KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. HOÀNG VĂN HOAN – Học viện Chính trị – Hành chính khu vực 1

Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn. Ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập?

Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh rủi ro, chia sẻ tổn thất với khách hàng, sản phẩm bảo hiểm là những dịch vụ mang tính đặc thù, riêng có, trừu tượng nhưng lại rất cụ thể, và thực tế hơn tất cả những sản phẩm khác trên thị trường một khi những điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm được thực thi kịp thời, hiệu quả.

Đối với khách hàng, đóng phí bảo hiểm là để mua lấy sự yên tâm trong công việc, chia sẻ lo ngại về những mầm mống rủi ro có thể xảy ra trong cuộc sống. Đối với cộng đồng, bảo hiểm góp phần to lớn trong việc điều hòa cán cân thu nhập, điều tiết lợi ích và ổn định xã hội….

Thị trường bảo hiểm ở nước ta trong những năm gần đây đã rất sôi động, đa dạng. Số lượng công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng tăng; các loại hình sở hữu đa dạng ở cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, thuộc cả ba lĩnh vực bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự; tính cạnh tranh của các công ty đã và đang từng bước thoả mãn tốt hơn nhu cầu của các khách hàng.

Trên thị trường bảo hiểm đã xuất hiện nhiều sản phẩm mới và khá độc đáo trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố tiết kiệm – đầu tư bảo vệ, được công luận đánh giá cao như sản phẩm bảo hiểm tai nạn cá nhân cho người sử dụng thẻ ATM, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm của người chăn nuôi và sản xuất thức ăn gia cầm, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo… Tốc độ tăng doanh thu phí của bảo hiểm Việt Nam ở mức khá cao so với thế giới và khu vực. Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO… Vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng lên và theo đó khả năng giữ lại phí bảo hiểm trong nước cũng được nâng lên tương ứng. Qui định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm. Tổng mức phí giữ lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài. Theo đánh giá của HHBHVN, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm của thị trường mới đạt mức trên 2% GDP trong khi các nước phát triển trong khu vực thường đạt mức 8-10% GDP (bình quân thế giới khoảng 8%) do đó, tiềm năng phát triển của các DN bảo hiểm vẫn còn rất lớn.

(more…)

LẬP TRƯỜNG CỦA TRUNG QUỐC TRONG TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ LUẬT QUỐC TẾ

ĐÀO VĂN THỤY (1)
Quần đảo Hoàng Sa ở vào khoảng giữa vĩ tuyến 16° – 17° và kinh tuyến 111° – 113° đông, cách Huế khoảng 490 km và Yulin (Du Lâm), hải cảng phía nam của đảo Hải Nam khoảng 350 km. Toàn thể quần đảo Hoàng Sa có diện tích khoảng 15.000 km², gồm trên 30 đảo nhỏ và những hòn đá nhô khỏi mặt nước, chia ra làm hai nhóm chính: Nhóm Đông (Amphitrite) mà đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody Island), dài không quá 4 km, rộng khoảng 2 hay 3 km; và Nhóm Tây (Crescent) mà đảo lớn nhất mang tên Hoàng Sa (Pattle Island), diện tích khoảng 0,3 km². Đảo Phú Lâm cách đảo Hoàng Sa khoảng 87 km. 
Quần đảo Trường Sa ở vào khoảng vĩ tuyến 12° bắc và kinh tuyến 111° đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 400 km, cách Philippin khoảng 300 km và cách Trung Quốc khoảng 1.500 km.
Toàn thể quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 160.000 km², gồm trên 100 đảo và những hòn đá nhô lên mặt biển, trong đó có khoảng 26 đảo hoặc đá chính.

Người dân Việt Nam đã phát hiện ra các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đời. Những tài liệu lịch sử để lại đã chứng minh quan hệ chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này ít ra là từ thời Chúa Nguyễn, vào thế kỷ thứ XVII.

Cho đến ngày bị Pháp đô hộ, các triều đại kế tiếp trị vì nước Việt Nam đã thực sự nắm chủ quyền trên hai quần đảo này mà không có nước nào cạnh tranh và coi các hải đảo này hoàn toàn thuộc lãnh thổ của nước ta.

Mãi đến đầu thế kỷ XX, năm 1909, trước sự đe doạ của chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản, Trung Hoa mới bắt đầu chú ý tới quần đảo Hoàng Sa và sau này, trong những năm 1928, 1932, biểu hiện ý đồ tranh giành chủ quyền với chính quyền bảo hộ Pháp – chỉ biểu hiện ý đồ chứ không có hành động chiếm hữu thực sự.

(more…)

CÓ MỘT “CHỢ THẬN” TẠI VIỆT NAM – HÀNH VI MUA BÁN THẬN SẼ BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

PHẠM THUẬN THIÊN

“Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên nay tôi bán quả thận của mình. Mong những ai đọc được dòng chữ này, có nhu cầu ghép thận, xin liên lạc với tôi qua e-mail này… Tôi cũng muốn các bạn ghép thận ở Việt Nam. Giá quả thận của tôi bán là 70 triệu. Tôi tên X… số điện thoại 0168…”.

Đây chỉ là một trong những tin nhắn chúng tôi tìm được trên một trang web. Dạo một vòng tại những chợ trên mạng, từ mua… com, rao… vn đến cho… com, chúng tôi thống kê đến hơn 20 người rao bán thận.

Rao bán thận mình

Không khó để có được một cuộc hẹn với những người có nhu cầu bán thận, số điện thoại của họ thường có sau những lời rao. Sau khi dạo một vòng, tôi quyết định gọi cho người phụ nữ tên Tâm, chị rao bán thận mình để kiếm tiền chữa bệnh cho chồng (theo như lời rao trên trang web muaban…). Một cuộc hẹn đối diện Bệnh viện (BV) Bình Dân, quận 3, TP HCM.

Y như lời rao, Tâm là một người khá khỏe mạnh, khoảng trên 30 tuổi. Sau vài câu chào hỏi, Tâm vào thẳng vấn đề rằng tôi sẽ trả giá bao nhiêu cho quả thận. Tôi nói cần phải coi tình trạng sức khỏe mới có thể định giá. Tâm ậm ừ rồi lấy từ trong chiếc giỏ đen ra một xấp giấy đã được chuẩn bị sẵn, một bộ hồ sơ sức khỏe được chuẩn bị kỹ càng.

Tâm chờ tôi xem xong toàn bộ giấy tờ mới ra giá quả thận của chị sẽ bán với giá 3.000 USD, nếu đồng ý thì ngay tháng sau có thể ghép, chỉ cần đưa trước cho Tâm 30 triệu đồng, số còn lại sau khi ghép xong có thể thanh toán. Tại Việt Nam (VN) hay Trung Quốc (TQ) là tùy người mua, nhưng nếu ghép tại TQ, tôi sẽ phải chịu hoàn toàn chi phí cho chuyến đi. Còn nếu ghép ở VN, Tâm sẽ tự lo chi phí ăn ở.

Rồi Tâm kể rằng, cực chẳng đã Tâm mới phải rao bán quả thận của mình, chồng Tâm, hiện đang nằm tại BV Bình Dân, hai vợ chồng lặn lội từ miền Tây lên, tiền đã hết nhưng chồng Tâm vẫn chưa thể xuất viện. Đồ đạc trong nhà đã bán sạch. Tâm đã tìm đủ mọi cách để kiếm tiền nhưng không có cách nào hữu hiệu, họa chăng cũng chỉ đủ ăn, không có tiền thuốc thang cho người chồng bệnh tật.

(more…)

MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ SAU 2 NĂM HỘI NHẬP WTO

LG. CAO BÁ KHOÁT – Công ty TNHH tư vấn doanh nghiệp K và cộng sự

Sau hai năm kể từ ngày Việt Nam chính thức gia nhập WTO (ngày 11 tháng 01 năm 2007), môi trường pháp lý của Việt Nam đã có những thay đổi trên nhiều lĩnh vực. Nhìn một cách tổng thể thì môi trường pháp lý Việt Nam ngày càng mở rộng về lĩnh vực xã hội được điều chỉnh. Song, theo yêu cầu thượng tôn pháp luật của WTO, môi trường pháp lý của Việt Nam còn có nhiều vấn đề phải bàn, trong đó, nổi cộm hơn cả là chúng ta vẫn chưa đủ các chế tài pháp lý và chất lượng xây dựng các văn bản luật còn quá thấp.

Thực trạng không bình thường

Nguyên trưởng đoàn đàm phán Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ Nguyễn Đình Lương nói trên tuanvietnam.net rằng: "Còn lâu VN mới có được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thông thoáng, đúng luật chơi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, tự do hóa thương mại".

(Nguồn: http://tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/5824/index.aspx) 

Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2009 khu vực Đông Á – Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới (WB) xếp hạng Việt Nam đứng thứ 92 về mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh, giảm một bậc so với xếp hạng năm 2008. Nguyên nhân của việc tụt giảm này không thể loại trừ việc thiếu một môi trường pháp lý minh bạch.

Trước hết, chúng ta chưa có cơ chế để doanh nghiệp và người dân bảo vệ quyền của mình do quyết định sai lầm từ cơ quan hành chính nhà nước. Ví dụ, trong vụ sữa nhiễm melamine, Hanoimilk bị oan và đã được Bộ Y tế chính thức giải oan nhưng thiệt hại của họ thì không ai bồi thường, nông dân đổ sữa đi cũng không biết kêu ai. Giả sử doanh nghiệp có khởi kiện yêu cầu Bộ Y tế bồi thường thiệt hại và thắng kiện đi chăng nữa thì cũng khó có thể nhận được tiền bồi thường vì Luật bồi thường nhà nước chưa được ban hành. Đó mới chỉ là một vụ điển hình, trong thực tế còn hàng nghìn trường hợp, công chức, quan chức cứ vô tư quyết định sai và thiệt hại thì doanh nghiệp và nhân dân gánh chịu!

(more…)

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 68/2008/TTLT – BTC-BTP NGÀY 21 THÁNG 7 NĂM 2008 CỦA BỘ TÀI CHÍNH VÀ BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU, NỘP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG PHÍ THI HÀNH ÁN

Căn cứ Pháp lệnh Phí và lệ phí ngày 28 tháng 8 năm 2001;

Căn cứ Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 01 năm 2004;

Căn cứ Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 và Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí;

Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án, như sau:

I. PHẠM VI ÁP DỤNG

1. Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án đối với khoản thi hành án có giá ngạch tính trên giá trị tài sản hoặc số tiền mà người đó thực nhận theo hướng dẫn tại Thông tư này.

2. Không thu phí thi hành án đối với trường hợp sau đây:

a) Tiền được thi hành án là các khoản:

- Tiền cấp dưỡng;

- Tiền bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm;

- Tiền lương, tiền công lao động;

- Tiền trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc; tiền bảo hiểm xã hội; tiền bồi thường thiệt hại vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Trường hợp người yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án với tổng số tiền hoặc giá trị tài sản dưới 1.000.000 (Một triệu đồng).

c) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật, bao gồm:

(more…)

QUẢN LÝ TÀI SẢN, “CHUYỆN KHÔNG DỄ” ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG

TRẦN PHƯƠNG MINH (Theo money.com)

Các ngân hàng thương mại kinh doanh thu lợi nhuận bằng cách bán những tài sản nợ và dùng tiền thu được để mua những tài sản có. Nói một cách khác, các ngân hàng cung cấp dịch vụ chuyển một loại tài sản này thành một loại tài sản khác cho công chúng.

Có thể nói, hoạt động cơ bản của một ngân hàng là làm cho tài sản có và tài sản nợ phù hợp với nhu cầu của khách hàng, của người tiêu dùng. Xét về mặt nghiệp vụ kinh doanh, quá trình chuyển các tài sản và cung cấp một loạt các dịch vụ: huyy động vốn, ghi chép sổ sách, thanh toán séc, thủ quỹ, cho vay, thu nợ, phân tích tín dụng, thực hiện nhiệm vụ với ngân sách nhà nước,… cũng giống như hoạt động của mọi doanh nghiệp khác. Ngân hàng nào tạo ra được những dịch vụ tốt với chi phí thấp và có doanh thu cao do tài sản đem lại thì ngân hàng ấy thu được nhiều lợi nhuận, nếu không làm được như vậy thì ngân hàng ấy phải chịu thua lỗ.

Để thu được lợi nhuận cao, trước hết ngân hàng phải chú ý giải quyết tốt các vấn đề:

- Đảm bảo chắc chắn lúc nào ngân hàngcũng dự trữ đủ tiền mặt và vốn trên tài khoản để thanh toán kịp thời, nhanh chóng cho những người gửi tiền khi họ yêu cầu rút tiền.

- Giành được những tài sản có làm ăn hiệu quả, ít có khả năng phá sản và đa dạng hoá việc nắm giữ những tài sản có.

- Giành được những tài sản nợ có chi phí thấp.

Quản lý khả năng tiền mặt và vai trò của tiền dự trữ của một ngân hàng thương mại.

Khi có hiện tượng nhiều người gửi tiền ở ngân hàng HSBC rút tiền mặt từ những tài khoản séc hoặc tài khoản tiết kiệm, hoặc phát séc đến ngân hàng Citibank thì việc nắm giữ những khoản tiền dự trữ quá mức cho phép của ngân hàng HSBC sẽ tránh khỏi các phí tổn do thu về bán tháo các khoản cho vay; bán các chứng khoán, vay chiết khấu …

(more…)

TRAO QUYỀN TRONG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG

TUYẾT MAI (Dịch từ Customer Service Manager)

Việc trao quyền trong dịch vụ khách hàng đang ngày một trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Thật tuyệt vời nếu bạn có được những phương thức trao quyền hiệu quả cho các nhân viên để họ đảm bảo một dịch vụ khách hàng hiệu quả nhất.

Trong hoạt động dịch vụ khách hàng, trao quyền là một trong những yếu tố thiết yếu. Không ít nhà quản trị hay chủ doanh nghiệp thường cố gắng kiểm soát toàn bộ công việc, họ không bao giờ giao quyền và trách nhiệm cho các nhân viên dịch vụ khách hàng khác trong công ty. Tâm trí họ cho dù biết được những lợi ích của uỷ thác công việc nhưng vẫn luôn ám ảnh nỗi lo: “Biết đâu những nhân viên mình tin tưởng trao quyền có những hành động không hợp lý thì sao?…”.

Sẽ không có gì ngạc nhiên với số lượng ít ỏi các công ty ngày nay có những nhân viên dịch vụ khách hàng được trao quyền thích hợp để đưa ra các giải pháp, sáng kiến hiệu quả phục vụ khách hàng, qua đó lôi kéo họ quay trở lại với công ty. Quả vậy, các nhân viên dịch vụ khách hàng dường như không có nhiều quyền hành để thuyết phục các khách hàng bất mãn tiếp tục ở lại với công ty.

Một cách bất lực, các nhân viên dịch vụ khách hàng thường thực sự phớt lờ các yêu cầu của khách hàng cũng như những tuyên bố ý định rời bỏ công ty sau những trải nghiệm không mấy thú vị, thậm chí có nhân viên còn động viên các khách hàng tìm kiếm những công ty khác!

Họ thường xuyên lặp lại một vài cụm từ làm điên tiết khách hàng mà họ được phép nói hết lần này đến lần khác.

(more…)

MÔ HÌNH ĐĂNG KÝ KINH DOANH HỢP NHẤT – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

PGS.TS TRẦN VĂN NAM – Khoa Luật, Đại học Kinh tế Quốc dân

Đối với các doanh nghiệp (DN), thuận lợi gia nhập thị trường và dễ dàng tìm kiếm thông tin về các đối tác tiềm năng là một trong các yếu tố quan trọng để tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập. Ngày 29/7/2008, Bộ Kế hoạch Đầu tư – Bộ Tài Chính – Bộ Công An đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA hướng dẫn cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu với DN thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Thông tư này hướng dẫn quy trình mới cho phép thời gian giải quyết đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế chỉ còn 5 ngày. Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế cho DN, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động và đăng ký thuế chi nhánh, VPĐD. Khi đến nhận con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu tại cơ quan công an, đại diện DN nộp bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động và đăng ký thuế và xuất trình Giấy CMTND cho cơ quan công an. Đây là một bước tiến mới về cơ chế một cửa đỗi với các doanh nghiệp. Mặc dù nước ta đã có các thay đổi căn bản trên, xem xét mô hình đăng ký kinh doanh hợp nhất của một số nước Châu Á đi tiên phong về lĩnh vực này cho phép VNcó những bước đi hiệu quả hơn về cải cách hành chính phục vụ cộng đồng doanh nghiệp.

1. Giới thiệu một số cơ quan đăng ký doanh nghiệp nước ngoài

1.1 Cơ quan đăng ký doanh nghiệp Hồng Kông:

Cơ quan đăng ký doanh nghiệp tại Hồng Kông (CR) được thành lập từ năm 1993, trực thuộc Bộ Tài chính và Kho bạc chính phủ Hồng Kông. Đây là một trong 5 cơ quan hành chính ở Hồng Kông được hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính. Các công ty bao gồm cả công ty trong nước và nước ngoài khi thành lập và hoạt động kinh doanh đều phải đăng ký kinh doanh ở đây trừ các đối tượng là hộ kinh doanh và các doanh nghiệp tư nhân.

(more…)

THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-NHNN NGÀY 2 THÁNG 3 NĂM 2009 CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng như sau:

Mục I.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy chế này quy định việc cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam (VND) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng là ngân hàng và các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép (sau đây gọi tắt là ngân hàng) dưới hình thức có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá (sau đây gọi tắt là cho vay cầm cố) là hình thức cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) đối với các ngân hàng trên cơ sở cầm cố giấy tờ có giá thuộc sở hữu của ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.

2. Cầm cố giấy tờ có giá là việc Ngân hàng Nhà nước nắm giữ bản gốc giấy tờ có giá, hoặc yêu cầu ngân hàng chuyển khoản giấy tờ có giá vào tài khoản của Ngân hàng Nhà nước mở tại Trung tâm giao dịch chứng khoán để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho một hay nhiều khoản vay cầm cố của ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước.

3. Lãi suất cho vay cầm cố là lãi suất tái cấp vốn mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng khi thực hiện cho vay cầm cố đối với các ngân hàng và được Ngân hàng Nhà nước công bố trong từng thời kỳ.

4. Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá là thời gian tính từ ngày Ngân hàng Nhà nước giải ngân khoản vay cầm cố đối với ngân hàng đến ngày đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá đó.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: