TRAO ĐỔI Ý KIẾN VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

NHÀ BÁO – LG. NGUYỄN CHẤN

TIN TRÊN CÁC BÁO:

Từ cuối năm 2004, dự án khu du lịch sinh thái cao cấp An Khánh, huyện Hoài Đức (Hà Tây cũ) được khởi công, do Cty TNHH Dịch vụ đầu tư và du lịch Nghi Tàm, nay là Cty Cổ phần Tập đoàn đầu tư xây dựng du lịch Bảo Sơn (Cty Bảo Sơn) làm chủ đầu tư. Nằm trong dự án này, có tiểu dự án biệt thự kinh doanh, được UBND tỉnh Hà Tây phê duyệt tháng 5/2007. Tuy nhiên, sau khi được phê duyệt phần dự án biệt thự kinh doanh, Cty Bảo Sơn chỉ thực hiện giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng; phần xây dựng biệt thự (xây thô) thì giao lại cho Cty Cổ phần Thương mại tổng hợp quốc tế D&T Hà Nội (Cty D&T) thực hiện. Để được thực hiện dự án này, theo hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa hai bên, Cty D&T phải trả cho Cty Bảo Sơn hơn 201 tỷ đồng.

Ngày 10/12/2007, Cty D&T vay 66,5 tỷ đồng của Ngân hàng Dầu khí toàn cầu (GP.Bank) để thực hiện dự án bằng hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là quyền sử dụng đất và 47 căn biệt thự là tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, ngay sau khi vay được vốn ngân hàng, Cty D&T đã bán, chuyển nhượng những căn biệt thự đó cho hàng chục cá nhân. Và đương nhiên, khi đặt bút ký hợp đồng mua những căn biệt thự này, những người khách hàng không hề hay biết là họ đã mua phải nhà đang là tài sản thế chấp của GP.Bank. Theo Luật sư Trần Đình Triển, việc người dân không biết gì về thông tin những lô đất họ mua đã bị đem thế chấp tại ngân hàng là do ngay trong bản cam kết giữa 3 bên: Ngân hàng Dầu khí toàn cầu, Chủ đầu tư (Cty Bảo Sơn) và Cty D&T đã có một thỏa thuận riêng rằng việc thế chấp này không được phép tiết lộ.

Mới đây, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã khởi tố bị can, bắt tạm giam bà Trần Thị Mỹ Hạnh, Giám đốc Cty D&T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân.

Theo chúng tôi:

1. Giám đốc Cty D&T tự ý bán các căn biệt thự khi chúng đã là tài sản thế chấp để vay vốn ngân hàng là việc làm vi phạm nghĩa vụ của bên thế chấp quy định tại khoản 4 Điều 348 Bộ Luật Dân sự.

Về phía những người mua biệt thự…trên giấy, họ là nạn nhân của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có thể sẽ phải trả giá đắt cho việc làm thiếu cân nhắc của mình trước khi quyết định một vấn đề hệ trọng.

(more…)

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC MẮC, BẤT CẬP VỀ THI HÀNH ÁN GIAO CON

THS. CÙ HOÀNG HANH – Thi hành án dân sự, huyện Phú Vang, Huế

Thi hành án giao con là loại việc hết sức phức tạp, bởi đối tượng thi hành án ở đây không phải là tiền hay tài sản mà là con người. Do đó nó là loại việc rất đặc thù và cũng rất nhạy cảm. Mặc dù vậy nhưng pháp luật về thi hành án dân sự hiện hành lại chưa có những quy định cụ thể nên trong quá trình tổ chức thi hành án, các cơ quan thi hành án đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc cả về lý luận lẫn trong thực tiễn. Dưới đây tác giả xin nêu ra hai trường hợp như sau:

* Trường hợp thứ nhất: Người phải thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án

Theo Quyết định của Bản án số 05/2007/HNGĐ-ST ngày 12/5/2007 thì Tòa án nhân dân huyện PV xử cho bà B được ly hôn ông A. Ông A phải giao cháu C (sinh năm 2002) cho bà B chăm sóc nuôi dưỡng. Ông A không phải đóng phí tổn nuôi con..

Sau khi án có hiệu lực, do phải đi làm ăn xa không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con (cháu C) nên ông A liên lạc với bà B để giao con theo quyết định của Bản án nhưng bà B không chịu nhận vì bà B cũng đang chuẩn đi làm ăn xa.

Vì vậy, ngày 15/7/2007 ông A đã làm Đơn yêu cầu thi hành án về việc giao cháu C cho bà B chăm sóc, nuôi dưỡng. Căn cứ vào Điều 23 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Thủ trưởng cơ quan THADS huyện PV đã ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu và giao cho Chấp hành viên tổ chức thi hành. Chấp hành viên đã nhiều lần gửi giấy báo nhưng bà B vẫn không đến cơ quan thi hành án để giao nhận con theo quyết định của bản án. Chấp hành viên cũng đã tiến hành xác minh ở địa phương nhưng vẫn không biết bà B hiện nay làm ăn, sinh sống ở đâu.

Theo quy định tại mục 10 của Công văn 404/TP-THA ngày 24/2/2005 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn một số vấn đề nghiệp vụ thi hành án thì cũng chỉ mới có hướng dẫn xử lý khoản tiền, tài sản người phải thi hành án tự nguyện nộp nhưng người được thi hành án không nhận, còn trường hợp người phải thi hành án tự nguyện giao con mà người được thi hành án không nhận thì chưa có hướng dẫn nên xử lý như thế nào? Nếu người phải thi hành án tự nguyện giao con cho Cơ quan thi hành án để Cơ quan thi hành án giao cho bà B thì Cơ quan thi hành án có nhận không? Đây đang là một dấu chấm hỏi về tính pháp lý. Trong trường hợp trên, ông A tự nguyện giao con nhưng bà B không nhận hoặc không liên lạc được với bà B thì Cơ quan thi hành án cũng đành bó tay. Trả đơn yêu cầu thi hành án theo Điều 29 của Pháp lệnh THADS năm 2004 cũng không được vì trong trường hợp này người được thi hành án có điều kiện để thi hành án. Còn đình chỉ thi hành án theo Điều 28 của Pháp lệnh THADS năm 2004 thì phải chờ hết thời hiệu yêu cầu thi hành án (03 năm). Tuy nhiên, đình chỉ thi hành án mới chỉ giải quyết được việc thi hành hành án cho cơ quan thi hành án chứ quyền lợi của ông A chưa được giải quyết. vì ông A vẫn phải nuôi con trong khi đó quyền và nghĩa vụ nuôi con được Tòa án giao cho bà B. Trong trường hợp này Cơ quan thi hành án cũng không thể vận động ông A thay đổi quyền nuôi con vì bản thân ông A không có điều kiện nuôi con hay nói đúng hơn là ông A chuẩn bị đi làm ăn xa nên không muốn nuôi con.

(more…)

ĐĂNG KÝ THỀM LỤC ĐỊA MỞ RỘNG TRƯỚC 13/5/2009

DƯƠNG DANH HUY – Qũi nghiên cứu biển ĐÔng

Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 25/07/1994 cho nên trên nguyên tắc Việt Nam phải đăng ký yêu sách về thềm lục địa mở rộng với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa trước ngày 13/05/2009. Nếu lỡ thời hạn này, Việt Nam sẽ không có quyền khai thác thềm lục địa mở rộng của mình.

Theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982 [1] (UNCLOS) mỗi nước ven biển được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa là 200 hải lý [2] tính từ đường cơ sở [3] của nước đó. Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ven biển có đặc quyền khai thác kinh tế đối với biển và đáy biển [4].

UNCLOS cũng quy định là nếu thềm lục địa [5] của nước ven biển kéo dài ra xa hơn 200 hải lý thì nước đó có đặc quyền khai thác tài nguyên dưới đáy biển trong một vùng bên ngoài 200 hải lý [6] gọi là thềm lục địa mở rộng (Extended Continental Shelf – ECS).

image

Hình SEQ Hình * ARABIC 1: Các vùng biển được quy định trong UNCLOS. Baselines là đường cơ sở. Territorial Sea là lãnh hải. Contiguous Zone là vùng tiếp giáp. Exclusive Economic Zone là vùng đặc quyền kinh tế. High Seas là biển cả hay biển quốc tế [7]. (Click vào bản đồ để xem hình lớn hơn)

(more…)

TRANH CHẤP THỪA KẾ: DI CHÚC VIẾT TAY VẪN HỢP PHÁP

THỤY CHÂU

Đó là bản di chúc tuy không được công chứng, chứng thực nhưng cả hai bà vợ đều thừa nhận do chồng viết và ký tên. Ông N. (tỉnh Thừa Thiên-Huế) có ba vợ. Ông với người vợ đầu chung sống từ năm 1954, không có con chung nhưng có hai con nuôi. Do cuộc hôn nhân đầu không hạnh phúc nên ông N. sống chung với “vợ” thứ hai nhưng không đăng ký kết hôn. Họ có với nhau một con trai, đặt tên là H. Năm 1985, ông N. ra tòa ly hôn với vợ đầu rồi rời Huế vào Vũng Tàu sinh sống. Tại đây, ông lại chung sống như vợ chồng với bà L. từ tháng 8-1989 và ba năm sau đó thì hai người mới chính thức đăng ký kết hôn.

Năm 2004, ông N. qua đời. Trong khối di sản ông để lại có căn nhà tại phường Rạch Dừa, TP Vũng Tàu. Đây là nhà đất do UBND đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo cấp cho ông N. vào năm 1990 dưới dạng nhà tình nghĩa. Trước khi mất, ông đã lập di chúc cho anh H. được hưởng căn nhà này nhưng phải chia lại cho bà L. 200 triệu đồng.

Tranh chấp thừa kế

Di chúc lập vậy nhưng vào năm 2007, con nuôi người vợ đầu đã kiện bà L. ra TAND TP Vũng Tàu để đòi chia căn nhà tình nghĩa nêu trên. Cả nguyên đơn lẫn bị đơn đều cho rằng di chúc không hợp lệ và muốn được hưởng thừa kế theo pháp luật.

Nguyên đơn cho rằng di chúc này chỉ mới là bản dự thảo, không hợp lệ vì không có ngày tháng và chữ ký. Bà L. thì bảo chồng mình viết di chúc do bị “vợ” hai (mẹ anh H.) ép buộc. Ông viết di chúc trong tình trạng không minh mẫn, bị hạn chế về thể chất. Ngoài ra, bà L. cũng yêu cầu tòa án giải quyết cho bà số tiền gần 280 triệu đồng, bao gồm chi phí nuôi con (đã mất năm bốn tuổi), chi phí nuôi chồng, sửa nhà, làm đám ma, xây mộ cho chồng…

Xét xử vụ án năm 2007, cả cấp sơ thẩm lẫn phúc thẩm đều tuyên án theo hướng công nhận tính hợp pháp của di chúc. Anh H. được hưởng căn nhà tình nghĩa nhưng phải đưa lại cho bà L. 200 triệu đồng, còn bà L. chỉ được lưu cư tại căn nhà trong thời hạn sáu tháng tính từ ngày nhận đủ 200 triệu đồng. Theo quan điểm của TAND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, bản di chúc tuy không được công chứng, chứng thực nhưng cả nguyên và bị đơn đều thừa nhận do ông N. viết, có ghi rõ ngày tháng và ký tên. Sau đó, ông N. còn gửi bản di chúc cho luật sư. Ba tháng sau, ông còn làm đơn xin ly hôn với bà L. Các chi tiết này cho thấy ông rất minh mẫn và sáng suốt khi lập di chúc. Bà L. bảo ông N. bị ép lập di chúc nhưng không có chứng cứ chứng minh nên di chúc này hợp pháp.

(more…)

NGHỊ ĐỊNH 09 CÓ KHẢ THI?

NGUYỄN XUÂN ĐANG – Thạc sĩ luật kinh tế – quốc tế, Đại học Toulouse1 (Pháp)

Sau những hệ lụy từ việc đầu tư tràn lan của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, ngày 5-2-2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2009/NĐ-CP về Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác (Nghị định 09). Tuy nhiên, sau khi văn bản này được công bố, đã có không ít những thắc mắc, những vấn đề phát sinh về “sức sống” và đối tượng áp dụng của văn bản này.

Văn bản sẽ “sống” như thế nào khi căn cứ ban hành sắp hết hiệu lực?

Điều đầu tiên gây ngạc nhiên là căn cứ ban hành Nghị định 09 là Luật Doanh nghiệp Nhà nước số 14/2003/QH11 chứ không phải là Luật Doanh nghiệp 2005. Trên nguyên tắc, Luật Doanh nghiệp Nhà nước đã hết hiệu lực vào ngày 1-7-2006.

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 đã “nối dài” hiệu lực của Luật Doanh nghiệp Nhà nước bằng quy định: “Trong thời hạn chuyển đổi (bốn năm kể từ ngày 1-7-2006), những quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 được tiếp tục áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước nếu Luật Doanh nghiệp 2005 không có quy định” (điều 166).

Như vậy, đến thời điểm này, Luật Doanh nghiệp Nhà nước chỉ tồn tại với ý nghĩa bổ sung các điều khoản của Luật Doanh nghiệp 2005. Và đến 1-7-2010, Luật Doanh nghiệp Nhà nước sẽ hết hiệu lực toàn bộ.

Vấn đề đặt ra ở đây là hiệu lực của Nghị định 09 như thế nào: (i) tại thời điểm hiện tại khi căn cứ ban hành của nó đã hết hiệu lực một phần và (ii) sau thời điểm 1-7-2010 khi căn cứ ban hành của nó hết hiệu lực toàn bộ? Phải chăng văn bản này được ban hành chỉ cho một “thời kỳ quá độ”? Nếu như thế thì tính liên tục, ổn định của một cơ chế quản lý phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác có được đảm bảo không?

Đối tượng áp dụng của văn bản

Nếu chỉ căn cứ vào các quy định của Nghị định 09 thì rất khó để xác định đối tượng áp dụng của văn bản này. Đây cũng chính là vấn đề đang gây thắc mắc cho các doanh nghiệp nhà nước, nhất là doanh nghiệp đã được cổ phần hóa mà phần vốn sở hữu của Nhà nước vẫn trên 50%.

(more…)

PHÁN QUYẾT LẠ THƯỜNG VỀ VẬN ĐƠN

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC

Thực tiễn thương mại và hàng hải quốc tế cũng như quy định của Bộ Luật Hàng hải VN đã có quy định rõ ràng về vận đơn (trong đó có 2 loại: vận đơn đích danh và vận đơn theo lệnh). Tuy nhiên, vừa qua có một vụ việc mà tòa án lại ra phán quyết trái ngược với luật pháp VN và thông lệ quốc tế.

Cuối năm 2006, Cty S ở phía Nam bán một container gồm 2.970 túi xách và balô cho Cty E Sydney – Autralia theo giá FOB TP HCM: 87.035 USD, mã số DN của E ở Autralia là ABN 29112062554-NSW2020 (thực tế đây là một Cty ma tại Autralia). Hợp đồng mua bán chỉ có 1 trang và hết sức sơ sài, đặc biệt không đề cập khi nào quyền sở hữu lô hàng chuyển từ người bán sang người mua.

Sau khi ký hợp đồng mua bán, E uỷ thác Cty giao nhận vận tải T ở phía Bắc thuê tàu chở hàng từ TP HCM đi Sydney. T ký hợp đồng lưu cước với Hãng tàu MOL. Ngày 20/12/2006 hàng được bốc lên tàu tại TP HCM, Hãng tàu MOL cấp vận đơn chủ (Master B/L) cho T, trên cơ sở đó T cấp vận đơn thứ cấp (House B/L) cho S với tư cách là người giao hàng (vận đơn của T theo mẫu FIATA). Vận đơn ghi rõ E (cùng với địa chỉ của họ) là người nhận hàng đích danh ở cảng đích.

Hàng đến Sydney 6/1/2007, Hãng tàu MOL giao hàng cho đại lý của T ngày 14/1/2007. Từ đó trở đi E không đến lấy hàng. Phí lưu kho, phạt lưu container lên đến 19.000 đôla Australia, hàng hoá có nguy cơ hư hỏng hoàn toàn.

Theo tập quán và luật pháp Australia (tương tự như ở VN) ngày 1/3/2007 đại lý của Cty T đã đưa hàng vào kho ngoại quan của Hải quan Sydney để xử lý. Mãi ngày 14/4/2007, Cty S mới ra lệnh cho Cty T đưa hàng về VN nhưng T không thể thực hiện được vì hàng đã đưa vào kho ngoại quan, hơn nữa đây là vận đơn đích danh nên Cty S không thể ra lệnh chở hàng về. Tuy vậy, ngày 14/5/2007, Cty E đã đến kho ngoại quan nhận hàng, đại lý của Cty T không thu hồi vận đơn gốc. Từ đó trở đi, Cty S luôn khẳng định rằng tuy hàng bán theo giá FOB nhưng với vận đơn gốc trong tay, Cty S vẫn là chủ sở hữu lô hàng. Vì vậy, do không đòi được tiền hàng từ E, Cty S đã khởi kiện Cty T tại một Toà án ở phía Bắc đòi bồi thường 1,7 tỷ VND bao gồm trị giá hàng FOB của lô hàng 87.035 USD và khoảng 350.000.000 VND các loại tiền phạt lưu kho bãi.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: