CÔNG VĂN SỐ 1484/BTC-TCT NGÀY 10/2/2009 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VỀ XỬ LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHOẢN TIỀN ĐẶT CỌC VỎ BÌNH GA

Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Bộ Tài chính nhận được một số kiến nghị của doanh nghiệp đề nghị hướng dẫn xử lý về thuế và hạch toán kế toán đối với khoản tiền đặt cọc vỏ bình ga theo hướng dẫn tại công văn 7640 TC/TCT ngày 21/06/2005. Về vấn đề này, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thống nhất như sau:

1. Phân bổ chi phí đối với vỏ bình ga khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp:

Vỏ bình ga của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ga loại có giá trị dưới 10 triệu đồng/vỏ được coi là công cụ, dụng cụ phục vụ sản suất kinh doanh, thực hiện phương thức hạch toán phân bổ chi phí như sau: thời gian phân bổ giá trị đối với các loại vỏ bình đựng ga loại có giá trị dưới 10 triệu đồng/vỏ tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh tối đa là 05 năm. Trường hợp các vỏ bình ga đã tiến hành phân bổ mà thời gian phân bổ còn lại dưới 05 năm thì tiếp tục phân bổ tiếp cho số năm còn lại nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc phân bổ hết giá trị vỏ bình ga tối đa trong 05 năm. Trường hợp các vỏ bình ga đã tiến hành phân bổ mà thời gian phân bổ còn lại lớn hơn 05 năm thì doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh số năm phân bổ còn lại, đảm bảo thời gian phân bổ còn lại tối đa không quá 05 năm.

2. Thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với vỏ bình ga và phương thức kết chuyển thu nhập khác:

- Trường hợp bán vỏ bình ga: các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ga và các cơ sở kinh doanh vỏ bình ga khi thực hiện bán vỏ bình ga phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng, tính thuế giá trị gia tăng, kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với vỏ bình ga bán ra như các loại hàng hóa khác.

(more…)

SỬA ĐỔI ĐIỀU 126 LUẬT NHÀ Ở: KHUYẾN KHÍCH KIỀU BÀO VỀ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC

BÌNH AN

Luật Nhà ở năm 2005 lần đầu tiên cho phép một số đối tượng là người Việt Nam (VN) định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại VN. Tuy nhiên, theo báo cáo của Chính phủ, sau hơn 2 năm thực hiện Luật Nhà ở chỉ có hơn 140 trường hợp người VN định cư ở nước ngoài được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại VN, trong đó chủ yếu là những đối tượng thuộc diện về đầu tư lâu dài theo quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật  nhà ở. Con số này so với nhu cầu thực tế là quá ít ỏi. Lý giải về điều này, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân cho rằng, đó là các đối tượng người VN định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở VN theo Luật Nhà ở quá hẹp. Mặt khác, một số quy định của Luật này không rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng thực hiện.

Trong khi đó, Nghị quyết số 19 của Quốc hội thí điểm cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua nhà ở VN đã mở rộng hơn về đối tượng so với Luật Nhà ở nên việc sửa đổi Điều 126 là cần thiết.

Phải có cống hiến thực sự mới được mua nhà.

Theo Dự thảo, đối tượng được sở hữu nhà đã mở rộng hơn với Luật hiện hành. Theo đó, người VN định cư ở nước ngoài đang tạm trú hợp pháp ở VN thì có quyền sở hữu nhà ở tại VN bao gồm: người có quốc tịch VN; người gốc VN, bao gồm: người về đầu tư trực tiếp tại VN; người có công đóng góp cho đất nước; nhà văn hóa, nhà khoa học; người có kỹ năng đặc biệt mà VN có nhu cầu; người kết hôn với công dân VN ở trong nước.

Ông Trần Thế Vượng Trưởng Ban dân nguyện Quốc hội đặt vấn đề: các nhà văn hóa, nhà khoa học, người có kỹ năng đặc biệt thì VN cần thật, nhưng họ có vào VN để làm việc thực sự hay không, Cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực cho họ trong 3 tháng nhưng thực tế họ chỉ ở VN có 1,2 tuần. Có khi họ vào VN lại vì mục đích du lịch mà không phải làm việc. Cứ theo Luật thì chỉ cần họ xuất trình giấy của cơ quan có thẩm quyền là được sở hữu nhà trong khi không có cống hiến gì cho đất nước. Như vậy là không ổn.

(more…)

LUẬT ĐẤU THẦU VÀ LUẬT ĐẦU TƯ “RÀNG BUỘC” CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC?

TRẦN THỊ SÁNH

Theo quy định của Luật Đấu thầu hiện hành, việc đấu thầu EPC (tổng thầu) hoặc từng gói thầu của các dự án đầu tư xây dựng được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn sơ tuyển về năng lực, kinh nghiệm và giai đoạn đấu thấu thương mại và giá. Theo phương thức lựa chọn này thì hầu hết các nhà thầu đều vượt qua giai đoạn 1, vì các nhà thầu có thể thuê các nhà tư vấn có kinh nghiệm làm bài. Giai đoạn 2 là đấu giá. Thực chất đấu thầu ở Việt Nam hiện nay là đấu về giá. Với cách làm này thì không có nhà thầu nào có thể vượt qua các nhà thầu Trung Quốc.

Thực chất là đấu về giá

Nhiều năm qua, Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều chính sách ưu đãi, trợ giá cho các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt với các tập đoàn, các doanh nghiệp thực hiện các dự án ở nước ngoài, nhằm đảm bảo đời sống và việc làm cho công nhân của họ. Chính vì vậy, nhà thầu Trung Quốc luôn bỏ giá thấp hơn các nhà thầu của các nước khác. Với hàng loạt dự án do Trung Quốc làm tổng thầu ở Việt Nam hiện nay, họ đã đưa sang nước ta hàng ngàn lao động phổ thông, trong đó có cả nấu ăn, vệ sinh, bảo vệ… như ở Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Hải Phòng, Cao Ngạn, xi măng Nghi Sơn, Đồng Bành, đạm Cà Mau, Ninh Bình…, trong khi người lao động nước ta đang thất nghiệp. Một lượng vốn rất lớn để tạo ra một khối lượng công việc, giá trị sản xuất, doanh thu và thị trường công ăn việc làm của chúng ta trong lĩnh vực này đều do người Trung Quốc thực hiện. Vì thế hậu quả của những tác động và hệ luỵ của nó đối với nền kinh tế, xã hội nước ta là điều tất yếu.

Theo ông Phạm Hùng – Tổng giám đốc Lilama: Hiện chúng ta đang vận dụng một cách cứng nhắc và máy móc Luật Đấu thầu của các nước và ngân hàng tư bản mà chúng ta quên rằng hình thức sở hữu của các nước này so với nước ta đang hoàn toàn khác. Các nhà đầu tư của các nước tư bản là các nhà đầu tư tư nhân. Nhà máy, dự án là sở hữu riêng của họ, trong khi ở nước ta tài sản, của cải, nhà máy, dự án là của Nhà nước. Khi chúng ta chưa đa dạng và thay đổi hình thức sở hữu mà lại áp dụng vội vàng và cứng nhắc Luật Đấu thầu của nước ngoài sẽ làm thiệt hại đến quyền lợi quốc gia, cản trở quá trình công nghiệp hóa và xây dựng các tập đoàn công nghiệp trong nước.

(more…)

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM – GIẢI PHÁP NÀO CHO SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

MBA. NGUYỄN KHÁNH TRUNG

Xu thế toàn cầu hoá đang từng giờ, từng ngày tác động nhiều lãnh vực họat động kinh tế xã hội Việt Nam. Sự hội nhập nền kinh tế thế giới càng được nhận thấy rõ qua các chỉ tiêu kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, số lượng công ty, sự phong phú về hàng hoá, dịch vụ, quảng cáo… Sự phát triển của các hệ thống nhượng quyền thương mại bằng cách tận dụng tối ưu các nguồn lực của các nhà nhượng quyềnnhà nhận quyền tại Việt Namcũng không nằm ngoài xu thế này. Trong xu thế đó, vần đề đặt ra là làm sao củng cố vững chắc hệ thống đại lý nhượng quyền trong xu thế cạnh tranh quốc tế như hiện nay?

Để củng cố và phát triển hệ thống nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, nhà nhượng quyền Việt Nam cần xây dựng môt hệ thống các qui trình, qui định, giải pháp sao cho hệ thống vừa đảm bảo phát triển hiệu quả trong ngắn hạn và bền vững trong dài hạn. Cụ thể là nâng cao chất lượng chuyển giao và chất lượng quan hệ cho hệ thống nhượng quyền của mình.

Chất lượng chuyển giao là chất lượng của toàn bộ các yếu tố ngắn hạn được chuyển từ nhà nhượng quyền cho nhà nhận quyền từ lúc khởi nghiệp. Chất lượng chuyển giao tập trung nhận diện và nhận định các nhân tố ảnh hưởng đến thành công của nhà nhận quyền trong việc khởi nghiệp, cụ thể là xem xét các tiêu chuẩn tối thiểu cho việc khởi sự và quản lý của nhà nhận quyền cho phù hợp và hiệu quả. Thông thường, các yếu tố này thường được nhà nhượng quyền thể hiện trong hồ sơ nhượng quyền và cụ thể hoá trong hợp đồng nhượng quyền. Trong đó, cả hai bên cam kết thực hiện hàng loạt các cam kết nhằm tối đa hoá lợi ích của hai bên. Chất lượng chuyển giao thường được quan tâm nhất là chất lượng của sản phẩm cung ứng, mô hình kinh doanh, thời gian hoạt động, qui trình đào tạo, vấn đề về cấp phép, thời gian cung cấp hàng hóa – dịch vụ, về quyền phân phối, độc quyền, phí chuyển nhượng, phí vận hành hàng tháng, hiệu quả của các chương trình tiếp thị, kinh doanh và những hỗ trợ khác như vận hành, tài chính, tiếp cận và cung cấp thông tin hệ thống, bí quyết kinh doanh, các qui định bắt buộc nhà nhận quyền tuân theo, thương hiệu, các qui trình kinh doanh, qui trình huấn luyện, khả năng phát triển kinh doanh của nhà nhận quyền, thái độ tham gia huấn luyện, cam kết thanh toán của các nhà nhận quyền, cam kết của nhà nhận quyền về tính đồng nhất và minh bạch trong kinh doanh…

(more…)

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ TIẾP NHẬN, BẢO QUẢN VÀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG, TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. CÙ HOÀNG HANH – Thi hành án dân sự huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế

Giao nhận, bảo quản và xử lý vật chứng, tài sản có một vai trò hết sức quan trọng trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Vì vậy, lĩnh vực này được các văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn thi hành khá hệ thống, từ Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003; Pháp lệnh THADS 2004; Nghị định 18/2002/NĐ-CP ngày 18/2/202; Nghị định 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ (gọi tắt là Nghị định 173); Quyết định 1766/1998/QĐ-BTC ngày 7/12/1998 của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Thông tư số 06/2003/TT-BCA(V19) ngày 12/3/2003 của Bộ Công an ; Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng (gọi tắt là Thông tư 05); Thông tư số 06/2007/TT-BTP ngày 05/7/2007 của Bộ Tư pháp (gọi tắt là Thông tư 06)…Mặc dù vậy, hiện nay trong quá trình thực hiện các cơ quan THADS vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc sau:

1. Về căn cứ tiếp nhận và thời điểm tiếp nhận vật chứng, tài sản.

Trước đây (trước khi Bộ luật TTHS 2003 có hiệu lực) việc giao nhận vật chứng, tài sản trong thi hành án dân sự được thực hiện căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Theo đó, thời điểm tiếp nhận vật chứng, tài sản (về nguyên tắc) cùng lúc với việc giao nhận bản án, quyết định của Tòa án hoặc có thể sau thời điểm nhận bản án, quyết định của Tòa án.

Còn kể từ khi Bộ luật TTHS 2003 có hiệu lực đến nay, việc giao nhận căn cứ vào quyết định của Viện kiểm sát nhân dân đang thụ lý vụ án về việc chuyển vật chứng từ kho cơ quan Công an sang kho cơ quan THADS. Theo đó, thời điểm giao nhận vật chứng, tài sản là trước hoặc cùng thời điểm giao nhận bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp vật chứng, tài sản được chuyển giao trước thời điểm chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án đó là: "Trong trường hợp vật chứng được bảo quản tại kho của cơ quan Công an hoặc tại kho của cơ quan điều tra trong quân đội, thì khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vật chứng từ kho của cơ quan Công an hoặc từ kho của cơ quan điều tra sang kho vật chứng của cơ quan thi hành án, đồng thời thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án cùng cấp" (Điểm b, tiểu mục 21.2, mục 21 của Thông tư 05). Trường hợp vật chứng được chuyển giao cùng thời điểm chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án là những loại vật chứng kèm theo hồ sơ như: séc giả, bằng giả, chứng minh nhân dân, tranh ảnh…. Đối với những loại vật chứng này, trách nhiệm chuyển giao thuộc về Tòa án đã ra bản án, quyết định đó (Khoản 1 Điều 9 Nghị định 173).

(more…)

THÔNG TƯ SỐ 01/2009/TT-BXD NGÀY 25/2/2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG QUY ĐỊNH MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ HƯỚNG DẪN MẪU HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ NHÀ CHUNG CƯ TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CỦA TỔ CHỨC KINH DOANH NHÀ Ở

BỘ TRƯỞNG BỘ XÂY DỰNG

Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Căn cứ Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 01 tháng 11 năm 2006 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản,

THÔNG TƯ

Điều 1. Trách nhiệm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho Bên mua và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở lần đầu khi mua căn hộ nhà chung cư trong dự án đầu tư xây dựng

1. Tổ chức kinh doanh nhà ở (Bên bán) có trách nhiệm làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho Bên mua căn hộ nhà chung cư.

2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ nhà chung cư bao gồm hồ sơ cơ sở và hồ sơ từng căn hộ nhà chung cư.

2.1. Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhà chung cư được nghiệm thu đưa vào sử dụng, tổ chức kinh doanh nhà ở (Bên bán) phải hoàn thành và nộp cho cơ quan cấp giấy chứng nhận hồ sơ cơ sở của nhà chung cư.

Hồ sơ cơ sở được lập chung cho tất cả các căn hộ, phần sở hữu riêng trong nhà chung cư, bao gồm:

a) Các giấy tờ về dự án đầu tư xây dựng nhà chung cư sau đây:

- Bản sao quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư;

- Bản sao quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 của dự án (trường hợp không có bản sao quyết định phê duyệt quy hoạch này thì phải có bản sao thoả thuận tổng mặt bằng của khu đất có nhà chung cư);

b)  Một trong các giấy tờ về đất xây dựng nhà chung cư:

- Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Quyết định giao đất và các chứng từ xác nhận đã nộp tiền sử dụng đất (trừ trường hợp được miễn hoặc được chậm nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật);

c) Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở:

Sử dụng bản vẽ mặt bằng hoàn công phần kiến trúc hoặc bản vẽ thiết kế mặt bằng phần kiến trúc phù hợp với hiện trạng nhà ở (mà không phải đo vẽ lại), bao gồm: bản vẽ mặt bằng xây dựng của ngôi nhà chung cư, bản vẽ mặt bằng của tầng nhà có căn hộ; trong trường hợp bản vẽ mặt bằng của tầng nhà không thể hiện rõ kích thước của căn hộ thì phải có bản vẽ mặt bằng của căn hộ đó. Bản vẽ này là căn cứ để cơ quan cấp giấy chứng nhận thể hiện sơ đồ nhà ở trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.

(more…)

THỰC TRẠNG MÔ HÌNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

PHẠM THỨ TRIỆU – Công ty Chứng khoán Thăng Long – CN TP.HCM

Làm sao phát triển mô hình nhượng quyền tại Việt Nam một các có hiệu quả? Áp dụng nó vào thực trang của nước ta. Và đi tìm lợi thế của thương hiệu "Việt" vốn đã bị mất bao năm nay? Nhìn lại Việt Nam sau hơn 2 năm gia nhập WTO thì những cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp nước ta tận dụng và kiểm soát như thế nào? Trong phạm vi bài viết của tác giả chỉ đưa ra nhận định và đánh giá của cá nhân về một khía cạnh nhỏ có ảnh hưởng cũng như thực trạng phát triển của lĩnh vực này như thế nào ở nước ta, đó là “Nhượng quyền”.

Để có thể nhìn nhận và đánh giá mức độ phát triển của lĩnh vực này trên thế giới và nước ta trong thời gian qua và đến thời điểm hiện tại như thế nào, sơ lược như sau:

Điểm lại sự phát triển của lĩnh vực này trên thế giới của những thương hiệu nổi tiếng với quy mô nhân rộng và chúng đã có mặt hầu hết các quốc gia, điều đó cho thấy lĩnh vực kinh doanh này đã và đang nhân rộng, phát triển rất mạnh ở các nước phát triển với hàng trăm năm. Chính các thương hiệu mạnh và nổi tiếng nhất đã hình thành, phát triển từ đây và đang mở rộng tầm ảnh hưởng ra toàn cầu bằng các kênh phân phối cũng như các vệ tinh được tạo lập. Điều này đã tạo nên một tất yếu cho sự sống còn của các doanh nghiệp trong nước cũng như các quốc gia đang phát triển và đã dần dần đặt ra hai vấn đề lớn là: Tiếp nhận thương hiệu hay bật dậy từ chính nội lực.

Chẳng hạn, Mcdonald’s hơn 50 năm hình thành phát triển với trên 30 ngàn cửa hàng và có mặt trên 120 quốc gia trên toàn thế giới. Người ta ước tính rằng, cứ khoảng sau từ 4 đến 5 giờ đồng hồ thì trên toàn cầu xuất hiện thêm 1 nhà hàng nữa mang thương hiệu Mcdonald’s với mức phí cố định thanh toán một lần mà bên nhận nhượng quyền phải là 45,000.000 USD và một khoản phí được thu hàng thàng là 1,9%, không dừng lại ở đó mà chính trong hệ thống của nó có hẳn một trường đào tạo nghiệp vụ phục cho các hoạt động kinh doanh và đào tạo nhân sự đảm bảo nhu cầu phát triển mô hình nhượng quyền của nó với tên gọi là "Trường đại học Mcdonald’s". Cũng như các thương hiệu khác như: Gà rán KFC, trà Dilmahs, khách sạn Marriott, khách sạn Hyatt, khách sạn Sheraton, cà phê Gloria Jean’s… là những thương hiệu hầu hết mọi người đều biết với những nét đặc trưng nhất định về chất lượng, kiểu dáng, mùi vị và không có sự khác biệt giữa các cửa hiệu khác nhau dù ta bắt gặp và thưởng thức từ bất cứ nơi đâu. 

(more…)

MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

SAGA - Như chúng ta đã biết, nhượng quyền thương mại là một hình thức kinh doanh đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Đã có nhiều khái niệm được nêu ra của nhiều trường phái khác nhau nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện họat động kinh doanh nhượng quyền đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các khái niệm này thường khác nhau.

Các khái niệm dưới đây được chọn lọc dựa trên sự khác nhau trong việc quản lý điều chỉnh các hoạt động nhượng quyền thương mại của một số nước tiêu biểu, có thể phân chia các nước trên thế giới thành bốn nhóm nước như sau:

(i)                 Nhóm các nước với hệ thống pháp luật bắt buộc (hoặc khuyến khích sự tự nguyện) công khai chi tiết nội dung của thoả thuận nhượng quyền thương mại.

(ii)                Nhóm các nước với hệ thống pháp luật khuyến khích sự tự nguyện, công bố chi tiết nội dung của thoả thuận nhượng quyền thương mại.

(iii)               Nhóm các nước có luật cụ thể, điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại.

(iv)              Nhóm các nước điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại theo luật về chuyển giao công nghệ.

Dựa trên 4 nhóm nước này, ta có một số khái niệm nhượng quyền tiêu biểu sau đây:

* Khái niệm nhượng quyền của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association):

* Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association) là hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã nêu ra Khái niệm nhượng quyền thương mại như sau:

 

(more…)

TRANH CHẤP QUYỀN KỊCH BẢN ĐÂU ĐẤT KHÁCH: LẠI “Ý TƯỞNG LỚN GẶP NHAU”

THANH HIỆP

Xuất phát từ ý tưởng kịch bản cải lương Mùa chim lá rụng, nhưng chủ sở hữu vở kịch Lấy chồng xứ lạ đòi kiện tác giả và đạo diễn vở Dâu đất kháchVở Dâu đất khách (kịch bản Ngô Hồng Khanh, đạo diễn Trần Ngọc Giàu) đang được dàn dựng và dự kiến ra mắt khán giả vào ngày 1-3, tại rạp Hưng Đạo (TPHCM) thì gặp sự cố tranh chấp bản quyền. Người phát pháo cho vụ tranh chấp tác quyền kịch bản Dâu đất khách là ông bầu Phước Sang.

Dâu đất khách là phiên bản của Lấy chồng xứ lạ?

Khi biết thông tin Trung tâm Băng nhạc Rạng Đông đầu tư dàn dựng kịch bản Dâu đất khách này, nghệ sĩ Phước Sang đã phản ứng bằng cách lên tiếng sẽ kiện tác giả kịch bản Dâu đất khách vì kịch bản này có nội dung giống với kịch bản Lấy chồng xứ lạ của tác giả Ngô Hồng Khanh – Đoàn Bá mà đạo diễn – NSƯT Đoàn Bá đã dàn dựng cho Sân khấu Kịch Sài Gòn trong năm 2002.

Nghệ sĩ Phước Sang nói: “Vở kịch này nói về thân phận những người phụ nữ bị ép bán sang Đài Loan làm dâu, bị hành hạ, chà đạp và Kịch Sài Gòn đã diễn trên 100 suất vào thời điểm đó. Nay, kịch bản này được đem ra dàn dựng lại và đổi tựa là Dâu đất khách nhưng chưa có ý kiến của Sân khấu Kịch Sài Gòn. Trong khi đó, tác giả Ngô Hồng Khanh và đạo diễn Đoàn Bá đã ký bán độc quyền kịch bản cho Kịch Sài Gòn với giá 7 triệu đồng”.

Giải thích về sự tranh chấp này, đạo diễn- NSƯT Trần Ngọc Giàu, cho biết: “Vụ tranh chấp này hoàn toàn sai luật. Phước Sang đã cho rằng chúng tôi vi phạm bản quyền là không chính xác. Vì trên thực tế, tác giả Ngô Hồng Khanh không ký bán độc quyền cho Phước Sang, vì giá bán kịch bản độc quyền không thể có giá 7 triệu đồng, trong khi đó Kịch Sài Gòn đã diễn mấy năm liền, lại quay video, quay phát sóng truyền hình. Phải chăng vì Phước Sang không muốn ê kíp diễn viên mới tham gia vở kịch này nên mới làm khó anh em”.

Qua trao đổi với tác giả Ngô Hồng Khanh, ông cho biết: “Kịch bản Lấy chồng xứ lạ của Kịch Sài Gòn xuất thân từ kịch bản cải lương Mùa chim lá rụng do tôi sáng tác năm 2002, được đạo diễn Đoàn Bá dàn dựng cho Đoàn Cải lương Bến Tre tham dự Hội diễn Sân khấu Cải lương chuyên nghiệp Nam Bộ năm 2002. Sau đó, đạo diễn Đoàn Bá đã chuyển thể lại toàn bộ kịch bản cải lương thành kịch nói, lấy tên Lấy chồng xứ lạ. Khi Hội đồng Phúc khảo Sở VHTT TPHCM (nay là Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch TPHCM) không đồng ý cấp phép nếu chỉ để tên tác giả Đoàn Bá, vì Phòng Quản lý sân khấu của Sở VHTT TPHCM biết đó là sáng tác của tôi.

(more…)

ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TRẦN VĂN THỌ

Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh toán quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đoạn phát triển sắp tới. Nếu chúng ta muốn giai đoạn sắp tới phải là giai đoạn tăng trưởng bền vững (sustained growth) thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng trưởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay.

Từ thập niên 1980 ở Trung Quốc và Việt Nam và từ thập niên 1990 ở Đông Âu, các nền kinh tế kế hoạch tập trung từng bước chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu thập niên 1990, chiến lược chuyển đổi và các biện pháp cụ thể được Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhiều chuyên gia Mỹ đúc kết thành ba nội dung chính: Tự do hóa (liberalization) các hoạt động kinh tế kể cả ngoại thương; giá cả, hối suất do thị trường tự do quyết định; ổn định hóa (stabilization) kinh tế vĩ mô, giảm chi tiêu Chính phủ; và tư nhân hóa (privatization) doanh nghiệp quốc doanh. Ba biện pháp này được khuyến khích tiến hành đồng loạt trong thời gian ngắn. Các nhà phân tích gọi đây là Đồng thuận Washington (Washington Consensus).
Nếu cải cách theo Đồng thuận Washington là chiến lược cấp tiến có tính cách liệu pháp shock để cứu chữa ngay căn bệnh của thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa thì cải cách của Trung Quốc và Việt Nam có thể được gọi là tiệm tiến (gradualism, incrementalism) hoặc sự tiếp cận hai đường song song (two-track approach). Nghĩa là tùy theo khu vực kinh tế mà áp dụng biện pháp cải cách khác nhau để giữ ổn định chính trị, xã hội và để không ai bị thiệt trong quá trình cải cách (reforms without losers), như vậy tránh được sự chống đối cải cách của thế lực bảo thủ muốn duy trì quyền lợi đã có. Nói cụ thể, ít nhất là trong giai đoạn đầu, không tư nhân hóa doanh nghiệp quốc doanh, thay vào đó đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp phi quốc doanh, kể cả đầu tư từ nước ngoài (FDI).

(more…)

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN

PGS.TS. HÀ HÙNG CƯỜNG – ƯVTWĐ, BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Phóng sự tối 5 tháng 11 năm 2008 của Chương trình thời sự Đài truyền hình Việt Nam đề cập đến những tranh chấp giữa cha và con khi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) mang tên cha, còn Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (sổ hồng) cho ngôi nhà được xây trên mảnh đất bằng tiền của con đầu tư, nên mang tên con. Con mang sổ hồng đi thế chấp một ngân hàng, bố mang sổ đỏ đi thế chấp một ngân hàng khác. Ngân hàng nào được quyền ưu tiên đối với bất động sản nhà đất này?

Phóng sự tối 1 tháng 12 năm 2008 đưa tin về tranh chấp giữa những người góp vốn mua căn hộ trong chung cư sẽ được xây dựng và chủ đầu tư dự án chung cư. Tranh chấp liên quan đến Điều 39 của Luật Nhà ở năm 2005. Người mua cho rằng chủ đầu tư vi phạm Luật Nhà ở khi huy động vốn của họ ở thời điểm chưa hoàn thành móng mà chỉ mới đóng được cọc móng. Chủ đầu tư cho rằng họ đã làm xong móng và vì vậy có quyền huy động vốn. Pháp luật hiện hành không quy định thế nào là móng nhà, nên không thể có đủ căn cứ pháp lý để xác định vấn đề.

Hai sự kiện nêu trên mà Truyền hình Việt Nam đã đưa không phải là một vài hiện tượng cá biệt và điều này cho thấy hệ thống pháp luật nước ta đang cần phải được tiếp tục hoàn thiện mạnh mẽ hơn để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

1. Nhà nước pháp quyền và những yêu cầu cơ bản đối với hệ thống pháp luật

Nhà nước pháp quyền là một trong những thành tựu của loài người trong việc tổ chức và vận hành xã hội. Những ý tưởng về nhà nước pháp quyền đã có từ lâu trong lịch sử nhân loại và được các nhà khoa học chính trị, luật học, xã hội học, sử học nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau. Nhà nước pháp quyền được các nhà luật học của nhiều nước định nghĩa bằng những ngôn ngữ và diễn đạt khác nhau, song về bản chất có thể tóm lại như sau: nhà nước pháp quyền là nhà nước thực thi quyền lực của mình dựa trên nền tảng pháp luật được ban hành theo thủ tục hiến định nhằm bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và công lý. Như vậy, nếu phân tích đầy đủ khái niệm này từ góc độ pháp luật, có thể thấy rằng một nhà nước pháp quyền phải là nhà nước chịu sự kiểm soát, sự chế ngự của pháp luật trong mọi hoạt động của mình.

(more…)

NHÌN NHẬN ĐÚNG VỀ CHỈ SỐ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ

LÊ BÌNH

Ngân hàng Deutsche Bank vừa công bố báo cáo đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó, đặc biệt quan tâm đến chi phí sử dụng vốn (COE). Theo đó, hiện chi phí sử dụng vốn trong đầu tư chứng khoán tại nước ta ở mức 17% . Đây là mức chi phí sử dụng vốn cao thứ hai trong khu vực châu Á, sau chi phí sử dụng vốn của thị trường chứng khoán Pakistan và cao hơn các nước khác trong khu vực Đông Nam Á.

So sánh với 6 tháng trước, mức chi phí sử dụng vốn này tăng 0,65%, tăng cao thứ hai trong khu vực châu Á, sau Trung Quốc. Bên cạnh đó, chỉ số phần bù rủi ro vốn cổ phần cũng đã tăng lên mức 6,5% chi phí vốn của nhà đầu tư. Với những thông số này nhiều chuyên gia đề nghị cần nhìn nhận đúng về sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán nước ta với các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi lãi suất mong muốn của nhà đầu tư trên tổng vốn đầu tư tăng lên mức 17% cũng là quá cao trong giai đoạn thị trường chứng khoán nước ta phát triển tốt nhất.

Hơn nữa, trên thị trường chứng khoán thế giới, COE không chỉ là tính toán đơn thuần về chi phí vốn của thị trường mà khi xếp cạnh các nước khác nó trở thành một thước đo đánh giá lợi thế so sánh của thị trường này so với thị trường khác. COE cũng thể hiện kỳ vọng tối thiểu của nhà đầu tư chứng khoán khi đầu tư vào cổ phiếu để bù đắp lại những rủi ro của thị trường. Nghĩa là dù nhà đầu tư nước ngoài có kỳ vọng mức lợi nhuận cao đối với thị trường chứng khoán nước ta vẫn không thể yên tâm. Do yếu tố này chịu ảnh hưởng của tâm lý nhà đầu tư và phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài như tăng trưởng kinh tế, các chính sách của Chính phủ, xu hướng đầu tư… Và trong mỗi thời điểm khác nhau của nền kinh tế thế giới, CEO có ý nghĩa tương đối khác nhau. Trong thời kỳ tăng trưởng mạnh của nền kinh tế thế giới, thị trường mới nổi trở thành điểm đến hẫp dẫn của nhà đầu tư vì tiềm năng của thị trường này thường được đánh giá là đủ để bù đắp những rủi ro thể hiện trong chi phí vốn. Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới suy giảm, các thị trường này sẽ bị ảnh hưởng mạnh.

(more…)

THUA KIỆN NHƯNG KHÔNG KHỎI NỘP ÁN PHÍ

THỤY CHÂU

Cùng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cùng thua kiện nhưng người phải nộp án phí, người không. Theo Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được tòa án chấp nhận, trừ trường hợp họ được miễn hoặc không phải nộp án phí. Nhưng khi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, nhiều tòa án lại thiếu đồng nhất trong việc xác định nghĩa vụ nộp án phí cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (tạm gọi là người có liên quan).

Nơi buộc nộp

Bà Huỳnh Thị Xuân Hoa (xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, TP.HCM) đại diện cho cả hộ gia đình đứng tên trên “giấy đỏ”. Năm 2007, vợ chồng bà N. kiện đòi hộ bà Hoa giao trả gần 1.500 m2 đất. Năm người con của vợ chồng bà Hoa tham gia vụ kiện với tư cách người có liên quan trong vụ án. Họ có cùng ý kiến với cha mẹ, tức không đồng ý trả đất cho nguyên đơn.

Tháng 8-2008, TAND huyện Nhà Bè mở phiên xử sơ thẩm và tuyên buộc hộ bà Hoa phải trả đất. Khi tính án phí, cấp sơ thẩm buộc vợ chồng bà Hoa cùng năm người con liên đới nộp hơn 22 triệu đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Năm 2007, ông L. gửi đơn kiện ông P. tại TAND quận Phú Nhuận với hai yêu cầu là ông P. phải trả 4 m2 đất trên đường Nguyễn Đình Chính (quận Phú Nhuận) và bồi thường thiệt hại do việc xây dựng nhà gây ra. Giá trị thành tiền của hai yêu cầu này là 330 triệu đồng. Được xác định là người có liên quan trong vụ án, vợ ông L. cũng có yêu cầu tương tự chồng mình. Sơ thẩm vụ án hồi tháng 1-2008, TAND quận Phú Nhuận chỉ chấp nhận cho vợ chồng ông L. hưởng gần 20 triệu đồng tiền bồi thường; phần còn lại tòa bác hết. Về án phí sơ thẩm, hai vợ chồng phải cùng nhau nộp hơn 14 triệu đồng.

Nơi không thu

Giống như vợ ông L., bà N. cũng là người có liên quan trong vụ tranh chấp mà chồng mình là bị đơn và một công ty cổ phần kinh doanh nhà là nguyên đơn. Năm 2006, công ty này kiện đòi bị đơn trả hơn 4.000 m2 đất tọa lạc tại huyện Bến Cát (Bình Dương), đồng thời tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất. Sát cánh cùng chồng, bà N. khẳng định lời trình bày của chồng tại tòa chính xác 100%. Bà và chồng chỉ đồng ý di dời nếu công ty có phương án hỗ trợ thỏa đáng để vợ chồng bà tái định cư.

(more…)

CÁC BẤT HỢP LÝ CƠ BẢN TỪ NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ PHÍ, LỆ PHÍ, CHI PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TS. LÊ THU HÀ

1. Phí thi hành án

Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiềnP, tài sản theo bản án, quyết định.

Đây là định nghĩa mới nhất về phí thi hành án (THA) được quy định trong Dự thảo Luật Thi hành án dân sự (THADS) đang được cơ quan có thẩm quyền chuẩn bị (khoản 9, Điều 4 Dự thảo 5 Luật THADS).

Theo Điều 20, Pháp lệnh THADS hiện hành thì, “người được THA có đơn yêu cầu THA phải nộp phí THA đối với khoản THA có giá ngạch tính trên giá trị tài sản mà người đó thực nhận. Mức phí THA, việc thu, nộp, quản lý, sử dụng và xét miễn, giảm phí THA do Chính phủ quy định”.

Ngay từ khi có quy định về phí THA, nhất là sau khi có hướng dẫn mức thu phí, đã xuất hiên nhiều phản ứng khác nhau, nhất là từ phía những người được THA. Quy định người được THA phải chịu phí THA khi yêu cầu cơ quan THA và mức phí tối đa tới 5% được coi là không thỏa đáng trên bất kỳ phương diện nào.

Về mặt lý luận, bản án, quyết định của Tòa án được tuyên nhân danh Nhà nước, vì vậy, nó được tôn trọng và bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

Pháp lệnh THADS năm 2004 đã chi tiết trách nhiệm của toàn xã hội, của cơ quan, tổ chức và mọi công dân đối với việc THA; nghĩa vụ THA của những cá nhân, tổ chức liên quan.

(more…)

NGƯỜI VIỆT VÀ VĂN HÓA ĐÁNH ĐỔI

image KHÁNH DUY

“Công ăn việc làm ổn định trong cơ quan Nhà nước” – đó là nguyện vọng của không ít người VN trong độ tuổi lao động. Người ta thích một chỗ làm việc yên ấm hơn là “chạy lung tung” nơi này nơi kia hoặc ra làm riêng, đối mặt với sóng gió thương trường. Nhìn sâu hơn vào vấn đề, có thể suy rộng ra một đặc điểm tâm lý của số đông người Việt: nỗi sợ sự đánh đổi.

Phát triển nhìn từ văn hóa của sự đánh đổi

Đối với một cá nhân, một doanh nghiệp hay với cả quốc gia, luôn tồn tại sự đánh đổi giữa trạng thái phát triển về mặt vật chất và trạng thái thư giãn về mặt tinh thần. Muốn phát triển thì phải đánh đổi, triết lý phát triển là gì nếu không phải là khuyến khích và thúc ép một nền văn hóa sẵn sàng chấp nhận sự đánh đổi.

Theo thống kê năm 2006, ở Mỹ, khoảng 400.000 người mất việc hàng tuần; và cùng thời gian đó, khoảng 600.000 người thay đổi việc một cách tự nguyện. Trung bình, một người Mỹ gắn bó với một công việc trong vòng 6,6 năm, so với 10,6 năm của Đức và 11,2 năm của Nhật Bản. (*)

Mô hình kinh tế thị trường cạnh tranh tự do của Mỹ được cho là mô hình hiệu quả nhất, năng động nhất, nhiều sáng tạo nhất và cũng phát triển nhất. Nhưng đừng bao giờ quên rằng, đó là mô hình nhiều áp lực nhất. Cạnh tranh tự do đã liên tục tạo ra sức ép phải đổi mới, phải thay đổi.

Lịch sử đã chứng minh rằng mô hình tự do đã tạo ra xung lực mạnh mẽ cho sự phát triển, đó là mô hình có hiệu quả hơn cả cho nền kinh tế quốc gia xét như một tổng thể. Trong dài hạn, nó đã thể hiện tính ưu việt hơn các mô hình kinh tế kế hoạch tập trung hay hỗn hợp mà thành phần nhà nước chiếm ưu thế. Nhưng, xét trong ngắn hạn và xét trên bình diện mỗi cá nhân hay doanh nghiệp, mô hình tự do cạnh tranh không hẳn đã là tốt nhất.

Doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh luôn đứng ở bờ vực mong manh của khả năng bị đào thải, bị phá sản. Thống kê ở Mỹ cho thấy, 80% số doanh nghiệp mới thành lập không thể trụ được quá 3 năm và 98% “sập tiệm” sau 10 năm. Trên thế giới, nói chung, doanh nghiệp tư nhân trong môi trường tự do phải gánh chịu rủi ro cao gấp nhiều lần doanh nghiệp nhà nước trong môi trường “ổn định”.

(more…)

MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN: ĐÔI ĐIỀU CẦN PHẢI SUY NGHĨ

SAGA - Trong bối cảnh hiện nay, sự gia tăng dân số cùng tốc độ đô thị hóa chóng mặt tất yếu đã dẫn đến việc nhu cầu nhà ở của người dân và cơ sở hạ tầng cho các hãng kinh doanh trở thành vấn đề cấp bách. Chính vì vậy, dịch vụ môi giới bất động sản chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong cơ cấu các ngành dịch vụ ở nước ta.

Bất động sản được đưa vào kinh doanh bao gồm: Nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư, văn phòng cho thuê, và các loại nhà khác. Môi giới bất động sản là quá trình tư vấn các quan hệ giao dịch về bất động sản như: mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, và các dịch vụ hỗ trợ khác… giữa các chủ thể có liên quan. Cụ thể là giữa người đại diện chủ sở hữu, người có nhu cầu sử dụng đất với người tư vấn, môi giới. Tại Việt Nam hiện nay, bất động sản chiếm khoảng 70% của cải quốc gia. Do vậy sự phát triển thị trường này có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế nói chung, trong đó vai trò của người môi giới là không thể phủ nhận. Điều này đòi hỏi phải có một sự nhận thức đúng đắn và đánh giá cụ thể hơn về hoạt động môi giới bất động sản ở Việt Nam.

Có thể nói dịch vụ môi giới bất động sản, đặc biệt là môi giới nhà đất đang đứng trước rất nhiều cơ hội để phát triển. Tuy nhiên, những hoạt động trong lĩnh vực này còn khá nhiều vấn đề cần phải xem xét. Nhìn một cách khái quát thì hoạt động của đội ngũ tư vấn nhà đất hiện đang khá lộn xộn, nó nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, và điều này gây tác động tiêu cực tới thị trường. Nhìn một cách tổng thể, đội ngũ tư vấn nhà đất hiện nay chia làm nhiều cấp độ. Quy mô nhất là các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạnvới phương thức hoạt động khá bài bản. Những công ty này tìm kiếm "nguồn hàng" ở các dự án của các nhà đầu tư, các công ty xây dựngv.v…, cập nhật thông rin rồi liên hệ, giao dịch với khách hàng. Họ có đăng ký hành nghề, có trụ sở làm việc, và các thông tin đưa ra có độ tin cậy khá cao. Ta có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin về các công ty này trên internet. Kế đến, không thể không kể đến các văn phòng nhà đất với  số lượng nhiều vô kể. Chỉ cần một căn phòng 3-4m2, vài tấm bản đồ qui hoạch, một chiếc điện thoại bàn, là đã có thể hành nghề môi giới nhà đất. Các văn phòng này phần đông làm ăn manh mún, nhìn chung không mấy hiệu quả. Cuối cùng là hình thức làm ăn riêng lẻ của các cá nhân. Đặc điểm của đội ngũ môi giới này là đa phần làm ăn nhỏ lẻ, không có trình độ chuyên môn, chưa từng qua trường lớp đào tạo, hành nghề chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân và thông tin về bất động sản thu thập, nghe ngóng được. Với cách hoạt động chộp giật như vậy, thông tin bất động sản mà những người này đưa ra nhiều lúc không mấy chính xác, thường không chịu sự giám sát của bất cứ cơ quan nào.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: