TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG: ĐẰNG SAU CÁI CHẾT THƯƠNG TÂM CỦA BÉ TRAI 7 TUỔI, NHÀ THẦU ĐỀN BÙ 86 TRIỆU ĐỒNG ĐỂ BÃI NẠI

NGUYỄN NINH

Sáng ngày 2/1/2008 bé Ngô Hoàng Võ, 7 tuổi làm nghề xiếc dạo đã rơi xuống hố ga gần cầu Trần Khánh Dư, phường 2, quận Phú Nhuận, TP HCM thi thể được tìm thấy vào chiều cùng ngày. Điều đáng nói là sự vô trách nhiệm của nhà thầu công trình không đậy nắp hố ga mặc dù đã nhiều lần được người dân kiến nghị.

Câu chuyện thương tâm

Theo lời chị Năm bán thuốc lá dạo ngay sát đầu cầu Trần Khánh Dư, hai anh em Ngô Hoàng Võ và Ngô Hoàng Văn mới xuất hiện ở khu vực này được mấy tháng nay làm trò xiếc để xin tiền khách nhậu. Văn 9 tuổi làm trò nuốt than, múa lửa. Võ 7 tuổi chỉ có một màn độc là quay đĩa trên lưỡi dao nhọn, sau đó dùng dao đập bôm bốp vào đầu để xin tiền khách. Hai em được đưa đến đây bởi dì He (tên thường gọi của chị Ngô Thị Mỹ Linh, dì ruột của Võ) cùng với hai con của dì He để kiếm ăn.

Đúng đêm Tết dương lịch, dì He nhận trách nhiệm chở hai anh em Văn và Võ đi “làm ăn”. Thường một đêm, theo lời Long, một đứa trẻ cũng làm trò xiếc kể, bọn chúng phải trải qua đến hơn 300 quán nhậu trải dài từ Bệnh viện 115 đến dọc bờ kênh Thị Nghè để biểu diễn và xin tiền. Khu vực cầu Trần Khánh Dư này là điểm tập kết cuối cùng.

Sau khi xin tiền từ bên kia đầu cầu phía quận 1, Võ sang bên này cầu phía đường Cù Lao, quận Phú Nhuận để tìm anh Văn đang biểu diễn. Lúc đó tầm 12 giờ đến 1 giờ khuya, khi em đi men theo bờ kè để vào khu quán nhậu, do hố ga không được che chắn gì nên tai nạn thương tâm đã xảy ra.

Đến khuya, người dì và anh Văn quay lại tìm Võ không thấy đã lùng sục khắp khu vực gần đó để tìm. Một số người nghĩ em rơi xuống hố ga nên đã lấy gậy chọc xuống tìm nhưng không thấy. Cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục suốt sáng hôm sau và đến chiều 2/1 thì thi thể bé Võ nổi lên. Công an phường 2, quận Phú Nhuận đã tổ chức vớt xác em đưa về Bệnh viện An Bình để làm thủ tục khám nghiệm, an táng. Ngay sau đó, nắp hố ga đã được nhà thi công đậy lại.

(more…)

VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VI THÁI LANG

Vấn đề quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong triết học xã hội của chủ nghĩa Mác. Tầm quan trọng đó không chỉ ở chỗ: “Quan điểm về đời sống về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Kinh nghiệm đấu tranh, bảo vệ và xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho chúng ta bài học vô giá là: “Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của đảng”. Chính vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là cần thiết.

Để giải quyết vấn đề nêu trên, theo chúng tôi trước hết cần phải xác định rõ khái niệm thực tiễn phân biệt nó với khái niệm hoạt động, sau đó là với khái niệm hoạt động lý luận. Trong các tài liệu khoa học, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thực tiễn, nhưng có thể nói, chưa có một ý kiến thống nhất về vấn đề này. Tính đến các quan điểm khác nhau, chúng tôi xin trình bày vắn tắt quan điểm của chúng tôi về khái niệm thực tiễn như sau.

Thứ nhất, thực tiễn là hình thức hoạt động đặc thù người. Khái niệm thực tiễn đặc trưng cho hoạt động sống của xã hội loài người.

Thứ hai, thực tiễn là hoạt động người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Đây là điểm khác biệt của thực tiễn so với hoạt động nhận thức.

Thứ ba, thực tiễn là hoạt động được chủ thể tiến hành để đạt tới mục đích được đặt ra từ trước.

Thứ tư, thực tiễn mang tính chất lịch sử xã hội. Đó là những đặc điểm chung của thực tiễn mà nhiều tác giả đã nhất trí.

Vậy thực tiễn là gì? Theo chúng tôi, có thể xác định thực tiễn là hoạt động của một chủ thể lịch sử cụ thể, trong quá trình hoạt động ấy nó tiến hành cải tạo vật chất đối với hiện thực một cách phù họp với các mục đích của bản thân, với mô hình lý tưởng và với trí thức của nó về hiện thực và nhờ mối liên hệ giữa đối tượng hóa và giải đối tượng hoá trong quá trình này mà nó tự cải tạo chính bản thân mình. Định nghĩa này có thể hơi dài, song nó cho phép thâu tóm được mọi hình thức đa dạng của thực tiễn xã hội và phân biệt nó với các hoạt động không phải là hoạt động thực tiễn. Điều cơ bản trong định nghĩa này là ở chỗ khẳng định rằng bằng hoạt động của mình, chủ thể chuyển cái tinh thần, ý niệm thành cái vật chất và qua đó, thể hiện ra là lực lượng tích cực của sự cải tạo.

(more…)

MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA

TS.ĐINH SƠN HÙNG

I. MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Sản xuất hàng hóa và sau đó tiền tệ ra đời, đánh dấu sự phát triển về chất của kinh tế nhân loại. Đồng thời, dưới tác động của tiến bộ khoa học, kỹ thuật, của lực lượng sản xuất; sản xuất, lưu thông trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển và kéo theo sau đó là sự xuất hiện ngày càng đa dạng các loại thị trường; cơ chế thị trường hoạt động ngày càng linh hoạt, rộng khắp. Khi nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường thì gọi là nền kinh tế thị trường hoặc mô hình kinh tế thị trường, hay kinh tế thị trường. Đến thời điểm ngày nay, dù kinh tế thị trường có những khuyết tật bản chất của nó, nhưng đây vẫn là mô hình kinh tế ưu việt nhất.

Lịch sử phát triển kinh tế thị trường nhân loại, tới hôm nay, ở góc độ tổng quát có thể phân thành hai mô hình: mô hình kinh tế thị trường ”cổ điển“ và mô hình kinh tế thị trường “hiện đại”.

Đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế thị trường “cổ điển“ là duy trì, và khuyến khích rộng rãi tự do cạnh, tự do trao đổi, tự do tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở tín hiệu và sự điều tiết của thị trường. Do vậy, hoạt động của mọi chủ thể kinh tế, sự vận động của giá cả đều chịu tác động trực tiếp của hệ thống quy luật kinh tế thị trường, mà A.Smit gọi là “Bàn tay vô hình“. Trong giai đoạn vận động, phát triển của kinh tế thị trường “cổ điển“, Nhà nước chỉ đóng vai trò “giữ nhà“, nghĩa là Nhà nước can thiệp rất hạn chế và mang tính gián tiếp vào các hoạt động kinh tế. Tiêu biểu của mô hình này là nền kinh tế Tây Âu từ thế kỷ XVI đến gần cuối thế kỷ XIX.

Ưu điểm nổi bật của mô hình kinh tế thị trường “cổ điển“ là nền kinh tế phát triển năng động, linh hoạt. Nhưng sự tồn tại và vận động của nền kinh tế theo mô hình này đến một giai đoạn nhất định, khi trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất cao, thì những khuyết tật của thị trường bộc lộ một cách mạnh mẽ, mâu thuẫn nội tại trong phát triển ngày càng gay gắt, khủng hoảng kinh tế bột phát với sức tàn phá nặng nề. Mà cuộc khủng hoảng 1929-1933 là một minh chứng.

(more…)

NGHỊ SĨ CÔNG DÂN

TS. NGUYỄN SỸ PHƯƠNG

Nền dân chủ sơ khai đầu tiên trong lịch sử loài người bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, tiếng Hy Lạp gọi là “Δημοκρατία”, có nghĩa nhân dân quyết định công việc nhà nước. Tuy nhiên, lúc đó khái niệm “nhân dân quyết định” cũng chỉ giới hạn vào một nhóm người và loại trừ phụ nữ.

Ngày nay, dân chủ được phân ra dân chủ trực tiếp, nghĩa là mỗi người dân có quyền tham gia trực tiếp vào quyết định của nhà nước (trên thực tế ở cấp trung ương không xảy ra ngoại trừ trường hợp trưng cầu dân ý), và dân chủ đại diện (hay gián tiếp) nghĩa là chỉ những người đại diện do dân bầu ra có quyền đó, như nghị sĩ quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân.

Với dân chủ gián tiếp, ý nghĩa thật sự của nền dân chủ (nhân dân quyết định công việc nhà nước) phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ thực tế giữa người đại diện, chính quyền, người dân, và chỉ đạt tới lý tưởng một khi mối quan hệ đó mang bản chất dân chủ trực tiếp – đích phấn đấu của mọi nhà nước dân chủ trên thế giới ngày nay.

Tuy nhiên, không phải cứ có đích tốt là thực thi được, dân chủ là một quá trình vận động tương tự như quá trình sản xuất, cần có giải pháp công nghệ. Trong thời đại hội nhập toàn cầu, công nghệ thực thi dân chủ cũng như mọi lĩnh vực khác, luật pháp, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật… cho phép các quốc gia phấn đấu, đeo đuổi những thành tựu tiên tiến nhất.

Thành tựu công nghệ thực thi dân chủ hiện nay có thể kể đến là “Hội nghị công dân”, được nước Đức áp dụng cho cấp chính quyền địa phương, huyện, thành, do bộ luật cùng tên điều chỉnh, ban hành bởi từng tiểu bang. Theo đó, Hội nghị công dân phải tiến hành mỗi năm một kỳ, do Hội đồng Nhân dân lên kế hoạch, hoặc nếu do 2,5% dân số địa phương thỉnh nguyện thì phải triệu tập trong vòng ba tháng, và Phó hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân chủ tọa.

(more…)

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: ÁN ĐÃ THI HÀNH XONG LẠI BỊ LẬT LẠI

THỤY CHÂU

Thiệt hại đổ lên đầu nhiều phía bởi chính năng lực yếu kém của cán bộ xét xử. Khi mất, cha mẹ ông T. có để lại một căn nhà và hai lô đất tại TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Năm 2002, em ông T. kiện ông T. ra tòa để đòi chia di sản.

Người thích hiện vật, người muốn đưa tiền

TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm vụ án hồi tháng 8-2003 và sau đó TAND tỉnh Lâm Đồng đã xử phúc thẩm vụ án vào tháng 9-2003. Theo cấp phúc thẩm, ba anh em nhà ông T. đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Sau khi quy giá trị khối di sản thành tiền và trừ đi chi phí mai táng cha mẹ, cấp phúc thẩm tính phần di sản mỗi người được hưởng có giá trị khoảng 38 triệu đồng. Do ông T. đã trực tiếp sử dụng đất và đứng tên trên “giấy đỏ” nên để ông ổn định cuộc sống, cấp phúc thẩm cho ông được hưởng di sản bằng hiện vật. Đổi lại, ông phải thanh toán cho mỗi người em số tiền nêu trên.

Song hai người em lại muốn hưởng di sản bằng hiện vật và đã khiếu nại giám đốc thẩm. Phần ông T. sau khi thắng kiện đã lập hợp đồng chuyển nhượng hơn 2.600 m2 đất cho người khác vào tháng 3-2004.

Mãi đến tháng 6-2006, chánh án TAND tối cao mới có quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm. Hai tháng sau, Tòa dân sự TAND tối cao quyết định hủy cả bản án sơ thẩm lẫn phúc thẩm. Lý do: Hai cấp tòa sơ và phúc thẩm mắc nhiều lỗi sơ đẳng như chưa xác minh làm rõ ông T. có khai phá đất hay không và nếu có thì diện tích bao nhiêu; diện tích đất lớn nên các tòa có thể chia đất v.v…

Tháng 9-2008, vụ án được TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm lần hai. Ngặt nỗi, hơn 2.600 m2 đất nằm trong khối di sản đã được bán cho người khác trước đó (!). Tại phiên tòa, em ông T. rút yêu cầu chia phần di sản này để khởi kiện thành một vụ án khác. Họ cho rằng ông T. đã chuyển nhượng đất trái pháp luật và Thi hành án dân sự TP Đà Lạt có lỗi một phần. Bởi lẽ vào tháng 2-2004, cơ quan này đã xác nhận cho ông T. là thi hành xong bản án trong khi họ không chịu nhận tiền và đang khiếu nại giám đốc thẩm. Họ bảo nhờ xác nhận này mà anh mình đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng.

Được biết, từ giữa năm 2005, Thi hành án dân sự TP Đà Lạt đã gửi tiết kiệm số tiền trên tại một ngân hàng và thông báo cho hai em của ông T. đến nhận tiền.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: