ĐÁNH THỨC ĐẤT TRONG TẾT NGUYÊN ĐÁN

7 NGUYỄN VINH PHÚC

Nguyên đán là từ Hán – Việt. Như vậy từ “Tết” có tên gọi khi nước ta tiếp xúc với văn hóa Hán. Cái tên Tết mà các cụ xưa dùng để chỉ Tết Nguyên đán thì cũng là diễn nôm chữ “Nguyên”. Nguyên có nghĩa là bắt đầu, lớn, đứng đầu. Kinh Dịch cũng bắt đầu bằng quẻ Nguyên.

Trước thời Bắc thuộc, ở ta, Tết là một loại hội mùa, tổ chức vào thời gian rỗi rãi, gặt hái đã xong, cày đất đã vãn, bất đầu chuẩn bị một vụ mùa mới, làm màu hoặc lúa chiêm. Do có giao lưu với văn hóa Hán mà từ hội mùa chuyển thành loại hình Tết Nguyên đán ở người Kinh, người Mường, người Tày, người Nùng…với sự gia cố thêm vào ý nghĩa hội mùa một ý nghĩa khác nữa là đánh dấu một “tiết”, tức một cung đoạn của thiên nhiên trong chu kỳ nông lịch.

Động thổ xưa…

Do là hậu thân của các hội mùa nên xem ra các nghi thức tiến hành của Tết Nguyên đán Kinh, Mường v.v…đều giống nhau ở những điểm cơ bản:

1. Tết là dịp để phô bày những thành quả, sản phẩm của lao động, những của ngon vật lạ làm ra trong quá trình sản xuất: mọi người bày mâm ngũ quả, làm các loại bánh, nấu các loại cỗ…
2. Tết còn nhằm lý giải sự hòa đồng giữa cá nhân, gia tộc và làng xóm, cũng như giữa con người và thiên nhiên. Điều này thể hiện tục lệ xông đất, mừng tuổi, hái lộc…
3. Tết còn là dịp để mọi người biểu thị những sáng tạo văn hóa như tổ chức các lễ hội, đặc biệt có một nghi thức mà ở hai tộc người Kinh và Mường rất giống nhau, đó là nghi thức lễ động thổ trong ngày Tết Nguyên đán.

Trong phong tục Tết của người Kinh xưa có lệ kiêng kỵ là ở ngày đầu năm, khi làng chưa làm lễ động thổ thì không ai được động đến đất, không được cuốc xới đã đành mà cả chẻ củi, giã gạo cũng kiêng. Có vẻ là dị đoan, nhưng thực chất là bảo lưu một tín ngưỡng cổ nảy sinh từ vũ trụ quan của người thời nguyên thủy.

Người xưa vốn lấy con người làm gốc để suy luận và giải thích về vũ trụ . Như xét về sự đắp đổi của thời gian thì cứ mỗi lần xuân tới, thiên nhiên bừng sáng, cây cỏ tươi tốt lên, đâm chồi nảy lộc, nhựa đào ứ trong thân cành. Đó là nhờ đất mẹ đã tiếp cho nguồn sinh lực mới.

(more…)

PHÁP LUẬT VÌ CUỘC SỐNG

TS. NGUYỄN SỸ DŨNG

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới xảy ra do nhiều nguyên nhân. Trong đó có nguyên nhân quan trọng là các thiết chế tài chính, ngân hàng đã không bị giám sát chặt chẽ. Theo phản ứng tự nhiên, sắp tới hầu hết các quốc gia trên thế giới sẽ tăng cường giám sát và tăng cường điều chỉnh. Thay vì phấn đấu cho thương mại tự do và thị trường tự do, xu hướng bảo hộ và điều chỉnh có thể sẽ được tăng cường. Với xu hướng này, có lý do để tin rằng sắp tới chúng ta sẽ có nhiều pháp luật hơn và nhiều sự can thiệp của nhà nước hơn. Điều này sẽ xảy ra ở phạm vi một quốc gia, cũng như trên toàn cầu.

Thật đáng tiếc là tự do đã không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của nhân loại. Tuy nhiên, sự điều chỉnh không khéo sẽ còn để ra lắm vấn đề hơn.

Để vượt qua sự lạm dụng trong điều chỉnh, cũng như tránh được cái giá vô cùng đắt đỏ phải trả cho tình trạng đời sống xã hội bị điều chỉnh quá mức, ngày từ lúc này, chúng ta đã cần phải có một phương pháp luận đúng đắn cho hoạt động lập pháp của mình.

Phương pháp luận này có thể được nêu giản dị như sau: nếu tự do là một giá trị tự thân, và pháp luật là một giá trị có điều kiện, thì chỉ khi chứng minh được sự cần thiết phải điều chỉnh, chúng ta mới nên ban hành pháp luật. Phương pháp luận này đòi hỏi chúng ta phải coi hoạt động lập pháp như một cách phản ứng trước các vấn đề có thật của cuộc sống, hơn là một công cụ để uốn nắn cuộc sống theo ý muốn chủ quan của chúng ta. Làm luật là khơi dòng cho dòng sống cuộc sống, hơn là nắn dòng của dòng sông cuộc sống.

Làm luật như một cách phản ứng trước các vấn đề của cuộc sống có những ưu điểm rất dễ nhận thấy như sau:

Một là, nhắm vào các vấn đề cấp thiết của cuộc sống thì xác định đúng ưu tiên. Trong đời sống của mỗi cá nhân, cũng như của cả cộng đồng, thời gian và các nguồn lực bao giờ cũng là những đại lượng hữu hạn. Do sự hữu hạn này, nên làm việc này thì buộc lòng phải thôi làm việc kia, “bế em thì thôi quét nhà”. Vấn đề là phải xác định được việc gì cần phải làm trước – “bế em” hay “quét nhà”. Hai việc này có vẻ đều quan trọng như nhau. Và rủi ro là chúng ta thường không chọn đúng hoặc cố sức làm cho được cả hai việc cùng một lúc. Làm cả hai việc một lúc thường chẳng làm được việc nào cho đến nơi, đến chốn. Dàn trải trong đầu tư xây dựng cơ bản gây ra những tốn kém và thất thoát không kể xiết như thế nào là điều tất cả chúng ta đều biết. Dàn trải trong hoạt động lập pháp có thể còn gây ra thất thoát, lãng phí lớn hơn rất nhiều.

(more…)

TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA HÊGEN

PHẠM CHIẾN KHU

Nhiều người coi đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền là sự đề cao, tôn vinh pháp luật. Tuy nhiên, theo Hêgen và các triết gia tư sản, đó là một quan niệm chỉ đúng phần nào. Nếu chỉ dừng lại ở quan niệm này thì tư tưởng về nhà nước pháp quyền không khác gì với tư tưởng pháp trị.

Hêgen là một trong những nhà triết học tiền bối, có nhiều đóng góp trong việc phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền tư sản. Ông đã dùng phép biện chứng, luận chứng cho sự tất yếu ra đời của hình thái Nhà nước pháp quyền tư sản. Như chúng ta đã biết, phép biện chứng của Hêgen và phép biện chứng của Mác, Ph.Ăngghen là rất khác nhau (không phải chỉ ở chỗ một bên là duy tâm, một bên là duy vật). Ở đây, chỉ xin tóm lược một số nội dung trong phép biện chứng của Hêgen, khác với phép biện chứng của C.Mác, Ph.Ăngghen nhưng là cơ sở triết lý của Hêgen và của các triết gia tư sản khác về Nhà nước pháp quyền tư sản.

Theo Hêgen, thế giới thể hiện dưới 3 cấp độ và ở mỗi cấp độ đó, phép biện chứng có sự thể hiện rất khác nhau:

Tồn tại: Đây là cái vỏ bề ngoài, nông nhất mà chúng ta có thể cảm giác được. Các quy định (phạm trù) cơ bản của lĩnh vực này là chất – lượng – độ. Phép biện chứng ở đây là sự chuyển hóa thành mặt đối lập. Vương quốc của chất lượng – độ là thế giới vô cơ (theo Hêgen, trong thế giới hữu cơ, các quy luật của chất – lượng – độ chỉ giữ vai trò thứ yếu, bị chi phối bởi các quy định cái phổ quát – cái đặc thù – cái đơn nhất).

Bản chất: Cái tầng sâu hơn của thế giới. Các quy định cơ bản của lĩnh vực nào là đồng nhất, khác biệt, căn cứ, thực tồn ngẫu nhiên, tất yếu, khả năng, hiện thực nhân quả, thực thể… Phép biện chứng trong lĩnh vực này là sự hiện hình của cái này trong cái kia của các mặt đối lập.

Khái niệm (hiện thân của nó là giới hữu cơ, sự sống): Tầng sâu nhất và cũng có thể nói cao nhất của thế giới. Các quy định chủ yếu ở đây là cái phổ quát, cái đặc thù và cái đơn nhất (hoàn toàn khác với cặp phạm trù cái chung và cái riêng của triết học macxít). Phép biện chứng trong lĩnh vực này là sự phát triển.Theo Hêgen, khái niệm là bản chất, là quy luật vận động và phát triển sống động. của giới hữu cơ, nó tồn tại khách quan cũng như các quy luật của thế giới vô cơ. Khái niệm không phải là sản phẩm hoạt động tư duy của chúng ta, do chúng ta sáng tạo ra và đem gán cho sự vật, ngược lại, khái niệm là bản chất, quy luật vận động, phát triển khách quan của sự vật. Tư duy của chúng ta chỉ có thể phản ánh về nó mà thôi. Chỉ có những khái niệm chủ quan, không đúng với bản chất của sự vật mới là sản phẩm tư duy của chúng ta. Sản phẩm cao nhất trong sự phát triển của cuộc sống, theo Hêgen, đó là ý niệm tuyệt đối. Ý niệm tuyệt đối, theo Hêgen, trước hết đó là “sự thống nhất giữa ý niệm lý luận và ý niệm thực tiễn và do đó cũng là sự thống nhất giữa ý niệm cuộc sống và ý niệm nhận thức”.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: