QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

PGS-TS ĐINH NGỌC VƯỢNG – Viện Nhà nước và Pháp luật 

DẪN LUẬN
Điều 28 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng“.  Từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách đổi mới Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quan đến việc bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt “Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” đã được ban hành (số 13/1999/PL-UBTVQH10, ngày 27-4-1999) và Nghị định số 69/2001/CP ngày 02 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngoài ra, liên quan đến chất lượng sản phẩm, Nhà nước quản lý bằng “Pháp lệnh chất lượng hàng hoá” (số 18/1999/PL-UBTVQH10). Các cơ quan quản lý nhà nước và bảo vệ pháp luật như Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính đã phối hợp ra Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT, ngày 27-04-2000 nhằm chống lại các hoạt động làm, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng giả, góp phần quan trọng bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nước ta…
Tuy nhiên cho đến nay chúng ta vẫn chưa có Luật bảo vệ người tiêu dùng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay doanh nghiệp là người cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho xã hội. Người tiêu dùng trả tiền cho hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Doanh nghiệp cần người tiêu dùng và người tiêu dùng cần doanh nghiệp. Không thể tách bạch phân chia xã hội thành doanh nghiệp và người tiêu dùng vì bản thân doanh nghiệp vừa là người cung cấp hành hóa và dịch vụ và vừa là người tiêu dùng. (more…)

VĂN HOÁ LÀNG XÃ VÀ TRIẾT LÝ PHÁT TRIỂN

HIỆU MINH

Ngày nay, nghe rất nhiều vĩ từ nói về văn hóa, ít ai thích chữ làng xóm quê mùa. Phải chăng những nét đẹp của nôi văn hóa làng xã bị bỏ qua, nhưng tính tiểu nông vẫn còn trong tư duy.

Một lần ra Hà Nội, thấy nhà cao tầng lắp ghép ở Thành Công, bố tôi thích lắm. Nhưng khi vào căn hộ trên tầng 4, cụ ngạc nhiên. Nhà anh cửa không ở chính giữa, không có ngưỡng cửa, hai gian thông thống, bàn thờ để đâu? – Bố cổ quá rồi, bây giờ ai làm thế.

 

Cụ thở dài, ngưỡng cửa để người ra vào phải cúi xuống, vừa không bị vấp nhưng cũng là cúi đầu bàn thờ tổ tiên để gian giữa. Anh đi xa quên hết rồi.

 

Mấy hôm nay, tầu xe bắt đầu chật chội, bận rộn hơn. Hàng triệu người hối hả về quê ăn Tết. Buồn thay những người không có nơi để về hay không thể thăm nơi cố hương. Trong số về làng, còn ai bước qua cái bậu cửa, nghiênh mình trước tổ tiên!

Từ thời xa xưa, làng xã là tổ chức cộng đồng khép kín. Đình làng thờ thành hoàng, tổ chức lễ hội. Lũy tre và cổng làng là điển hình của biên giới và cửa khẩu của “làng gia” với những luật lệ riêng.

 

Gia đình, dòng tộc cũng đóng góp phong phú thêm truyền thống làng xã. Về quê gặp ông trưởng tộc, tuổi còn rất trẻ nhưng già trẻ vẫn phải thưa gửi. Con cái ăn khoai sắn thay cơm nhưng nhà thờ họ, giỗ họ, mộ tổ phải to.

 

Sau lũy tre chứa đựng những điều tốt đẹp và cả bất cập. Mọi sự phát triển, tụt hậu, chiến thắng hay thất bại đều dựa vào truyền thống ấy. Gọi mỗi người Việt Nam là một trai làng cũng không ngoa. Vì quả thật, họ được sinh ra trong cái nôi bản sắc văn hóa làng xã đó. Phải chăng đó là triết lý cho phát triển một đất nước với 70%-80% nông dân.

Truyền thống làng xã thời chiến tranh và bao cấp

Trải qua gần nghìn năm Bắc thuộc, rồi mấy cuộc xâm lăng của gần đây, làng xã và lũy tre là pháo đài chống giặc, sàng lọc luôn cả văn hóa ngoại lai. Lời kêu gọi “cứu nước cứu nhà” đưa về từng làng xóm, “đóng cửa bảo nhau” đã vận động và đưa ra tiền tuyến hàng triệu thanh niên.

 

Hợp tác xã là một biến thể khác của kiến trúc làng xóm. Với tư duy làm chủ tập thể, nghĩa là ai cũng là chủ nhưng không ai muốn…làm. Nông dân ta vốn cần cù đi sớm về muộn nay được đi muộn về sớm. Bao nhiêu ruộng đất, trâu bò được cho vào chung. Đình làng, chùa chiền được đập đi và xây nhà kho đựng lúa, phá hỏng cái nôi văn hóa làng. (more…)

CÔ ĐƠN ĐÓN TẾT

ĐOÀN DŨNG

Có một góc nhìn khác về Tết. Một người trốn chạy những lễ nghĩa của Tết, một người có trạng thái tâm lý dường như mâu thuẫn, không ăn Tết với người thân, mà một mình, giữa những nơi xa lạ… Lớp người trẻ bây giờ cũng vậy đó, họ tranh thủ đi đâu đó vào dịp Tết, không nhất thiết phải quây quần với gia đình theo truyền thống.

Có phải như ngày xưa đầu mà cả năm mới biên cho nhau được lá thư hỏi thăm sức khỏe. Có phải như ngày xưa đâu mà cả năm mới gặp được nhau ngày Tết? Bây giờ ở thành thị ai cũng có xe máy phóng vù vù. Thăm nhau chẳng phải lóc cóc đạp xe đến nhà bạn mà cứ phấp phỏng không biết có nhà hay không. “Rỗi không, ra cà phê nhé” – một câu qua điện thoại, một message hiện lên trên cửa sổ chat là tuần nào cũng có thể ngắm nghía bạn bè thân hữu chỉ sau 15 phút phát ra thông điệp. Chơi với nhau chẳng cần phải biết nhà nhau, cà phê là phòng khách chung của các gia đình.

Vậy mà mấy ngày Tết phải ngồi nhà, nở nụ cười xã giao với những câu hỏi thăm và chúc tụng cũ kỹ khiến tôi cho rằng đó là một việc làm “ngớ ngẩn” nhất trần đời.

“Năm nay nhà ta làm ăn khá chứ?” – vớ vẩn hết sức. Tháng nào cũng gặp nhau ít nhất bốn lần, chuyện chỉ xoay quanh công việc, biết rành rành bạn năm nay thắng thua thế nào, vậy mà chỉ vì Tết nên phải hỏi một câu cực “khú” cho phải lệ. “Cành đào này nhiều lộc lắm đây!” – chẳng có gì để buôn thêm, hăm tám vừa rủ nhau đi mua đào, giờ mới mùng hai nhìn thấy chính cành đào mình mua mà cứ như phát hiện ra châu Mỹ. “Năm tới bằng năm bằng mười nhé!” – thật thế có khi mất bạn mất bè như chơi.

Tiếp khách kiểu này mặt tôi cứ cứng đừ, vặn vẹo trên ghế như bị kiến đốt vào mông. Các bạn tôi đôi khi hỏi một câu xong cũng tự thấy ngớ ngẩn đành phá lên cười chữa ngượng. Thấy tôi khổ sở quá, vợ bảo: “Thôi anh trốn vào buồng đi, có khách em bảo anh đi vắng”. Khách đến, trong buồng đèn đóm tắt hết, không dám thở to, dặn dò con cái không được gọi bố. Trốn một vài khách thì được, một cái Tết cũng cố được, nhưng nhiều lần, nhiều năm thì không được ở nhà mình mà cứ dấm dúi thầm thì như đi ăn trộm. (more…)

LÀM THƯƠNG HIỆU BUỔI KHÓ KHĂN

ĐOÀN ĐÌNH HOÀNG

Lãi suất tăng, xăng lên giá, lạm phát, khủng hoảng thị trường chứng khoán, đôla bán ai mua, v.v… là những cụm từ hiện diện thường xuyên không chỉ trên các phương tiện thông tin đại chúng mà ngay cả trong các buổi họp của doanh nghiệp. Dấu hiệu của thời buổi khó khăn đã lộ diện. Doanh nghiệp cảm thấy lo lắng hơn vì chi phí đầu vào tăng cao trong khi đó sức mua lại có xu hướng giảm xuống. Trên đây chỉ là tiền đề cho một câu chuyện từ một cuộc họp của ban giám đốc một công ty.

Phần lớn doanh nghiệp, trong hoàn cảnh khó khăn sẽ nỗ lực cắt giảm chi phí, vì rõ ràng. tăng doanh thu là một nhiệm vụ khó hơn vạn lần trong thời buổi khó khăn như vậy. Để cắt giảm chi phí, chúng ta có thể cắt giảm tất cả các yếu tố cấu cấu thành chi phí. Đầu tiên, chúng ta sẽ cắt giảm chi phí sản xuất vì đây là nhóm chi phí chiếm tỷ trọng cao trong giá thành. Tuy nhiên, bộ phận vật tư sản xuất sẽ là nơi phản pháo đầu tiên rằng các nhà cung đang đòi lên giá, nếu giảm giá sẽ ảnh hưởng đến chất lượng. Đụng đến chất lượng, chắc hẳn bất kỳ giám đốc nào cũng chùn tay. Thế thì quỹ lương vậy. Ngay lập tức, giám đốc nguồn nhân lực lên tiếng. Chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị rường quyết đình năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Người lao động đang khó khăn vì lạm phát, chúng ta phải nâng lương đề hỗ trợ người lao động, lý đâu lại cắt giảm. Một lần nữa, nguồn nhân lực có một lý do vô cùng chính đáng.

Xem nào, cắt giảm ngân sách bán hàng vậy. Một đội ngũ bán hàng hùng hậu, hàng loạt chi phí từ vận chuyển, lương bổng, chiết khấu, thưởng v.v… là nơi tuyệt vời để việc cắt giảm chi phí được thực hiện. Ai (nhân viên) bán hàng, ai (nhà phân phối. trung gian bán hàng) chịu bán hàng cho mình sẽ là phản pháo mạnh mẽ từ giám đốc kinh doanh. Doanh số của công ty là từ chúng tôi, những người không quản sương gió ngày đêm bám sát “trận địa” để mang về trăm tỷ nọ, ngàn tỷ kia mà phải cắt à. Thế thì giám đốc sẽ đi bán hàng nhé. Lập luận rõ ràng không chê vào đâu được. Vậy thì ai, bộ phận nào, chi phí nào sẽ được cắt giảm? Là những nhà doanh nghiệp, nhà quản lý hẳn các bạn hình dung ra kẻ tội đồ rồi. Marketing, đúng là ngân sách marketing chứ không ai khác, là chi phí phải cắt giảm. Cuộc họp kết thúc trong hoan hỉ. Vậy là có kẻ phải chịu trách nhiệm cho tình hình khốn khó này rồi. (more…)

VĂN HOÁ DOANH NHÂN VÀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP

LY NGUYỄN

TBKTSG - Chủ đề văn hóa doanh nghiệp và văn hóa kinh doanh được đề cập và bàn thảo rất nhiều trong thời gian gần đây. Nhiều bài viết, nhiều hội thảo đã phân tích các khía cạnh sâu xa của vấn đề này. Như một trào lưu, các doanh nghiệp đua nhau xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nhưng điểm lại, không mấy doanh nghiệp thành công. Vì sao như vậy?

Trước hết, sự thất bại nằm ở ngay chính bản thân những người lãnh đạo cao nhất doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường cử người đi học về văn hóa doanh nghiệp, nhưng những người lãnh đạo cao nhất thì không bao giờ đến lớp – một phần vì quá bận rộn với công việc, phần khác, nhiều hơn, là vì sĩ diện cá nhân.

Hệ quả là, chính người cần khởi xướng và dẫn dắt quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp lại không hiểu hết về vấn đề này. Trong quá trình xây dựng, những can thiệp, chỉ đạo của những người lãnh đạo lại làm cho những “nét văn hóa” trong doanh nghiệp trở nên bất nhất, méo mó.

Thứ hai, rất quan trọng và đóng vai trò quyết định, đó là doanh nghiệp tìm cách xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nhưng chính doanh nhân – người chủ doanh nghiệp lại không chịu xây dựng văn hóa cho mình.

 

Văn hóa doanh nhân chính là yếu tố hàng đầu, tác động rất lớn và góp phần quyết định tạo nên sự thành công hay thất bại của văn hóa doanh nghiệp. Một doanh nhân có nếp sống phù hợp, sẽ góp phần tạo nên một văn hóa doanh nghiệp phù hợp.

Ngược lại, nếu người chủ doanh nghiệp có cách sống, cách hành xử phi văn hóa, cả doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng và rất khó có hy vọng xây dựng được một văn hóa doanh nghiệp lành mạnh.

Có doanh nhân thường xuyên xuất hiện trên truyền hình, trên báo chí với những lời “có cánh” về bí quyết làm ăn, cung cách quản lý hiện đại tại doanh nghiệp, về văn hóa doanh nghiệp, về sự đi lên, vượt khó của bản thân… Trong các cuộc họp, nhân viên và cán bộ quản lý thường được nghe “sếp” huấn thị, lên lớp, dạy dỗ về chiến lược, cạnh tranh, quản lý con người… Và có những cuộc họp sếp dành quá nửa thời gian để chửi mắng nhân viên, kể cả đối với cán bộ quản lý cấp cao. (more…)

TIẾNG GÕ CỬA MÙA XUÂN

image A.N

“Mùa xuân gõ cửa phương nào
Thời gian như đã dầu hao lại đầy”

Tiếng gõ cửa ấy với tôi có khi là tiếng sột soạt của bức mành treo ngoài cửa sổ, mỗi khi có ngọn gió thổi qua. Nhà ở trên cao, một gợn gió nhẹ cũng có thể gây nên một tiếng động đủ để giật mình. Nhất là vào cứ cuối đông đầu xuân, gió mùa Đông Bắc liên tục viếng thăm, tiếng gõ ấy thường gấp gáp như tiếng những bàn chân lữ thứ vừa từ phương nào ghé tới. Chưa kịp bực mình vì người khách không mời, đã nghe vang trên đầu khóm cây ngoài ban công tiếng hót hồn nhiên tự tại của chú chim chuyền đầu tiên vừa thức giấc. Biết không sao ngủ tiếp, liền ngồi dậy, khẽ mở khung cửa nhỏ nhìn ra, và lần này thì không còn là tiếng gõ cửa dịu dàng của gió, mà là một chùm hoa gioi, hoa mận bên nhà hàng xóm mới qua một đêm mà đã kịp nở tung trắng xóa đến sững sờ. Cái tiếng gõ cửa lặng im này của mùa xuân mới quyết liệt làm sao, nó như bức thông điệp của Trời Đất gửi đến cho con người, báo tin về một cái gì đó đã vĩnh viễn ra đi và một cái gì đó lại đang đợi chờ phía trước.

Với người này, tiếng gõ cửa ấy là một tiếng mời gọi, rủ rê. Với người khác, tiếng gõ ấy có thể là một câu nhắc nhở nhẹ nhàng. Và với người khác nữa, tiếng gõ ấy chắc chắn là một lời giục giã gấp gáp. Còn với tôi, cầm trên tay tờ lịch cuối cùng của năm cũ, ý nghĩ đầu tiên ập đến trong buổi sáng hôm nay là vì sao thời gian lại có thể trôi nhanh đến thế. Mới đó, cũng ngày này năm ngoái, trận rét đậm dai dẳng hơn một tháng ròng đã quét sạch những chiếc lá vàng cuối cùng của mùa đông, vun chúng thành từng đống để cho các bà các chị quán cóc hàng rong có dịp nhen lên những đống lửa giữa hè phố Hà Nội, một cảnh quan hiếm thấy và không thể nói là không thú vị. Có một chiều như thế, tôi lang thang một mình trên phố.

Mưa phùn đầu xuân như những ngón tay tinh nghịch cứ lùa vào trong cổ. Gió từ mạn bên kia sông Cái vẫn hun hút lùa về. Đi giữa phố phường mà chợt nhớ da diết cái không khí đồng không mông quạnh trong bài thơ tứ tuyệt lừng danh của thi nhân Đỗ Mục đời Đường:

(more…)

NHÀ BÁO TÁC NGHIỆP TẠI TÒA: VÌ SAO VẪN CÓ “GIẤY PHÉP CON”?

ÁNH DƯƠNG

Theo quy định của Luật Báo chí, nhà báo là người có quốc tịch Việt Nam, có đủ các tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và nghiệp vụ báo chí do Nhà nước quy định, đang hoạt động hoặc công tác thường xuyên với một cơ quan báo chí Việt Nam và được cấp thẻ nhà báo.

Để được cấp thẻ nhà báo, một phóng viên phải đáp ứng đủ các quy định như: tốt nghiệp đại học, đã có thời gian công tác liên tục ở một cơ quan báo chí từ 3 năm trở lên, được ký hợp đồng lao động dài hạn… Thẻ nhà báo sẽ giúp phóng viên chủ động hơn khi tác nghiệp. Thực tế thì sao?

Thẻ nhà báo: Chưa phải là tất cả!

Là phóng viên chuyên theo dõi mảng pháp đình, công việc của tôi thường xuyên phải tiếp xúc với tòa án. Theo quy định của hầu hết các tòa án, để được tác nghiệp trong phiên tòa (ghi âm, chụp ảnh đối với báo viết, quay phim đối với báo hình…) thì phóng viên (PV) phải xuất trình thẻ nhà báo với HĐXX, chủ yếu là vị thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Cá biệt có tòa (như TAND tỉnh Thanh Hóa) còn yêu cầu PV phải được sự đồng ý của Chánh án! Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài thẻ nhà báo, có tòa vẫn yêu cầu PV phải có thêm giấy giới thiệu của tòa soạn. Ví dụ như: Khi biết PV ĐS &PL muốn dự phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ tranh chấp quyền sử dụng đất, mặc dù PV đã xuất trình và phôtô thẻ nhà báo, nhưng thẩm phán Nguyễn Thu Hoài của TAND quận Hoàng Mai (Hà Nội) vẫn yêu cầu PV phải có thêm giấy giới thiệu của cơ quan báo?

Còn TAND TP. Hà Nội quy định: Muốn quay phim, chụp ảnh phiên tòa, ngoài việc xin phép HĐXX, PV còn phải xin phép được tác nghiệp tại tòa với Chánh văn phòng. Để có được giấy dự tòa (có giấy này PV mới được tác nghiệp trong phiên tòa) của TAND TP., PV phải tìm gặp Phó Chánh văn phòng, xuất trình thẻ nhà báo (để ghi lại tên họ, cơ quan công tác và số thẻ). Kiểm tra xong thẻ nhà báo của PV rồi, vị Phó Chánh văn phòng mới ký giấy dự tòa cho PV. Vì thế mỗi khi muốn dự một phiên tòa nào đó, PV không có cách nào khác là phải liên hệ trước với Phó Chánh văn phòng để xin giấy dự tòa! Nhận xét về giấy dự tòa này, một nhà báo lâu năm ở báo T hài hước bảo: Đây chẳng khác nào một loại “Giấy phép con”!

(more…)

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN CON NGƯỜI

image VŨ HẠNH

Ngày xưa khi Digogène cầm đèn đi giữa ban ngày, đáp câu hỏi: “Ngài đi đâu đấy?” bằng câu: “Đi tìm một người”, hẳn nhà hiền triết thời cổ đã muốn đòi hỏi nhân tính như một biểu hiện thanh cao của một bản chất lý tưởng, khác xa với sự tầm thường ti tiện phổ biến trong những hạng người gọi là quý phái đương thời.

Ở tập cổ tích của Campuchia, dễ tìm thấy trong các tiệm sách “xôn” dọc các hè phố ngày nào, có một câu chuyện lý thú, kể một anh chàng nhìn quanh thấy ai cũng có nhiều sự thô bỉ, xấu xa, gần với loài vật hơn là loài người, bèn quyết tâm tìm cho được một người. Đợi ngày hội lớn tập trung đông đảo, anh ta cải trang làm người nghèo khổ ngồi dưới gầm cầu câu cá. Bao nhiêu là người chỉ mãi nghĩ đến cuộc vui ngày hội hoặc chỉ bận tâm về sự trưng diện của mình, thản nhiên đi qua. Cuối cùng một công chúa đến, nhìn xuống dưới cầu và chùn bước lại. Nàng bảo: “Ta không thể nào bước trên đầu người”. Cận thần bèn tâu: “Nó chỉ là đứa nghèo hèn, công nương chớ quá bận tâm”. Và công chúa đáp: “Dù có nghèo hèn, kẻ đó cũng biết vui buồn, cũng có giá trị của họ. Hãy bảo người ấy chèo khỏi nơi ấy, ta mới dám bước qua cầu”. Chàng đi câu nọ, nghe thế, nhủ thầm: “Đó là một người”?…

Người ta vẫn lưu ý rằng tiếng gọi con người là sự kết hợp giữa hai yếu tố, đó là tiếng con – chỉ loài động vật với những phản ứng bản năng – cùng với tiếng người chỉ những đòi hỏi vươn cao. Hình ảnh nhân sư khổng lồ, dựng lên ở giữa sa mạc Ai Cập với cái đầu người và mình sư tử, hẳn là biểu tượng rõ nhất cho cuộc chiến đấu gian nan để con người được hình thành: dù đã cố ngoi đầu lên với những sắc diện là người, nhân loại vẫn còn bị lôi kéo lại bởi những thú tính thấp hèn là cái thân xác súc vật nặng nề kéo dài ở trên mặt đất. Và chỉ khi nào con người thực sự cất nổi mình lên, rũ bỏ được sự chi phối của cái thân xác bốn cẳng để đứng vững vàng trên cái tư thế hai chân, con người mới thực sự người, để tiến đến một giai đoạn cao hơn của sự thăng hoa nhân loại.

Cổ ngôn Đông phương: “Người không mười phần hoàn toàn” (nhân vô thập toàn) xác nhận sự chưa hoàn thiện của người để khích lệ người trên đường cải thiện. Chính sức cố gắng ấy là dấu hiệu riêng biệt của người, là cái vinh quang của người. Nó là món quà của lý trí, và lý trí là kết quả của sinh hoạt xã hội.

(more…)

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: RẮC RỐI XUNG QUANH VIỆC TỐNG ĐẠT GIẤY TRIỆU TẬP CHO ĐƯƠNG SỰ: DỞ KHÓC, DỞ CƯỜI VÌ AI?

KIM NGÂN

Trước đây, nếu muốn tống đạt giấy triệu tập hoặc những giấy tờ khác cho đương sự trong một vụ án, tòa án có thể cử cán bộ đến nhà đương sự để tống đạt trực tiếp hoặc nhờ UBND phường, xã nơi đương sự cư trú giao giấy triệu tập cho đương sự… Theo quy định hiện nay, tòa án có thể tống đạt giấy triệu tập hoặc các giấy tờ khác qua đường bưu điện. ưu điểm của việc tống đạt giấy triệu tập cho đương sự qua đường bưu điện là văn minh và tiện lợi nhưng trên thực tế đã có không ít rắc rối xảy ra. Và hậu quả của nó lại chỉ có…người dân lãnh đủ!

Những phiên tòa phải hoãn

Phiên tòa của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội xét xử vụ tranh chấp cổ phần tại Công ty Cổ phần Hòa Thanh (Phú Thọ) đã không diễn ra theo đúng lịch bởi trong phần thủ tục, HĐXX thấy vắng mặt ông Nguyễn Văn Sáu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện. Hỏi ra mới biết tòa đã gửi giấy triệu tập cho tất cả các đương sự qua đường bưu điện nhưng lại gửi theo địa chỉ của Công ty Cổ phần Hòa Thanh, trong khi các đương sự này lại không cư trú ở địa chỉ đó. Theo ông Hồ Văn Sơn, đại diện Công ty Cổ phần Hòa Thanh, sau khi nhận được giấy triệu tập, ông đã “phôn” cho ông Sáu biết lịch xét xử của tòa. Tuy nhiên, vào đúng ngày xử, ông Sáu đã không đến dự vì còn “bận tổ chức cưới cho con”!!! Xét thấy việc xử vắng mặt sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của ông này, HĐXX đã phải hoãn phiên tòa.

Cũng vì chuyện tống đạt giấy triệu tập cho đương sự mà phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ tai nạn giao thông trên đường Láng – Hòa Lạc (Hà Nội) của TANDTC đã không diễn ra như dự kiến. Theo thông báo, phiên tòa được mở vào lúc 8h sáng 17.4.2007. Tuy nhiên, hơn 10h sáng hôm đó, HĐXX ra tuyên bố tạm dừng phiên tòa vì bà Nguyễn Phương Dung, đại diện hợp pháp cho nạn nhân Nguyễn Phương Linh vắng mặt. Theo luật sư của gia đình bà Dung, sở dĩ bà Dung không đến vì “chưa nhận được giấy triệu tập” của tòa!

(more…)

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG: VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG NGHIÊM TRỌNG TRÊN TUYẾN QL1A QUA LẠNG SƠN, TÒA “QUÊN” BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI BỊ HẠI?!

TRẦN QUYẾT

Ngày 17.2.2006, tại Km 42+057 QL1A thuộc địa phận xã Nhân Lý, huyện Chi Lăng, Lạng Sơn đã xảy ra vụ TNGT nghiêm trọng giữa xe ôtô BKS 29T- 6084 và xe khách 29V- 1591, làm 4 người chết và 14 người bị thương. Đến nay, vụ án đã 2 lần được TAND các cấp đưa ra xét xử, nhưng gia đình các bị hại vẫn bức xúc cho rằng: phán quyết của tòa án là thiếu khách quan và có nhiều điểm mâu thuẫn.

“Quên” bồi thường

Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2006/HSST ngày 12.10.2006 của TAND huyện Chi Lăng, Lạng Sơn: Ngày 17.2.2006, Trần Trung Kiên được Công ty cổ phần Vận tải và Du lịch Hoa Thêm (Đống Đa – Hà Nội) giao điều khiển xe ôtô chở khách 16 chỗ ngồi, BKS 29V – 1591 chở khoảng 15 hành khách đi từ Hà Nội theo hướng QL1A lên Lạng Sơn. Đến Km 42+057, trời mưa, đường trơn, Kiên điều khiển xe không làm chủ tốc độ nên xe lạng sang trái, sang phải, lấn đường của xe đi ngược chiều. Sau đó xe ôtô này quay ngang sang làn đường dành cho xe đi ngược chiều. Vừa lúc đó, xe ôtô 12 chỗ BKS 29T- 6084 do Lê Tuấn Thành điều khiển đi đến và va vào sườn bên trái xe ôtô 29V – 1591. Hậu quả làm anh Thành và 3 người khác trên xe 29V – 1591 chết tại chỗ, 14 người bị thương.

Ngày 12.10.2006, TAND huyện Chi Lăng đã đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa trên, TAND huyện Chi Lăng khẳng định: Trong vụ tai nạn này, bị cáo Kiên do không chấp hành nghiêm chỉnh Luật GTĐB, chủ quan lái xe chạy nhanh khi trời đang mưa to, nên khi vào cua không làm chủ được tay lái để xe lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều nên gây tai nạn. Với hành vi trên, Trần Trung Kiên bị tuyên phạt 5 năm 6 tháng tù giam. Ngoài ra, Kiên còn phải có trách nhiệm bồi thường cho các gia đình có người thiệt mạng là 30 triệu đồng trở lên.

Tuy nhiên, với trường hợp thiệt mạng là anh Lê Tuấn Thành, lái xe 29T- 6084, TAND huyện Chi Lăng đưa ra những lý do hết sức mơ hồ khi cho rằng: “trong vụ án này, lái xe 29T – 6084 là Lê Tuấn Thành có một phần lỗi là điều khiển xe ôtô với tốc độ không phù hợp” nên chỉ được bồi thường 8 triệu đồng. Nhưng thực tế, HĐXX và các cơ quan chức năng lại không chứng minh được khi xảy ra tai nạn xe ôtô 29T – 6084 đang chạy với vận tốc là bao nhiêu (?)Vấn đề đặt ra ở đây là việc xảy ra tai nạn là do xe ôtô 29V V-1591, không làm chủ tốc độ dẫn đến lao sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều, gây TNGT; còn xe ôtô 29T – 6084 bị gặp nạn là do bất khả kháng, không thể phòng tránh. Điều khó hiểu là tại trích lục bản án hình sự, ngày 14.11.2006, của TAND huyện Chi Lăng, gia đình anh Lê Tuấn Thành lại không có tên trong danh sách được nhận tiền bồi thường từ phía bị cáo và Công ty Hoa Thêm.

(more…)

NGÀY XUÂN BÀN VỀ MINH TRIẾT

images1155617_11 HOÀNG NGỌC HIẾN

Định nghĩa minh triết là gì? – việc này rất khó. Một câu nói hóm của một học giả: “Tìm cách định nghĩa minh triết, đó là bằng chứng của sự thiếu minh triết”. Đại học tổng hợp Chicago (Hoa Kỳ) vừa đưa ra Dự án đề tài Định nghĩa Minh triết với kinh phí trợ cấp 2.000.000 USD, học giả bất cứ nước nào đều có thể tham gia. Đây là nội dung tham luận trong buổi sinh hoạt học thuật đầu tiên của Trung tâm nghiên cứu Minh triết Việt được thành lập cuối quý II năm 2008…

Những biểu hiện của minh triết có tính chất tổng thể: là chân, là mỹ, là thiện, là nhận thức, là hành vi và đạo đức, là kinh nghiệm sống và lối sống… Không có tham vọng đưa ra một định nghĩa thấu đáo và đầy đủ về minh triết, tôi thử đưa ra mấy nét đặc biệt của minh triết như là nhận thức và lối sống:
- Minh triết gắn với nghiệm sinh
- Minh triết quan tâm đến sự cân bằng, hài hòa
- Minh triết thể hiện trong lối sống.

Minh triết gắn với nghiệm sinh – Jerry Ortiz y Pino đã nêu đặc điểm này thành một yêu cầu tất yếu. – Minh triết không phải là cái gì đó bẩm sinh. Thông minh là bẩm sinh. Linh lợi là bẩm sinh. Năng động cũng vậy. Nhưng minh triết thì không. Nó chỉ đến từ sự sống, từ sự phạm sai lầm. – hoặc giả từ sự nghe những người khác đã phạm sai lầm và học hỏi được ở họ“… Yêu cầu này được tuyệt đối hóa trong một câu kinh Phật nổi tiếng: “Chớ có tin vào đức tin của những truyền thống, dù cho chúng đã được vinh danh lâu đời nhiều thế hệ và ở nhiều nơi. Chớ có tin vào một điều nào chỉ vì có nhiều người nói đến nó. Chớ có tin vào đức tin của những bậc hiền minh trong quá khứ. Chớ có tin vào những gì mà anh tưởng tượng rằng Thượng đế truyền gợi cho anh. Không tin gì hết nếu như chỉ có uy tín của những bậc thầy của anh hoặc của những nhà sư của anh. Sau khi xem xét hãy tin vào những gì chính anh đã thể nghiệm hoặc nhìn nhận là hợp lẽ, những gì phù hợp với phúc lợi của anh và của những người khác” (Siddârtha, Kâlâma sutta).

(more…)

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT NHÀ NƯỚC KIỂU MỚI

TS. TRẦN NAM CHUÂN – Viện chiến lược, Bộ Quốc phòng

Một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nhà nước kiểu mới – nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đây là tư tưởng độc đáo, sáng tạo của Bác Hồ và của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đã được minh chứng và kiểm nghiệm trong lịch sử đấu tranh giành chính quyền và xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà nước kiểu mới – nhà nước pháp quyền phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân; đó là tư tưởng, ý chí nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người yêu nước, thương dân nồng nàn tha thiết. Người đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin bằng niềm tin mãnh liệt: “Bây giờ học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất là chủ nghĩa Lê-nin” và con đường duy nhất mang lại độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào là con đường cách mạng vô sản, dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền về tay nhân dân. Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng như V.I.Lê-nin đã chỉ rõ: “Cùng với việc tổ chức xây dựng Đảng cách mạng thì trong cuộc đấu tranh này, trước hết phải có Đảng cách mệnh”(1), “Đảng có vững cách mệnh mới thành công”(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nền tảng tư tưởng cho đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng. Trong đó tư tưởng của Người về vấn đề chính quyền nhà nước hình thành khá sớm và rõ nét. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong xây dựng nhà nước kiểu mới, trước hết bắt nguồn từ đường lối cách mạng của Đảng. Một mặt, Người khẳng định bản chất giai cấp công nhân của nhà nước, mặt khác Người cũng khẳng định sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính chất nhân dân và dân tộc của nhà nước pháp quyền vì nó là đại diện cho toàn thể nhân dân và toàn dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước pháp quyền, nhà nước kiểu mới của dân, do dân và vì dân là một hệ thống quan điểm tư tưởng trên nhiều lĩnh vực và nhiều tổ chức trong bộ máy nhà nước, gắn liền với hoạt động thực tiễn không mệt mỏi của Người về xây dựng bộ máy nhà nước.

(more…)

XUÂN HÀ THÀNH

image NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

Bây giờ thật không dễ chút nào khi muốn tìm kiếm sự trầm mặc, linh thiêng của vùng kinh đô trải qua bao thăng trầm và biến cố của lịch sử. Nét đẹp xưa cũ ngỡ như chỉ vọng về trong sử sách. Tôi miên man so sánh giữa Sài Gòn và Hà Nội. Cả hai đô thị đều sôi động và ồn ào đến ngợp thở. Nhưng chắc chắn cái sức náo nhiệt của Hà thành còn kém Sài thành nhiều lắm. Dù hối hả là vậy nhưng vẫn nhận ra nhịp điệu chậm rãi, buồn buồn của chốn kinh kỳ. Nhưng vấn thấy thiếu cái gì không rõ ràng, không tìm nhưng ngóng đợi, có lẽ là nét trầm mặc, cô tịch làm gợi nhớ nhung nỗi niềm xa mờ, sương khói.

Một ngày đầu xuân, tiết trời se lạnh, lang thang trên những con phố hiếm hoi sự hiu vắng. Thỉnh thoảng vài chiếc xe rú ga vọt qua vội vã. Không còn bắt gặp những dòng ngược xuôi hối hả. Cái lạnh bên hồ làm tê hai má. Trong khoảnh khắc bỗng nhớ đến 2 câu thơ của Bà huyện Thanh Quan: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Cái đẹp của kinh kỳ khi thành cố đô lại trở thành nét đẹp điển hình của chốn phồn hoa đô hội từ khi nào? Lòng chợt muốn tìm nét xưa nay chỉ còn vắng bóng. Tháp Rùa rêu phong, mờ tỏ giữa bảng lảng sương chiều mong manh. Những ngã đường vắng lặng, tháp thoáng bóng người, gió lùa buốt lạnh, lúc ấy mới cảm nhận được một nét trầm mặc, thiêng liêng không dễ gì tìm thấy. Ngỡ như nghe phảng phất đâu đây tiếng lục lạc, vó ngựa chầm chậm, thấp thoáng kiệu quan đi tuần. Đâu đây còn vọng tiếng trống reo hò của ông cha vung gươm đánh giặc. Hồn núi sông tích tụ dệt nên linh thiêng từ những tháng năm của vận nước.

Phải nặng tình lắm mới nhận ra chỉ trong thời khắc ngắn ngủi xuân về lạnh giá. Hà thành mới phát lộ đủ đầy sự cổ kính và cô tịch. Phố phường trầm tư, cửa đóng then cài, những ô cửa im lặng. Hàng sấu già trên đường Trần Phú trong những chiếc lá vàng cuối mùa, thênh thang. Ô Quan Chưởng trầm tịch, bước chân bỗng ngập ngùng như chờ đợi điều gì mông lung. Lúc ấy nhận ra Hà thành vào xuân như cô gái lẳng lặng duyên thầm.

Đã từ bao giờ hoa sữa, loài hoa mọc ở nhiều vùng đất nước nhưng hương thơm của nó lại trở thành thú hương đặc trưng của Hà thành. Thứ hương ngọt ngào ấy đã đi vào tiềm thức của nhiều người. Nó nhuốm màu cảm xúc làm nên một vẻ đẹp lịch lãm.

(more…)

TRÂU Ở VIỆT NAM: CẦN CÓ MỘT TƯỢNG ĐÀI

image ĐỖ ĐỨC

Con trâu là đầu cơ nghiệp. Trâu gắn bó với nông thôn Việt Nam từ bao đời nay, nên không phải thuận miệng mà người ta nói ra câu này. Có con trâu là có sức kéo, giải phóng sức lao động trên đồng. Buổi sáng, một lực điền với một con trâu mộng, làm cật lực có thể cày lật tới bốn sào đất. Còn làng nhàng thì sào rưỡi hai sào. Không có trâu, lại không có người kéo cày, chỉ dùng tay cuốc thì sào đất mất bốn công chưa xong. Cho  nên ruộng sâu trâu nái một thời để đánh giá chỗ dựa tin cậy vững chắc ở thôn quê Việt.

Ba việc lớn can hệ đến sự thay đổi cơ bản con người cuộc sống ở nông thôn: làm nhà – cưới vợ – tậu trâu đã thành một tiêu chí mang tính tổng kết về hoạch định để có tính bền vững của một gia đình thôn quê. Ba việc đó phải gắn kết cùng nhau, thiếu đi một trong ba việc là chưa thể là hoàn hảo. Ước mơ đó thật nhỏ nhưng đã tồn tại kéo dài cả trăm năm nghìn năm với nông thôn Việt Nam .
Còn nhớ cách đây vài chục năm thôi, sau vụ gặt tháng mười, thu gom rơm rạ xong là mọi nhà rậm rịch bắc vai  trâu đi cày đổ ải. Cánh đồng ngày đầu đông vui như trảy hội. Đất ruộng còn chưa khô hẳn được xá cày lật lên dẻo quánh một màu nâu. Đợi nắng cho hoai oải, ăn tết xong là bắt nước vào vụ chiêm. Con trâu chịu thương chịu khó đi vào ca dao thật ấm tình người: Trâu ơi ta bảo trâu này/  Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta/ Cấy cày vốn nghiệp nông gia/ Ta đây trâu đấy ai mà quản công/ Bao giờ cây lúa còn bông/ Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Tôi đã đọc những câu ca dao ấy trong sách tập đọc từ thuở đến trường và còn cặn kẽ nhớ đến ngày hôm nay. Đọc sách, học bài trên lưng trâu là việc kép trong buổi dong trâu đi gặm cỏ.
Tuổi thơ của rất nhiều đứa trẻ thành đạt ngày hôm nay đã từng mài đít trên lưng trâu, trong đó có cả những người có vị thế cao của đất nước. Tôi cũng là một trong những đứa trẻ ấy, cất cánh từ lưng trâu, dù tầm bay có thấp hơn nhiều. Những câu văn xuôi thuộc lòng trong bài cách trí: Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ, đầu tôi đội nón mê tay cầm cành tre vắt vẻo trên lưng trâu… chúng tôi thuộc vanh vách. Nhưng đa phần tuổi thơ nông thôn xưa không mấy có ước mơ hoài bão gì, phần lớn yên phận với con trâu kéo cày vì lũy tre đã che chắn mất tầm nhìn từ bao đời nay, nên cũng chẳng ai nhận ra bi kịch nghèo đói nữa. Một cuộc sống hạn chế đến tối đa các nhu cầu ăn ở sinh hoạt cho mỗi con người, luôn lấy con trâu làm chỗ dựa để mà yên tâm ngày đủ hai bữa rau muống tương cà. Đó cũng là hạnh phúc cao nhất của nông thôn ta xưa khi mà mọi kĩ thuật canh tác chưa có khoa học chen vào.

(more…)

BÓC TỜ LỊCH CUỐI NĂM

image CHỬ VĂN LONG

Bóc tờ lịch cuối năm lòng tự nhủ – Thế là thời gian lại bắt đầu một chu kỳ mới! Nhưng Thời gian là gì nhỉ? Một cuộn chỉ vô hình, đời này qua đời khác thao mãi không ngừng, khúc lành lặn trơn tru, đoạn rối bòng bong không sao tháo gỡ, cuối cùng, nào ai đã nắm được cái lõi chỉ kia để biết cuộc sống là gì mà con người say mê làm vậy!

Thời gian như cốc nước đầy tạo hóa không ngừng nghiêng rót, mỗi người một cốc cầm tay, kẻ nhấm nháp từng ly, người một hơi dốc cạn; đến khi chiếc cốc tuội khỏi tay mình, kẻ tiếc mãi vị ngọt đầu môi, người thấm nhận tê, cay, đắng đót, chẳng ai biết vị thật cuộc sống là chi, lòng mãi khôn nguôi cơn khát…

Thời gian giống chuyến xe đời, không bến cuối cùng, cũng không nơi xuất phát; người lên xe tìm mơ mộng không đâu, kẻ chất chồng bạc tiền, lợi danh, khư khư ôm giữ… ai cũng ngỡ mình sắp về tới đích, đâu biết cả đời ta chỉ đuổi bắt kiếm tìm, lúc tưởng bàn chân đến được Thiên đường có khi lại là đang rơi xuống nơi địa ngục, còn những vòng quay chiếc xe vô định kia thì vẫn lăn mãi lăn hoài…

Thời gian tựa làn gió thoảng, vừa sớm mai đã lại buổi chiều, một ngày đợi chờ dài dằng dặc, một đời người phút chốc qua nhanh. Lúc thấy thời gian như được nhung lên nóng bỏng bởi những ham muốn dục vọng con người. Lúc lại lạnh tanh như mặt nước ao tù ngưng đọng. Thời gian luôn cứa vào ta chảy máu, rồi lại dịt lành mọi vết thương đau. Nhờ thời gian mà ta thấm nhận được hết vui buồn sự sống, những tình cảm vị tha, những tấm lòng nhân hậu, để biết yêu thương, chung thủy, đợi chờ, sàng lọc lại cho mình những gì là tốt đẹp giữa bao trắng đen, gian dối, lừa lọc… Tiếng nước mới êm dịu làm sao, nhưng mấy ai biết rằng, cái tiếng dịu êm ấy đã gọt, đã bào mòn biết bao đá núi, còn thời gian thì vẫn vẹn nguyên ăm ắp tràn đầy…

(more…)

ODA VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NHÀ NƯỚC VÀ THỂ CHẾ

NGUYỄN TIẾN LẬP

Sự cố tham nhũng xảy ra vừa qua  ở dự án ODA “Đại lộ Đông –Tây” (thành phố Hồ Chí Minh) đang được điều tra, khiến chúng ta liên tưởng trở lại vụ án tham nhũng và lạm dụng vốn ODA ở “PMU18″ hai năm trước. Vẫn là chủ đề liên quan đến chống tham nhũng, nhưng có lẽ tại thời điểm này, từ cả hai phía Chính phủ và xã hội, cần có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề tiếp nhận, quản lý và giám sát sử dụng ODA, một nguồn vốn vô cùng quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Đặt vấn đề

ODA (Viên trợ phát triển chính thức) từ năm 1960 khi được Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) chính thức định nghĩa tới nay đã trở thành một hiện tượng chính trị – kinh tế toàn cầu, một nội dung quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia phát triển phương Tây và các nước đang phát triển. Trước đó, đã có hai trường hợp tài trợ đặc biệt ở cấp độ chính phủ tương tự ODA là việc Hoa Kỳ hỗ trợ tái thiết nước Đức và châu Âu (kế hoạch MARSHALL) và Nhật Bản sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tuy nhiên với ý nghĩa và hiệu quả hoàn toàn khác.

Trong các tuyên bố và cam kết công khai giữa các nhà tài trợ và chính phủ các quốc gia nhận viện trợ, mục đích của ODA thường bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị công hay xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, bản chất sâu sa của các mối quan hệ ODA không đơn giản là sự hỗ trợ một chiều mang tính “thiện chí” như vậy. Ngoài các lợi ích chính trị và kinh tế hai chiều được tính đến (xin không đề cập ở đây), các nhà tài trợ ngày càng quan tâm đến thúc đẩy qúa trình dân chủ hóa, tức vấn đề cải cách nhà nước và thể chế, ở các nước nhận viện trợ. Động cơ của sự quan tâm này, xét trong bối cảnh hiện nay, không còn mang màu sắc đấu tranh về “ý thức hệ” (như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh trước đây), mà xuất phát từ một nhận định khái quát hơn. Đó là “dân chủ hóa” là điều kiện tiên quyết cho việc xóa đói giảm nghèo một cách bền vững, căn bản, đồng thời tạo môi trường quan trọng và cần thiết để bảo đảm ổn định và an ninh toàn cầu.

Hiện tượng tham nhũng và cuộc chiến chống tham nhũng ở các quốc gia tiếp nhận ODA có liên quan gì đến các mục tiêu của ODA nói trên? Trước hết, có thể khẳng định rằng hiện tượng tham nhũng vốn luôn luôn tồn tại. Trong điều kiện của các quốc gia đang chuyển đổi, tham nhũng đã vẫn tồn tại trong thời kỳ của nền kinh tế kế họach hóa tập trung; tuy nhiên khi đó nó không được nhận diện cũng như không có điều kiện phát triển trong bối cảnh một “hệ thống đặc quyền, đặc lợi” dành cho giới cầm quyền đã được pháp chế hóa. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, hệ thống đặc quyền, đặc lợi chính thức và hợp pháp đã bị xóa bỏ, tham nhũng xuất hiện và gia tăng mạnh mẽ. Cuộc chiến chống tham nhũng ở các quốc gia này trên thực tế không thành công, vì suy cho cùng, nó chỉ động chạm đến khía cạnh đạo đức và các hành vi cá nhân (tức lý do thuộc về con người) mà không tấn công vào các khuyết tật hay bất hợp lý của thể chế, bao gồm theo nghĩa rộng hệ thống tổ chức và họat động của bộ máy nhà nước, các nguyên lý của sinh họat chính trị, khung pháp luật và hệ thống thực thi tư pháp. Minh chứng cho nhận định này, người ta có thể dễ dàng so sánh tình trạng tham nhũng giữa các quốc gia có thể chế dân chủ (nơi vẫn còn tham nhũng nhưng rất ít và được kiểm soát) và các quốc gia chưa được dân chủ hóa (nơi hiện tượng tham nhũng đang tràn lan và trở nên không kiểm soát nổi).

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: