MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯ KÝ TOÀ ÁN VỚI THẨM PHÁN, HỘI THẨM TOÀ ÁN, VIỆN KIỂM SÁT VÀ NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT, XÉT XỬ CÁC LOẠI VỤ ÁN

THS. NGUYỄN QUANG LỘC – Thẩm phán TANDTC

I- Một số khái niệm chung

Mối quan hệ giữa Thư ký Toà án với Thẩm phán, Hội thẩm Toà án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác được hiểu là mối quan hệ của Thư ký với những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Đây là những mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở pháp luật tố tụng, chỉ phát sinh khi những cơ quan, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được xác lập trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời đây cũng là mối quan hệ phối hợp để đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, nhằm giải quyết vụ án đúng đắn.

       1- Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự:

          a) Cơ quan tiến hành tố tụng:

          * Cơ quan điều tra bao gồm: Công an nhân dân, Quân đội, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm. Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan điều tra nói trên phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Thủ trưởng các cơ quan nêu trên được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự .

          * Viện kiểm sát nhân dân các cấp: thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra (Điều 112 Bộ luật tố tụng hình sự)

          Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; nếu thấy cần thiết thì Viện kiểm sát có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên, nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn: bắt, giữ, tạm giam… Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ của cơ quan điều tra; yêu cầu truy nã bị can; quyết định truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

          Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự quy định rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi Kiểm sát điều tra (kiểm sát quá trình điều tra từ khởi tố đến các hoạt động điều tra, việc lập hồ sơ vụ án; kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của những người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp vè thẩm quyền điều tra, yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật, xử lý điều tra viên khi có vi phạm; kiến nghị các cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm…).

          * Tòa án nhân dân các cấp là cơ quan xét xử của Nhà nước. Thẩm quyền xét xử của Toà án về hình sự được quy định tại Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự, cụ thể là:

(more…)

THỰC TIỄN VÀ PHÁP LUẬT CÒN CHÊNH NHAU

LS. LÊ THÀNH KÍNH

Trong thực tế những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật về lao động làm bó tay các cơ quan quản lý nhà nước và thậm chí tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Tổng giám đốc hay tổng quản lý ký hợp đồng lao động?

Ông G., quốc tịch Hà Lan, được một công ty nước ngoài đưa vào Việt Nam làm việc tại một khách sạn trên địa bàn TPHCM. Trong quá trình làm việc do không hợp với tổng quản lý của khách sạn nên ông bị chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Ông G. khởi kiện ra tòa án yêu cầu bồi thường do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.

Trong quá trình hòa giải, Tổng quản lý khách sạn cho rằng mình cũng là người làm thuê nên mọi vấn đề phải hỏi ý kiến người sử dụng lao động là công ty đã cử ông G. sang Việt Nam làm việc (mặc dù ông G. có hợp đồng lao động và giấy phép lao động do công ty sở hữu khách sạn xin). Tòa án thực sự khó khăn trong việc xác định ai là người sử dụng lao động thực sự trong trường hợp này.

Trên thực tế, mô hình thuê công ty quản lý của các khách sạn lớn từ 4-5 sao hiện nay rất phổ biến ở Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật lao động của chúng ta hoàn toàn không điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc tham gia của công ty quản lý người lao động.

Theo Thanh tra Lao động TPHCM, vừa qua nơi này đã tiến hành thanh kiểm tra 543 doanh nghiệp, trong đó có 200 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Kết quả cho thấy khoảng 30% lao động nước ngoài không được doanh nghiệp đăng ký với cơ quan chức năng và khoảng 10% không đủ điều kiện cấp phép lao động.

Trường hợp của ông G., công ty được thuê quản lý khách sạn được công ty sở hữu khách sạn “khoán” cho việc trực tiếp tuyển dụng lao động, ký hợp đồng lao động với người lao động Việt Nam và cả người lao động nước ngoài và vấn đề pháp lý phát sinh từ đây. Ai là người có thẩm quyền ký hợp đồng lao động với người lao động? Tổng quản lý của công ty quản lý hay là tổng giám đốc/giám đốc của công ty Việt Nam?

(more…)

VƯỚNG MẮC VỀ THỦ TỤC NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC

NGUYỄN THANH XUÂN

Quy định về nuôi con nuôi là quy định không mới đối với hệ thống các quy định pháp luật ở nước ta. Việc cho và nhận nuôi con nuôi thể hiện tính nhân đạo sâu sắc đảm bảo cho người con nuôi được chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình. Với những ý nghĩa đó pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý về vấn đề nuôi con nuôi nhằm bảo đảm tốt nhất quyền lợi của người được nhận làm con nuôi. Văn bản pháp lý điều chỉnh về việc đăng ký nuôi con nuôi là Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các thủ tục nuôi con nuôi theo các quy định của Nghị định 158 đã phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập mà trong thời gian tới Nghị định 158 cần có sự bổ sung và sửa đổi.

Trước đây, Nghị định 83 về đăng ký hộ tịch quy định hồ sơ, thủ tục nuôi con nuôi bao gồm đơn xin nhận nuôi con nuôi, giấy thỏa thuận về việc cho và nhận con nuôi, giấy khai sinh của người nhận nuôi con nuôi, chứng minh nhân dân của người nhận nuôi con nuôi, sổ hộ khẩu gia đình… Nghị định 158 đã đơn giản hóa các thủ tục của Nghị định 83 hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi chỉ còn các giấy tờ như giấy thỏa thuận, bản sao khai sinh của người được nhận làm con nuôi, biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi (trường hợp người con nuôi là trẻ bỏ rơi). Liên quan đến thủ tục nhận nuôi con nuôi đối với trẻ bị bỏ rơi đã phát sinh nhiều vướng mắc khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết và người nhận nuôi con nuôi. Khi trẻ em bị bỏ rơi để được nhận làm con nuôi thì UBND cấp xã nơi trẻ em bị bỏ rơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó. Sau đó UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương ba lần trong ba ngày liên tiếp thông tin của đứa trẻ để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ. Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng nếu không tìm được cha, mẹ đẻ thì người, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh và làm thủ tục nuôi con nuôi nếu muốn nhận trẻ làm con nuôi. Trong quy định ta nhận thấy vướng mắc phát sinh từ thời gian thông báo tìm cha, mẹ đẻ của trẻ bị bỏ rơi từ Đài phát thanh hay Đài truyền hình địa phương. Thực tiễn cho thấy hầu hết các UBND cấp xã tiến hành thông báo trên trạm truyền thanh, đài truyền thanh địa phương (cấp xã, huyện) mà không tiến hành thông báo đúng quy định thông báo trên Đài phát thanh, Đài truyền hình (cấp tỉnh) dẫn đến thực hiện thủ tục thông báo tình trạng trẻ em bị bỏ rơi sai quy định. Một vấn đề phát sinh cho thấy nếu tiến hành thông báo trên Đài phát thanh hay Đài truyền hình cấp tỉnh thì cán bộ phụ trách cấp xã phải thực hiện theo quy trình nào, phải trực tiếp đến Đài phát thanh, Đài truyền hình yêu cầu thông báo hay chuyển thông báo đến Đài phát thanh, Đài truyền hình qua đường bưu điện và thời điểm phát tin thông báo là ngày nào để tính khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng như luật định. Điều này UBND cấp xã xử lý vẫn còn bỏ ngỏ dẫn đến không đảm bảo các thủ tục khai sinh cho trẻ em bỏ rơi và thủ tục nhận nuôi con nuôi sau này.

(more…)

TRANH CHẤP LAO ĐỘNG: KHÓ NGỒI LẠI ĐỂ THƯƠNG LƯỢNG

ĐÁ BÀN

TBKTSG - Năm 2008, tại TPHCM xảy ra 198 vụ đình công nhưng không có cuộc tranh chấp lao động tập thể nào được giải quyết theo trình tự mà Bộ luật Lao động quy định. Vì sao? Báo cáo đánh giá 13 năm thực hiện Bộ luật Lao động của Ủy ban Nhân dân TPHCM vừa công bố, viết: “Các quy định trong giải quyết tranh chấp lao động tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn một số điểm khó đi vào cuộc sống, trong đó điển hình là cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công”.

Soi vào… đình công

Tại hội nghị triển khai công tác năm 2009 của ngành, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, nhận định: “Quan hệ lao động còn diễn biến phức tạp, số vụ tranh chấp lao động và đình công năm sau cao hơn năm trước”. Thực tế, số vụ đình công năm 2007 tăng 41% so với năm 2006; năm 2008 tăng 30% so với năm 2007…

Trong số hơn 600 vụ đình công trên cả nước trong năm 2008, có đến 80% tập trung ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; 81,3% rơi vào doanh nghiệp FDI; và 71,3% thuộc các ngành sản xuất gia công, sử dụng nhiều lao động.

Đáng chú ý, theo một chuyên viên của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TPHCM, tất cả các vụ đình công xảy ra đều không có sự tham gia lãnh đạo của Công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động cử ra theo luật định.

Đa phần các tranh chấp không được giải quyết bước đầu bằng thương lượng và hòa giải. Khi phát sinh tranh chấp, cả người sử dụng lao động và người lao động đều trông chờ hoàn toàn vào sự can thiệp của các cơ quan nhà nước. Trong khi, theo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TPHCM, những trường hợp như thế, cần có sự thương lượng trước đó giữa hai bên.

Một cán bộ Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức cho rằng, chính sách thu hút đầu tư bằng lao động rẻ (trước đây) đã gieo vào giới đầu tư quan điểm khai thác triệt để lao động giá rẻ. Vì thế, nhiều doanh nghiệp đã bỏ qua việc trao đổi, thông tin cũng như chăm lo đời sống người lao động. “Và, khi không thể trao đổi, thông tin, thương lượng được thì việc bỏ qua các trình tự, thủ tục đình công – theo luật – của người lao động là điều dễ hiểu”, cán bộ này nói.

(more…)

BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: TỪ QUAN ĐIỂM ĐẾN PHÁP LUẬT VÀ KHẢ NĂNG THỰC HIỆN

TS. NGUYỄN MINH ĐOAN – Đại học Luật Hà Nội

Nhà nước sinh ra là để tổ chức, quản lý các mặt khác nhau của đời sống xã hội, duy trì trật tự, sự ổn định của xã hội và tạo điều kiện cho xã hội phát triển nhanh, bền vững vì lợi ích của các tổ chức và cá nhân trong xã hội, vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy vậy, đội ngũ công chức nhànước trong quá trình thực thi công vụ để phục vụ lợi ích nhànước và xã hội không phải khi nào cũng làm đúng, chính xác và có lợi cho nhà nước, cho các tổ chức khác và cho nhân dân. Một số công chức nhà nước có thể có những hành vi trái pháp luật khi thi hành công vụ gây thiệt hại lớn về vật chất và tinh thần cho các tổ chức và cá nhân khác.

Có thể nói, hiện tượng làm trái pháp luật của công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại cho các tổ chức và cá nhân thì ở đâu cũng có và thời nào cũng có, vấn đề là nhiều hay ít và nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà thôi. Còn ở Việt Nam thì hiện tượng này còn tương đối phổ biến và những thiệt hại mà các tổ chức, cá nhân phải gánh chịu là rất lớn. Sở dĩ hiện tượng này còn xảy ra nhiều ở Việt Nam là vì rất nhiều những nguyên nhân khác nhau như do trình độ của công chức chưa đủ năng lực để thực hiện đúng các hoạt động công vụ của mình, do các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ chưa tốt và cũng không ít nguyên nhân từ sự tác trách của đội ngũ công chức không tìm hiểu sự việc một cách thấu đáo nên đã đưa ra những quyết định sai trái. Trong một số trường hợp không loại trừ có những công chức cố ý thực hiện hành vi sai trái vì mục đích vụ lợi, trả thù khi thi hành công vụ gây nhiều thiệt hại về vật chất, về tinh thần và những bức xúc rất lớn cho các tổ chức và cá nhân, nhất là các doanh nghiệp.

Các hoạt động nhà nước thường liên quan đến ba lĩnh vực là lập pháp, hành pháp và tư pháp, vì thế sự sai sót của công chức nhà nước cũng xảy ra trong cả ba lĩnh vực nói trên.

Trong hoạt động lập pháp, cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền có thể có những sai phạm trong việc xác định và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định, chính sách nhà nước liên quan đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trong phạm vi cả nước cũng như phạm vi địa phương gây lãng phí tiền của, thời gian, công sức của nhà nước, gây thiệt hại rất lớn tới lợi ích của các tổ chức, các tầng lớp dân cư trong xã hội, thậm chí có những quy định, chính sách pháp luật có thể kìm hãm, làm chậm lại sự phát triển của cả xã hội trong những thời gian khá dài.

Trong hoạt động hành pháp, một số cơ quan, công chức nhà nước trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước có thể có những sai phạm gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho các tổ chức và cá nhân.

(more…)

LUẬT CẠNH TRANH: 4 NĂM MỚI XỬ MỘT VỤ VI PHẠM

VIETNAMNET - Theo Luật Cạnh tranh, một doanh nghiệp chiếm thị phần từ 30% trở lên được coi là vị trí thống lĩnh trên thị trường và vi phạm Luật Cạnh tranh. Nếu chiếu theo đó thì nhiều tập đoàn kinh tế hiện nay có đang phạm luật không? Làm sao đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp?

Đó là những câu hỏi của cộng đồng doanh nghiệp đặt ra tại hội thảo “Thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh”, do Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) vừa tổ chức, tại Hà Nội.

Các tập đoàn đang… phạm luật?

Ở bất cứ nền kinh tế nào, một doanh nghiệp chiếm trên 30% thị phần trở lên đồng nghĩa với việc có khả năng bóp méo sự phát triển lành mạnh của thị trường, do có thể áp đặt các điều kiện thương mại hay gây cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ cũng như các doanh nghiệp khác và gây thiệt hại cho khách hàng. Đây là điều vi phạm pháp luật về cạnh tranh.

Như vậy, chiểu theo Luật Cạnh tranh thì hầu hết những tập đoàn kinh tế hiện nay như Điện lực Việt Nam EVN, Petrolimex, Than -Khoáng sản… đều đang phạm luật. Bởi thực tế, thị phần mà các tập đoàn này nắm đã bỏ xa giới hạn 30%. Thậm chí có những tập đoàn gần như “một mình một chợ” mà EVN là điển hình.

“Vậy phải xử lý các trường hợp này thế nào?”, ông Đinh Quang Huy, Chủ tịch Hiệp hội gốm sứ đặt câu hỏi. Đây cũng là thắc mắc chung của nhiều doanh nghiệp khác.

Trả lời câu hỏi này, ông Vũ Bá Phú, Cục phó Cục Quản lý Cạnh tranh, cho biết, đúng là nhiều tập đoàn kinh tế đang nắm thị phần chi phối nhưng có phạm luật hay không còn phụ thuộc vào việc có xác định được “hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh” hay không. Ngoài ra, thông thường, câu hỏi này cũng chỉ được đặt ra khi có ai đó khiếu kiện các tập đoàn này lên Cục Quản lý Cạnh tranh.

Nhưng tại Việt Nam, đây là vấn đề quá mới mẻ nên theo ông Phú “nhiều doanh nghiệp thậm chí còn không biết ai được quyền khiếu kiện, quy trình kiện ra sao… mà  một trong những điều kiện để xử lý các vụ việc vi phạm Luật Cạnh tranh là phải có đơn khởi kiện của các doanh nghiệp hoặc cá nhân”.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: