SUY NGẪM 32

04.02.05.08.07invest copy Theo Kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp:

Năm 2008, 77,42% cơ quan nhà nước và tổ chức có bộ phận pháp chế; 46,3% doanh nghiệp được hỏi có bộ phận phụ trách về pháp lý, trong đó chủ yếu là các tập đoàn kinh tế lớn; chỉ khoảng 47,27% doanh nghiệp từng thuê luật sư. Nhu cầu của doanh nghiệp khi thuê luật sư chủ yếu là tư vấn về các vấn đề pháp luật (34,95%); giải quyết tranh chấp (25,86%), thương lượng, đàm phán, ký kết hợp đồng (13,13%).

Dự kiến đến năm 2010, nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư của các doanh nghiệp tăng lên 67,5% (tăng 1,43 lần so với năm 2008), năm 2015, tỷ lệ này là 85% và năm 2020 là 94%.

Giữa hiện tại và dự báo đem lại cho chúng ta niềm hy vọng tốt hơn về vai trò của luật sư đối với tổ chức? Nó sẽ là “tấm khiên” hữu hiện để hạn chế rủi rõ, khắc phục thiệt hại hay nó cũng chỉ là một “bình hoa” thời thượng đặt đó để làm đẹp cho “khổ chủ” của mình?!

CIVILLAWINFOR

PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT SINH

TS. LÊ VŨ NAM – Chủ nhiệm Ngành Luật Tài chính – Ngân hàng – Chứng khoán, Khoa Kinh tế ĐHQG TP. HCM.

LÊ HÀ DIỄM CHÂU – Học viên Cao học Đại học Luật TP. HCM.

Dẫn nhập

Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự chủ trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Nội hàm của quyền này bao gồm: quyền được lựa chọn lĩnh vực ngành nghề, quy mô và phạm vi kinh doanh; quyền lựa chọn sản phẩm hàng hoá dịch vụ để sản xuất, cung ứng; quyền lựa chọn phương thức huy động vốn, lựa chọn đối tác trong kinh doanh…Tuy nhiên, đi kèm với quyền tự chủ rộng rãi trong kinh doanh là nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ và độc lập thực hiện các nghĩa vụ tài sản phát sinh như nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ thanh toán nợ. Quyền tự chủ trong kinh doanh một mặt tạo ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển, mặt khác cũng là một thách thức lớn. Sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường làm cho không ít doanh nghiệp phải điêu đứng, thua lỗ triền miên dẫn đến nguy cơ đối diện với phá sản. Như vậy, phá sản là một hệ quả tất yếu của một doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả kéo dài, là quá trình sàng lọc tự nhiên mang tính quy luật trong nền kinh tế thị trường. Qua đó, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, làm ăn không hiệu quả góp phần làm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, cơ cấu lại nền kinh tế. Thời gian gần đây, phá sản trở nên là một đề tài “nóng” thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK), đặc biệt, sau khi Ngân hàng Maritime Bank (MB) Chi nhánh Cộng hoà đã gửi công văn vào ngày 29/07/2008 yêu cầu CTCP Bông Bạch Tuyết (BBT) hiện đang có cổ phiếu đang niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) trong vòng 7 ngày làm việc, kể từ ngày ra công văn phải có kế hoạch thu xếp trả nợ cho Ngân hàng. Quá thời hạn nêu trên, Ngân hàng này sẽ xem xét khởi kiện BBT ra tòa để phát mãi tài sản của BBT.

Khi nào thì một doanh nghiệp bị xem là đã lâm vào tình trạng phá sản?

Về mặt ngữ nghĩa, từ “phá sản” bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng La – tinh để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp mà biểu hiện trực tiếp là không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tại Việt Nam, từ lâu người dân đã dùng những từ như “vỡ nợ” hay “khánh tận” để chỉ tình trạng phá sản của một cá nhân, hộ gia đình kinh doanh hoặc doanh nghiệp. Pháp Luật về phá sản của các nước khác nhau quy định những tiêu chí khác nhau về điều kiện cũng như thời điểm xác định tình trạng phá sản của một doanh nghiệp. Việc xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa quan trọng. Tùy thuộc vào quy định về điều kiện và thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nơ[1].

(more…)

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆT NAM: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÂN HÀNG VÀ CHỨNG KHOÁN

TS. LÊ VŨ NAM – Chủ nhiệm Ngành Luật Tài chính-Ngân hàng-Chứng khoán Khoa Kinh tế, ĐHQG TP. HCM

Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ đâu?

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn biến hết sức phức tạp với sức công phá nặng nề, là nổi ám ảnh đối với nền kinh tế của nhiều nước. Việc ngăn chặn sự tàn phá khủng khiếp của cơn bão Tsunami tài chính này không còn nằm trong phạm vi khả năng của một quốc gia mà trở thành trách nhiệm và sự nỗ lực chung của tất cả các nước, trước hết là các nước có nền kinh tế lớn. Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia, tùy theo đặc thù của nền kinh tế như mức độ hội nhập và trình độ phát triển mà có thể có những giải pháp riêng. Trong đó, các giải pháp liên quan đến hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán (TTCK) – vốn là tâm điểm của cuộc khủng hoảng là rất quan trọng. Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu, khảo sát toàn diện những nguyên nhân, diễn biến và mức độ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đến hệ thống ngân hàng và TTCK Việt Nam sẽ giúp hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa ra các giải pháp phát huy tối đa tác dụng.

Các yếu tố kinh tế

Nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là đề tài đang được tranh cãi và mổ xẻ. Một trong những tác nhân chính gây nên tình trạng khủng hoảng hiện nay là các ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tài chính Mỹ thông qua hoạt động cho vay dưới tiêu chuẩn và nghiệp vụ chứng khoán hoá mà nhiều chuyên gia gọi là “Cỗ máy đầu tư cấu trúc” (Structured Investment Vehicle – SIV)[1]. Đây có thể được xem là mô hình chứng khoán hoá bất động sản kiểu Mỹ được hình thành từ những năm 1980. Phương thức kinh doanh của các SIV là huy động vốn ngắn hạn thông qua việc phát hành thương phiếu (commercial paper) với lãi suất thấp để đầu tư vào các loại chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản (asset-backed securities), đa số trường hợp là bất động sản với lãi suất cao. Mô hình và diễn biến của hoạt động chứng khoán hoá bất động sản có thể khái quát như sau:

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH

TS. LÊ VŨ NAM – Chủ nhiệm Ngành Luật Tài chính – Ngân hàng – Chứng khoán Khoa Kinh tế, ĐHQG TP.HCM

Trong cấu trúc hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng Việt Nam, Công ty tài chính (CTTC) chiếm một vị trí khá quan trọng. Từ khi Chính phủ chủ trương áp dụng các biện pháp thắt chặt tiền tệ thì việc thành lập mới các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) gặp rất nhiều khó khăn.

Trước tiên là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nâng điều kiện cấp phép và sau đó quyết định tạm ngưng việc cấp phép thành lập NHTMCP thì phong trào thành lập CTTC lại nở rộ như “nấm sau cơn mưa”. Đối với các CTTC đã thành lập trước đây, thì lại đua nhau tăng vốn điều lệ. Ví dụ như Công ty Tài chính Dầu khí (thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Petrovietnam) đã “nâng cấp” lên thành Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí (PVFC) với vốn điều lệ lên tới 5.000 tỷ đồng để phù hợp với yêu cầu mới và đang hướng đến mục tiêu trở thành tập đoàn tài chính vào năm 2010. Trong khi đó, CTTC Vinashin cũng thực hiện tăng vốn điều lệ từ 140 tỷ đồng lên trên 1.000 tỷ đồng…

Việc thành lập mới và tăng vốn điều lệ của các CTTC chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm, quản lý vốn và điều hòa nguồn vốn của đa số các tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Để đảm bảo thực hiện đúng tiến độ các dự án đang phát triển đến năm 2015, Petrovietnam cần khoảng 100 tỷ USD nên rất cần có một “cỗ máy” huy động, điều phối nguồn vốn này. Riêng Vinashin nhờ đã có CTTC mà Tập đoàn này được Bộ Tài chính ưu tiên cho vay lại 750 triệu USD từ việc phát hành trái phiếu quốc tế vào cuối năm 2005. CTTC EVN của Tập đoàn Điện lực Việt Nam ra đời và sẽ hỗ trợ đáng kể cho yêu cầu phát triển đến năm 2010 của EVN với nhu cầu vốn lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng. Các tập đoàn, tổng công ty trong nhiều lĩnh vực khác như Dệt May, Cao su, Bưu điện, Sông Đà, Xi măng….đều đã thành lập CTTC. Bên cạnh đó, nhiều CTTC có vốn nước ngoài cũng đã được thành lập như CTTC Prudential, Societe Generale (Pháp), PPF (Czech), Toyota VN[1]…

Mặc dù, CTTC ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước nhưng đối với nhiều người, đây là một định chế tài chính còn khá mới mẻ nên việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý về tổ chức và hoạt động của chủ thể này thời gian gần đây đã thu hút sự quan tâm không những của giới nghiên cứu mà cả những nhà hoạch định chính sách.

(more…)

QUYẾT ĐỊNH SỐ 07/2009/QĐ-TTg NGÀY 15 THÁNG 1 NĂM 2009 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC THÀNH LẬP, ĐÌNH CHỈ HOẠT ĐỘNG, SÁP NHẬP, CHIA, TÁCH, GIẢI THỂ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Văn bản này quy định điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học.

2. Văn bản này áp dụng đối với các đại học, trường đại học, học viện (sau đây gọi chung là trường đại học), các tổ chức, cá nhân tham gia thành lập trường đại học.

3. Thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học có sự đầu tư của tổ chức, cá nhân nước ngoài được áp dụng theo quy định tại văn bản này.

4. Việc thành lập các trường đại học trên cơ sở nâng cấp các trường cao đẳng đang hoạt động cũng được thực hiện theo các quy định tại văn bản này.

Điều 2. Điều kiện thành lập trường đại học

Việc thành lập trường đại học phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Phù hợp với Quy hoạch mạng lưới các trường đại học đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2007.

2. Có Dự án thành lập trường đại học, trong đó xác định rõ mục tiêu, nội dung, chương trình, ngành nghề, quy mô đào tạo, cơ cấu tổ chức, quản lý, quy hoạch đất đai, nguồn vốn xây dựng trường, kế hoạch và lộ trình đầu tư phát triển, bảo đảm phù hợp với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và địa phương.

3. Việc thành lập các trường đại học phải được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi đặt trụ sở chính của trường cho ý kiến chấp thuận bằng văn bản và cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án đầu tư thành lập trường đại học tư thục.

4. Có đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, phù hợp với ngành nghề đào tạo, đạt tiêu chuẩn về phẩm chất và trình độ đào tạo, bảo đảm thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục; đáp ứng yêu cầu theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo: không quá 10 sinh viên/1 giảng viên đối với các ngành đào tạo năng khiếu; 15 sinh viên/1 giảng viên đối với các ngành đào tạo khoa học kỹ thuật và công nghệ; 25 sinh viên/1 giảng viên đối với các ngành đào tạo khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế – quản trị kinh doanh.

5. Có tổng diện tích đất xây dựng trường không ít hơn 5 ha; thực hiện mức bình quân tối thiểu diện tích 25 m2/1 sinh viên tính tại thời điểm trường có quy mô đào tạo cao nhất trong kế hoạch đào tạo giai đoạn 10 năm đầu sau khi thành lập; có cơ sở vật chất, thiết bị bảo đảm đáp ứng yêu cầu hoạt động của nhà trường.

(more…)

QUYẾT ĐỊNH SỐ 14/QĐ-TTg NGÀY 21 THÁNG 1 NĂM 2009 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH QUI CHẾ BẢO LÃNH CHO DOANH NGHIỆP VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng ngày 12 tháng 02 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 5 năm 2004;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế Bảo lãnh cho doanh nghiệp có nhu cầu bảo lãnh để vay vốn tại các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Điều 2. Giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tại các ngân hàng thương mại để thực hiện dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh theo Quy chế ban hành kèm theo Quyết định này.

Điều 3. Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của các địa phương hoạt động theo các Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành Quy chế thành lập, hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quyết định số 115/2004/QĐ-TTg ngày 25 tháng 6 năm 2004 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2001 và được sửa đổi, bổ sung một số điều sau:

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 15 Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2001 bằng khoản 4, khoản 5 Điều 4 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định này.

2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 16 Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2001 bằng Điều 6 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định này.

(more…)

QUYẾT ĐỊNH SỐ 19/2009/QĐ-UBND NGÀY 25 THÁNG 02 NĂM 2009 CỦA UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUI ĐỊNH VỀ DIỆN TÍCH ĐẤT TỐI THIỂU SAU KHI TÁCH THỬA

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 ngày 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
Căn cứ Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Căn cứ Thông tư số 06/2007/TT-BTMNT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Căn cứ Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về quy hoạch xây dựng;
Xét đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số 7590/TNMT-ĐKKTĐ ngày 18 tháng 9 năm 2008 và số 266/TNMT-ĐKKTĐ ngày 12 tháng 01 năm 2009,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Quyết định này quy định diện tích đất tối thiểu sau khi tách thửa đối với đất ở và đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Các thửa đất hình thành sau khi tách thửa có diện tích không được nhỏ hơn diện tích tối thiểu được quy định tại Quyết định này và không trái với Quy chuẩn xây dựng.

2. Quyết định này không áp dụng cho các trường hợp sau:

a) Chuyển quyền sử dụng đất trọn thửa;

b) Bán nhà theo Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ;

c) Các trường hợp tách thửa do Nhà nước thu hồi một phần thửa đất;

d) Đất hiến tặng cho Nhà nước, đất tặng cho hộ gia đình, cá nhân để xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa;

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 521 other followers

%d bloggers like this: