SUY NGẪM 29

Số 29

image Theo Báo Sài Gòn giải phóng, Thanh tra TP Hà Nội cho biết: năm 2008,  lực lượng này đã phát hiện sai phạm với giá trị 50,351 tỷ đồng, 674ha đất nông nghiệp, trên 1.000m2 đất thổ cư, đã kiến nghị thu hồi trên 47 tỷ đồng cho Nhà nước để chờ xử lý.

Trong số những sai phạm đã phát hiện có những vụ việc có tính chất nghiêm trọng, quy mô lớn như về giao đất, sử dụng đất tại 3 phường của quận Hoàng Mai; việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 7 huyện: Ba Vì, Quốc Oai, Thạch Thất, Ứng Hòa, Hoài Đức, Thường Tín và Phú Xuyên, qua đó các đoàn thanh tra đã kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý thu hồi 649,9ha đất.

Tuy nhiên, cần công khai rõ các cơ quan, cá nhân đã có những quyết định dẫn tới sai phạm nghiêm trọng về đất đai có bị coi là hành vi sai phạm nghiêm trọng và bị xử lý theo pháp luật hay không?

CIVILLAWINFOR

YÊU HÀ NỘI, THÍCH SÀI GÒN

hoa20loc20vung20ho20guomHỒNG PHÚC

Còn nhớ, nhãn hiệu cà phê Trung Nguyên khi bắt đầu ra mắt thị trường đã mời khách uống thử sản phẩm tại các trung tâm thành phố lớn. Người Sài Gòn uống thử rất nhiều, người Hà Nội uống ít hơn, người miền Trung gần như không uống.

Một nhà văn hóa sau đó khái quát hóa rằng vì người miền Trung không bao giờ cho phép mình ăn uống “đầu đường xó chợ”. Người Bắc “bảo thủ” hơn, ngại thay đổi, thường làm theo truyền thống và thói quen. Họ nghĩ: “Ông tôi, bố tôi đều làm như vậy nên tôi cũng sẽ làm như vậy”. Người miền Nam năng động hơn cả.

Nếu ra phố Sài Gòn, bạn thản nhiên khi thấy người bán hàng, nhân viên lễ tân cúi gập người chào thì ở Hà Nội, bạn không tin vào tai mình khi vào cửa hàng mà được ai đó nói lời cảm ơn. Bởi người Hà Nội luôn sẵn sàng tâm thế bị “mắng mỏ” khi ra đường. Cũng bởi ở miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng, thói quen văn hóa – lịch sử đã để lại một quan điểm cho rằng làm nghề phục vụ là hạ cấp.

“Khi không hiểu hiểu sâu về văn hóa, anh sẽ không làm kinh doanh tốt được”, người kể cho tôi nghe câu chuyện trên vốn là một nhà tư vấn kinh doanh, kết luận bằng một câu như vậy.

Vậy thì văn hóa nào là của người Sài Gòn, văn hóa nào của người Hà Nội? Cuộc tranh cãi này chưa bao giờ có hồi kết. Công chúng không dễ đồng ý với bạn khi bạn đưa ra một tên gọi hay gắn cho chúng một tính từ nào đó. Nhưng bạn có thể cụ thể hóa được phần nào cái gọi là văn hóa người Hà Nội hay người Sài Gòn bằng những câu chuyện kể. (more…)

THẾ CHẤP TÀI SẢN KHI VAY VỐN GẶP NHIỀU KHÓ KHĂN

PHẠM VĂN CHUNG

Hiện nay, việc thực hiện các quy định pháp luật về giao kết hợp đồng, giao dịch, nhất là cầm cố, thế chấp tài sản; chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất… còn có nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho người dân…

Thứ nhất, theo khoản 2 Điều 12, Nghị định số 85/2002/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng “Đối với tài sản cầm cố, thế chấp là phương tiện vận tải, tàu thuyền đánh bắt thủy, hải sản có giấy chứng nhận đăng ký, tổ chức tín dụng giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký, khách hàng vay khi sử dụng phương tiện được dùng bản sao có chứng nhận của Công chứng Nhà nước và xác nhận của tổ chức tín dụng, nơi nhận cầm cố, thế chấp để lưu hành phương tiện đó trong thời hạn cầm cố, thế chấp. Tổ chức tín dụng chỉ xác nhận vào một bản sao giấy chứng nhận đăng ký phương tiện sau khi đã có chứng nhận của Công chứng Nhà nước. Nếu tài sản cầm cố, thế chấp là tàu bay, tàu biển tham gia hoạt động trên tuyến quốc tế, tổ chức tín dụng giữ bản sao giấy chứng nhận đăng ký có chứng nhận của Công chứng Nhà nước”. Tuy nhiên, trên thực tế các cơ quan chức năng (cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông…) không chấp nhận việc khách hàng vay (chủ các phương tiện xe cơ giới) được dùng bản sao có chứng nhận của Công chứng Nhà nước và xác nhận của tổ chức tín dụng (hợp đồng) để lưu hành phương tiện mà đòi hỏi phải có bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện. Điều này trái với quy định của Nghị định số 85/2002/NĐ-CP, và các quy định pháp luật về lĩnh vực công chứng, chứng thực, là: bản sao được công chứng, chứng thực có giá trị như bản gốc, do đó đã cản trở việc các chủ phương tiện xe cơ giới thế chấp tài sản của họ để vay vốn sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, việc sử dụng thuật ngữ “Công chứng Nhà nước” theo như NĐ 85 cũng chưa chuẩn xác, vì ngoài công chứng của Phòng công chứng còn có chứng thực của UBND cấp huyện, cấp xã và Văn phòng công chứng. (more…)

BÁO CÁO SỐ 202 /BC- BVHTTDL NGÀY 10 THÁNG 12 NĂM 2008 CỦA BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VỀ TỔNG KẾT 2 NĂM THỰC HIỆN VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Bộ luật Dân sự có hiệu lực ngày 1/1/2006, Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực ngày 1/7/2006 đã tạo hành lang pháp lý an toàn khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo. Nó đã kế thừa được các giá trị của các văn bản quy phạm pháp luật được thể nghiệm trong thực tế, bảo đảm hài hoà lợi ích của các chủ thể quyền (người sáng tạo, nhà sử dụng, công chúng hưởng thụ), bảo vệ được lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp quốc tế và thể hiện sự minh bạch, khả thi.

 Vì vậy, nó đã thúc đẩy hoạt động bảo hộ tại quốc gia và hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng kết thúc đàm phán tham gia WTO của Việt Nam. Tuy nhiên, sau 2 năm thi hành, nó đã bộc lộ một số thiếu sót, đặc biệt là những tồn tại liên quan đến các chuẩn mực quốc tế. Để có cơ sở cho việc đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Ban soạn thảo đề cập một số nét chính về tình hình thi hành và các kiến nghị sau:

I. Khái quát tình hình thi hành Luật Sở hữu trí tuệ

1. Việc triển khai thi hành:

1.1. Về việc soạn thảo ban hành các băn bản hướng dẫn thi hành:

Các văn bản pháp luật đã được ban hành kịp thời gồm 5 Nghị định, 1 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 4 Thông tư cùng với 4 Quyết định của các Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế.

Một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ký ban hành văn bản quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Uỷ ban Nhân dân quận (huyện), phường (xã) theo phân cấp của Thủ tướng Chính phủ.

Các văn bản trên đã được ban hành kịp thời, đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hoá luật, hướng dẫn và chỉ đạo thực thi thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

1.2. Các hoạt động triển khai thực hiện: (more…)

HỘI ĐỒNG TƯ PHÁP QUỐC GIA – THIẾT CHẾ ĐỘC LẬP VỀ QUẢN LÝ TOÀ ÁN CỦA TÂY BAN NHA

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ tư pháp

Một trong các biện pháp hữu hiệu góp phần thực hiện thành công cải cách tư pháp tại Tây Ban Nha là việc giao công tác quản lý toà án về tổ chức cho một cơ quan độc lập là Hội đồng tư pháp quốc gia. Bài viết dưới đây của tác giả Đặng Hoàng Oanh  giới thiệu về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ  của thiết chế này với mục đích cung cấp một số thông tin tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách và pháp luật của Việt Nam trong quá trình hoàn thiện  tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp – một trong các nhiệm vụ quan trọng đã được đặt ra trong Nghị quyết  Số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược về cải cách tư pháp đến năm 2020.   

Tương tự như các tổ chức công khác, ngành tư pháp (tòa án) cần phải được quản lý và tổ chức tốt mới có thể cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó, do tính chất đặc thù so với các thiết chế công khác, ngành tư pháp còn cần phải hoạt động một cách độc lập và không chịu sức ép từ các nhánh quyền lực khác của nhà nước. Để việc quản lý toà án không ảnh hưởng đến sự độc lập của ngành tư pháp, nhiều nước đã thành lập ra các hội đồng tư pháp quốc gia — cơ quan tách biệt khỏi các cơ quan khác của nhà nước với thành phần gồm các thẩm phán được lựa chọn hoặc quản lý hệ thống tòa án bằng các cách khác. Mặc dù các hội đồng này khác nhau tuỳ từng nước, nhưng sự thành công của chúng phụ thuộc vào cách thức mà các nhà hoạch định chính sách nhìn nhận vấn đề thành phần của các hội đồng, việc lựa chọn các thành viên, nhiệm vụ và trách nhiệm của họ. Kinh nghiệm của Tây Ban Nha với Hội đồng tư pháp quốc gia (Consejo General del Poder Judicia) cho thấy cách thức mà một nước đã xử lý các vấn đề này và phát hiện các nhân tố cần phải cân nhắc khi giải quyết các vấn đề đó. 

Thành phần và việc lựa chọn các thành viên

Hiến pháp Tây Ban Nha quy định Hội đồng gồm có Chánh án  án tối cao là Chủ tịch Hội đồng và 20 thành viên với nhiệm kỳ 5 năm.  Luật cơ bản về Toà án ngày 01/7/1985 của Tây Ban Nha quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của toà án và các cơ quan xét xử khác.[i] (more…)

SỰ TIN CẬY, ĐẠO ĐỨC VÀ LUẬT PHÁP

TRẦN HỮU QUANG

Trong đời sống xã hội, tại sao người ta phải tin nhau? Nếu người ta không còn tin nhau thì hậu quả sẽ ra sao? Đâu là những điều kiện xã hội của sự tin cậy nhau trong xã hội?

Có thể hiểu sự “tin nhau” hay “tin vào người khác” là yên tâm nghĩ rằng người khác sẽ cư xử đúng như mình mong đợi, sẽ làm đúng như lời họ nói. Đây là một tâm thế cởi mở, thật tình, không có định kiến với người khác, kể cả những người chưa quen biết.

Sự tin cậy và sự trung thực

Niềm tin vào người khác ở đây được hiểu không như một khái niệm đạo đức hay tôn giáo, mà như một khái niệm xã hội học. Georg Simmel là nhà xã hội học Đức đầu tiên phân tích khái niệm này. Trong cuốn Sự bí mật và những hội kín (1908), ông cho rằng “mọi mối quan hệ giữa con người với nhau đều đương nhiên dựa trên sự kiện là họ biết gì đó về nhau”. Trong buôn bán, người chủ tiệm biết là khách hàng của mình muốn mua món hàng tốt nhất với giá thấp nhất; người thầy giáo biết là mình có thể đòi hỏi sinh viên phải đạt được một số kiến thức nào đó; vị giám đốc xí nghiệp biết là mình có thể yêu cầu một khối lượng và một chất lượng sản phẩm nào đó đối với công nhân… Nếu không có sự hiểu biết đó, thì hoàn toàn không thể có bất cứ sự tương tác nào trong xã hội. Tuy nhiên, trong những xã hội ngày càng phức tạp và phát triển, “đời sống dựa trên hàng ngàn giả định mà cá nhân hoàn toàn không thể nắm hết hay kiểm chứng hết mọi ngọn nguồn, nhưng họ buộc phải chấp nhận chúng dựa trên sự trung tín [Treu] và sự tin cậy [Glauben]”.

Simmel coi lòng tin cậy là một trong những thuộc tính chủ yếu, thậm chí là thuộc tính đầu tiên, của các xã hội hiện đại; ông coi các xã hội này là những xã hội của lòng tin cậy. Trong những xã hội này, cuộc sống của chúng ta phụ thuộc phần lớn vào niềm tin vào người khác và vào sự lương thiện của người khác. “Những quyết định quan trọng nhất của chúng ta thường dựa trên một hệ thống các quan niệm phức tạp mà phần lớn trong đó đều dựa trên sự đoan chắc là mình không bị đánh lừa”. (more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: