tự chủ lại không phải chịu trách nhiệm về kết quả điều hành của mình dẫn đến tình trạng “Cha chung không ai khóc”. Do đó, tình trạng lạm dụng tài sản của Nhà nước mưu lợi cho cá nhân: Lợi thì doanh nghiệp hưởng, thua thiệt thì Nhà nước chịu vẫn phổ biến mà điển hình là các vụ lình xình ở Tổng công ty Dầu khí, Tổng Công ty Điện lực (nay đã thành tập đoàn). Trong khi đó, quan hệ trách nhiệm giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp và chủ sở hữu ở các nước khác đã được xác định rạch ròi từ nhiều chục năm nay.

(more…)

KHAI THÔNG CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH CHO THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VN

TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG

Thị trường bất động sản VN, dù đã trải qua những cơn sốt nóng, lạnh trong vòng hơn một thập kỷ vừa qua, vẫn được đánh giá là một thị trường hấp dẫn và đầy tiềm năng. Thế nhưng, trong quá trình phát triển, những mối quan hệ giữa thị trường bất động sản và thị trường tài chính VN đã thể hiện ra như thế nào? Trong tình hình giá băng của thị trừơng bất động sản hiện nay, những tín hiệu khai thông các nguồn vốn mới đã đặt ra cho chúng ta những vấn đề gì cần phải giải quyết? Đó là mục đích của bài viết nầy.

Tổng quan về thị trường bất động sản VN

Từ tính hấp dẫn …

Nhân tố hấp dẫn lớn nhất của thị trường bất động sản VN là dân số đông và trẻ, với hơn 85 triệu người, đứng hàng thứ 15 trên thế giới về quốc gia đông dân số, trong đó 60% dân số có độ tuổi dưới 30. Tốc độ tăng dân số vẫn còn ở mức cao, xấp xỉ 1,5%/năm. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2006, 27% dân số VN sống ở các đô thị và dự báo đến năm 2020, cư dân đô thị VN sẽ là chiếm hơn 45% dân số cả nước.

Nhân tố thứ hai là kinh tế đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng mạnh trong các năm qua và theo dự báo, cả những năm sắp tới. Từ đó, phát sinh nhu cầu đất đai, xây dựng nhà xưởng, nhu cầu văn phòng và nhu cầu nhà ở, khách sạn cho những người nước ngoài đến VN để sinh sống, làm việc.

(more…)

PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TẠI TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

GS.TS. VÕ THANH THU & THS. NGUYỄN THỊ DƯỢC

Xây dựng hệ thống phân phối là một vấn đề trọng tâm của các doanh nghiệp khi hoạch định chiến lược xâm nhập thị trường, bởi vì phân phối là một trong những vũ khí cạnh tranh mạnh nhất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Thị trường VN với mức tăng trưởng GDP năm 2007 là 8,5%/năm, dân số hơn 83 triệu người, đồng thời là một thị trường vừa được mở cửa, hội nhập quốc tế nên được các nhà đầu tư nước ngoài và VN đánh giá là rất tiềm năng.

Hiện đã có rất nhiều nhà đầu tư VN và nước ngoài đang nỗ lực xây dựng hệ thống phân phối tại thị trường VN và đã khá thành công như Unilever, P & G, Abbott, Pepsi Cola, Coca Cola, Shiseido, Debon, Metro Cash & Carry, Fast Food Kentucky, Saigon Coop, Phở 24, Ngân hàng ACB, Sacombank …

Để xây dựng và quản lý thành công một hệ thống phân phối, các doanh nghiệp phải xác định được các yếu tố tác động đến việc xác lập hệ thống phân phối. Mỗi quốc gia với các đặc thù về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá – xã hội sẽ tạo nên những yếu tố đặc trưng tác động đến quá trình xây dựng và phát triển kênh phân phối.

Trung Quốc là một quốc gia ở bên cạnh VN, có những đặc điểm tương đồng về văn hoá – xã hội truyền thống cũng như một nền kinh tế định hướng XHCN đang trong giai đọan chuyển đổi, cải cách. Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến họat động phân phối ở Trung Quốc sẽ là bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp khi xây dựng và phát triển hệ thống phân phối ở VN.

MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẶC THÙ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TẠI TRUNG QUỐC

Xem xét trên quan điểm phân phối thì thị trường Trung Quốc là một mạng lưới phức hợp bao gồm các thị trường địa lý, thị trường sản phẩm, thị trường người tiêu dùng. Các doanh nghiệp phải hiểu rõ các yếu tố này trước khi đưa ra các quyết định về chiến lược phân phối.

Thị trường địa lý:

Lãnh thổ Trung Quốc rất là rộng lớn. Khó có thể đưa một sản phẩm được sản xuất tập trung đến tay của mọi người tiêu dùng ở Trung Quốc vì chi phí cho quá trình phân phối rất cao và làm cho giá cả hàng hoá vượt quá mức giá có thể chấp nhận được của người tiêu dùng. Thực tế là người tiêu dùng Trung Quốc thường mua những sản phẩm được sản xuất ở địa phương, được phân phối mức giá có thể chấp nhận được. (more…)

MỘT SỐ NGOẠI LỆ TRONG WTO VÀ QUI ĐỊNH CỦA VIỆT NAM

TRẦN THỊ TÚY

Ngoại lệ của WTO được hiểu là trong một số trường hợp cho phép các nước thành viên được làm khác đi so với các nguyên tắc cơ bản của WTO nhưng phải đảm bảo phù hợp với quy định của Tổ chức thương mại thế giới  nhằm bảo đảm chủ quyền, an ninh, đạo đức, sức khoẻ của con nguời, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, bảo đảm cán cân thanh toán.

Ngoại lệ đã được đặt ra trong quá trình đàm phán và xây dựng các văn kiện của Tổ chức Thương mại Thế giới, đặc biệt được chú trọng trong các lĩnh vực thương mại quốc tế và quy định tại các văn kiện của WTO trong 3 lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, còn có các ngoại lệ giành riêng cho các nước đang phát triển.

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994)

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 dành một số ngoại lệ cho các Thành viên để đáp ứng yêu cầu về đảm bảo an ninh, lợi ích quốc phòng, bảo vệ các giá trị văn hoá, tinh thần của dân tộc, truyền thống lịch sử, bảo vệ sức khoẻ con người, động vật, thực vật và môi trường, di sản quốc gia, tài nguyên quý hiếm, ngăn chặn gian lận thương mại, bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia, liên quan đến các sản phẩm lao động của tù nhân, chính sách độc quyền, bảo hộ bản quyền, nhãn hiệu thương mại, duy trì hoà bình và an ninh thế giới, tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán, mua sắm nhằm mục đích cho tiêu dùng của Chính phủ và chi trả các khoản trợ cấp. Đây là những vấn đề cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng đến an ninh và sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Các quy định của WTO là bắt buộc nhưng cũng có những ngoại lệ riêng, theo đó các Thành viên có thể áp dụng các biện pháp trái với quy tắc đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong phạm vi cho phép khi thực thi nghĩa vụ của mình.

(more…)

MỘT Ý TƯỞNG LẬP PHÁP CHƯA TRỌN VẸN

THS. PHẠM TRỌNG CƯỜNG

Trong thể chế tư pháp ở Việt Nam, lý lịch tư pháp (LLTP) là một vấn đề mới mẻ, ít được quan tâm, thậm chí có lúc đã bị quên lãng. Thế nhưng, đây lại là một thiết chế được định hình vững chắc trong hoạt động tư pháp của các quốc gia, trước hết vì những giá trị bổ trợ tư pháp to lớn của nó. Tuy nhiên, thiết kế hệ thống quản lý LLTP như thế nào để đạt được mục đích đó trong bối cảnh CCTP và CCHC? Đây là vấn đề cần được giải trình minh bạch với sự phân tích thấu đáo…

Lý thuyết về mục đích  quản lý LLTP…
      Những thông tin được ghi nhớ về LLTP của một cá nhân có thể coi là bức tranh phản ánh trung thực về  quá khứ của một cá nhân có hay không có tỳ vết. Do đó, khi được quản lý tốt, hệ thống dữ liệu LLTP sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định rõ các đặc điểm nhân thân tư pháp của cá nhân, trợ giúp đắc lực cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đây là ý nghĩa quan trọng hàng đầu biện giải về sự cần thiết của hệ thống quản lý LLTP của bất kỳ quốc gia nào.
      Kinh nghiệm của một số nước cho thấy, nhiệm vụ hàng đầu của hệ thống quản lý LLTP là phục vụ cho hoạt động tố tụng. Lịch sử hình thành thiết chế này trên thế giới đã khẳng định đây là một bước phát triển của lĩnh vực hoạt động tư pháp, bởi mục đích khởi nguyêncủa thiết chế này là nhằm tạo ra một công cụ bổ trợ hữu hiệu phục vụ công tác xét xử. Phiếu LLTP của một bị cáo là căn cứ để cơ quan công tố xem xét, quyết định có cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn (VD: bắt tạm giam, bắt khẩn cấp…) đối với một bị can hay không? Trong giai đoạn xét xử, căn cứ vào Phiếu LLTP, Tòa án xem xét nhân thân của bị cáo, nắm được đầy đủ chính xác các tiền án của bị cáo, trên cơ sở đó cân nhắc các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: