VẤN ĐỀ VI HIẾN VÀ CƠ CHẾ BẢO HIẾN TRONG LUẬT VIỆT NAM

ĐINH THANH PHƯƠNG

Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khi quy định về giá trị pháp lý của Hiến pháp đều khẳng định một điều là Hiến pháp có giá trị pháp lý…

1. Giá trị tối cao của Hiến pháp

Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khi quy định (từ những quy định mang tính hiến định đến những quy định mang tính pháp định) về giá trị pháp lý của Hiến pháp đều khẳng định một điều là Hiến pháp có giá trị pháp lý tối cao trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta.

Điều 146 Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa 10 (Hiến pháp 1992) quy định:

“Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp”

Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16/12/2002 (Luật BHVBQPPL 1996) quy định:

“Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

Văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành”.

(more…)

THANH TRA CHUYÊN NGÀNH TRONG LĨNH VỰC LUẬT SƯ: NHIỀU SAI PHẠM CẦN CHẤN CHỈNH

THU HẰNG

“Năm 2009 sẽ là năm chúng tôi thực hiện quyết liệt các cuộc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư và tư vấn pháp luật”, ông Hoàng Quốc Hùng – Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp đã cho PV Báo PLVN biết như vậy ngay trong ngày đi làm đầu tiên của năm mới. Bởi lẽ, năm 2008 vừa qua được coi là năm đột phá của thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực nói trên. Đây cũng là năm đầu tiên hoạt động này được tiến hành theo Nghị định 76/CP (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp). Chỉ qua thanh tra tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã phát hiện hàng loạt sai phạm.

“Sờ” đâu sai đó.

Theo báo cáo của Sở Tư pháp Hà Nội, hiện Hà Nội có 356 tổ chức hành nghề luật sư và 18 chi nhánh, trong đó có 25 tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Còn tại TP. Hồ Chí Minh, số lượng các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam là 626 tổ chức, 155 chi nhánh và 16 văn phòng giao dịch; Có 37 tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Đoàn Thanh tra Bộ Tư pháp đã thanh tra 66 tổ chức và chi nhánh tại Hà Nội; 74 tổ chức, chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh. Theo ông Hoàng Quốc Hùng thì có đến 95% các tổ chức, chi nhánh bị thanh tra đều có sai phạm. Tuy nhiên sai phạm chủ yếu là về hình thức, ví dụ Hợp đồng thuê trụ sở của một số tổ chức hành nghề luật sư đã hết hạn nhưng chưa gia hạn hợp đồng; Sử dụng trụ sở không đúng địa chỉ được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động; các vi phạm về biển hiệu; hoặc không thực hiện việc thông báo cho Sở Tư pháp khi mở các chi nhánh ở ngoài địa phương; các vi phạm về thủ tục đăng báo…

Bên cạnh đó, cũng có nhiều tổ chức hành nghề luật sư vi phạm nghiêm trọng Nghị định 76/CP về nội dung như hoạt động ngoài lĩnh vực hành nghề ghi trong giấy đăng ký hoạt động;Hành vi để người khác (không phải là thành viên, không ký hợp đồng lao động và không có văn bản uỷ quyền) tiến hành ký kết các hợp đồng dịch vụ pháp lý nhân danh tổ chức hành nghề luật sư của mình- Hành vi vi phạm Luật Khiếu nại, tố cáo. Đặc biệt, nhiều vụ việc

hợp đồng dịch vụ pháp lý không được làm bằng văn bản – vi phạm Điều 26 Luật Luật sư (Điều 26 quy định: Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý (trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức) và hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được làm thành văn bản và có đủ 6 nội dung chính). Đây là vi phạm rất phổ biến của các tổ chức hành nghề luật sư, điển hình có những văn phòng luật sư thực hiện hàng ngàn vụ việc mà không hề ký hợp đồng dịch vụ với khách hàng bằng văn bản. Tuy nhiên, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP lại không có quy định về nội dung này. Ngược lại nhiều văn phòng luật sư có hợp đồng nhưng lại không ghi mức thù lao đã thoả thuận với khách hàng.

(more…)

BÀN VỀ KHÁI NIỆM CƠ CHẾ 3 BÊN TRONG LĨNH VỰC LUẬT LAO ĐỘNG

TS. NGUYỄN XUÂN THU – Đại học Luật Hà Nội

Trong lĩnh vực lao động, cơ chế ba bên của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) là một cơ chế thông dụng ở nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, được sử dụng trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về lao động, tổ chức và quản lí lao động cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh, kể cả giải quyết tranh chấp lao động và đình công. Tuy nhiên với các nước có nền kinh tế thị trường và quan hệ lao động chưa phát triển như Việt Nam thì cơ chế ba bên còn là vấn đề mới mẻ và đang từng bước được ứng dụng. Tìm hiểu khái niệm cơ chế ba bên là việc làm cần thiết và tất yếu cho những quốc gia bắt đầu ứng dụng cơ chế này.

Theo Từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học năm 1998) "cơ chế” là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”(1). Tương tự như vậy, các tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện.

Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm "cơ chế”. Trong cuốn Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO (Nxb Chính trị quốc gia năm 2004), các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng”(2). Một quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề cập trong cuốn Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới – World Trade Organization (Nxb Lao động xã hội năm 2006). Theo các tác giả của cuốn sách này thì nói đến cơ chế bao giờ cũng gồm hai mặt: bên ngoài (thể hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong nội tại của sự vật, hiện tượng). Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng(3).

Như vậy, về phương diện từ điển học và phương diện khoa học, dù cách tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể nhận thấy các quan điểm này đều chỉ ra hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế. Đó là: yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành). Yếu tố tổ chức đề cập đến các thành viên (chủ thể) tham gia, cách thức hình thành tổ chức (cơ cấu) và cách thức tổ chức hệ thống nội tại. Yếu tố hoạt động thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa các thành viên) trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức; nguyên tắc vận hành của cơ chế và nội dung hoạt động của nó.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: