LUẬT MẪU VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

(Tài liệu số A/40/17, phụ lục I của Liên Hợp Quốc)

(Được ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế thông qua ngày 21 tháng 06 năm 1985)

Chương I: Những quy định chung

Điều 1: Phạm vi áp dụng [1]

1. Luật này áp dụng cho trọng tài thương mại[2] quốc tế, theo bất kỳ thoả thuận hiện hành nào giữa quốc gia này với quốc gia khác hoặc các quốc gia.

2. Những qui định của Luật này, trừ các điều 8, 9, 35 và 36 chỉ áp dụng nếu nơi tiến hành trọng tài là tại lãnh thổ của nước này.

3. Trọng tài là quốc tế nếu:

(a) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc

(b) Một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được đặt ở ngoài quốc gia:

(i) Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận trọng tài;

(ii) Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;

(c) Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước.

4. Cũng là trọng tài quốc tế giống như qui định của khoản 3 điều này:

(a) Nếu một bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì trụ sở kinh doanh sẽ là nơi có quan hệ chặt chẽ nhất với thoả thuận trọng tài.

(b) Nếu một bên không có trụ sở kinh doanh thì nơi cư trú thường xuyên sẽ được dẫn chiếu tới.

5. Luật này không ảnh hưởng đến luật khác của nước này với một số loại tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài hoặc có thể đưa ra trọng tài theo những qui định khác với qui định của luật này.

(more…)

NÊN HAY KHÔNG NÊN THỪA NHẬN CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN LÀ CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM?

PHAN ĐỨC HIẾU – Ban Chính sách Kinh tế vĩ mô Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM)

Giới thiệu
Công ty TNHH một thành viên là cá nhân không phải là vấn đề mới. Ở Việt nam, vấn đề này đã được thảo luận nhiều trong quá trình Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp năm 1999. Tuy nhiên, hình thức pháp lý tổ chức kinh doanh này cuối cùng không được thừa nhận. Hiện nay, khi Luật doanh nghiệp (thống nhất) đang trong quá trình soạn thảo, vấn đề nên hay không nên thừa nhận loại hình doanh nghiệp này cũng đang được thảo luận sôi nổi và dự thảo luật đã thừa nhận loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân.

Vì vậy, bài viết này nhằm trả lời cho câu hỏi có cần thừa nhận công ty TNHH một thành viên là cá nhân ở Việt Nam không. Nếu, câu trả lời là có, thì phải thiết kế loại hình này như thế nào cho phù hợp thực tiễn Việt nam. Kinh nghiệm tương tự ở châu Âu sẽ được tác giả coi như một kinh nghiệm hữu ích để học hỏi.

Kinh nghiệm ở châu Âu

Ở tất cả các nước thành viên châu Âu, một cá nhân được phép thành lập loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Hơn thế nữa, quy định về công ty TNHH một thành viên là cá nhân cũng đã được thống nhất bằng Chỉ thị lần thứ 12 của Hội đồng châu Âu ngày 21 tháng 9 năm 1989. Chỉ thị này nhằm mục tiêu trước tiên là đảm bảo rằng công ty TNHH một thành viên là cá nhân phải được thừa nhận ở tất cả các nước thành viên; đồng thời nhằm tăng cường sự bảo vệ đối với bên thứ ba khi giao dịch với công ty loại này và khuyến khích cá nhân kinh doanh chuyển thành loại hình công ty này.

Theo quy định của chỉ thị này, có một số điểm đáng lưu ý là:

- Chỉ thị quy định rằng tất cả các nước thành viên phải cho phép một cá nhân có quyền thành lập loại hình công ty TNHH. Riêng, đối với loại hình công ty cổ phần, thì tùy mỗi nước quyết định thừa nhận loại hình công ty cổ phần có một thành viên là cá nhân.

(more…)

DỰ ÁN LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: ĐỀ NGHỊ CHỈ BỒI THƯỜNG 11 TRƯỜNG HỢP

LÊ KIÊN

Ủy ban Thường vụ Quốc hội và nhiều đại biểu không đồng tình việc giới hạn vì đó là hạn chế quyền của dân và làm nền công vụ kém hiệu quả. Nhiều ý kiến tại hội thảo của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội ngày 11/3/2009 nhất trí rằng lần đầu tiên xây dựng đạo luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước có ý nghĩa to lớn trong việc bình đẳng hóa quan hệ của nhà nước và công dân. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của dự luật được xác định gồm ba lĩnh vực: quản lý hành chính, thi hành án và tố tụng.

Vì nghèo nên phải “né” bồi thường

Đối với các trường hợp thiệt hại do hành động của người thi hành công vụ trong lĩnh vực hành chính gây ra, Chính phủ đề nghị chỉ giới hạn phạm vi bồi thường trong 11 trường hợp cụ thể. “Trong điều kiện hiện nay, lĩnh vực quản lý hành chính mà mở ra hết thì rất rộng, phức tạp và khó khả thi. Sau này thấy khả năng áp dụng tốt hơn, tính khả thi cao hơn thì sửa luật để mở rộng dần” – Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng giải trình. Ủng hộ ý kiến này, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp Đinh Xuân Thảo cho rằng trong điều kiện năng lực đội ngũ công chức còn yếu, hành vi làm sai vẫn phổ biến mà quy định cái gì công chức sai nhà nước phải bồi thường hết thì nhà nước “vỡ nợ”.

Không đồng tình, ủy viên Đoàn chủ tịch MTTQ Việt Nam Nguyễn Văn Pha lên tiếng: Nếu lấy lý do chưa có điều kiện về kinh tế, rồi trình độ đội ngũ công chức có hạn thì không biết đến bao giờ mới có nền công vụ hiệu quả. “Vừa qua, phát hiện sai phạm ở nhiều địa phương khi thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo ăn Tết của Chính phủ thì thấy rằng nhiều nơi cán bộ rất thiếu trách nhiệm” – ông Pha dẫn chứng. Còn theo GS Nguyễn Minh Thuyết, giới hạn phạm vi bồi thường là trái Hiến pháp. “Nếu nhà nước thiếu tiền thì bồi thường phần nào đó để tỏ rõ trách nhiệm” – GS Thuyết nói. UBTVQH cũng kết luận: “Mặc dù điều kiện kinh tế-xã hội nước ta hiện nay còn khó khăn; trình độ, năng lực cũng như ý thức tuân thủ pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế… nhưng không vì thế mà hạn chế quyền của công dân yêu cầu nhà nước bồi thường thiệt hại”.

Nên có bảo hiểm công vụ

Mặc dù thừa nhận nguyên tắc của pháp luật dân sự là thiệt hại đến đâu thì bồi thường đến đó nhưng UBTVQH đánh giá trong điều kiện hiện nay, việc tính đúng, tính đủ để bồi thường ngang bằng giá trị thiệt hại là rất khó. Tuy nhiên, mức bồi thường cụ thể thì phải có lý, có tình và phải khả thi. Đồng thời, xác định mức bồi thường phải dựa trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại. Trường hợp không thỏa thuận được thì người đòi bồi thường có thể khởi kiện ra tòa.

(more…)

CÔNG ƯỚC VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH CÁC QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

Điều I

  1. Công ước này áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài được ban hành tại lãnh thổ của một Quốc gia khác với Quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và thi hành quyết định trọng tài đó, xuất phát từ các tranh chấp giữa các thể nhân hay pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những quyết định trọng tài không được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành chúng được yêu cầu.
  2. Thuật ngữ “các quyết định trọng tài” bao gồm không chỉ những quyết định ra bởi các Trọng tài viên được chỉ định cho từng vụ mà còn bao gồm những quyết định ra bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên đưa vụ việc ra giải quyết.
  3. Khi ký kết, phê chuẩn, hoặc gia nhập Công ước này, hoặc thông báo phạm vi áp dụng Công ước theo điều X, bất kỳ Quốc gia nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại, tuyên bố rằng Quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một Quốc gia thành viên khác mà thôi. Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý, dù là quan hệ hợp đồng hay không, được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật quốc gia của Quốc gia đó.

Điều II

1. Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài.

  1. Thuật ngữ "thỏa thuận bằng văn bản” bao gồm điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thỏa thuận trọng tài được các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi.
  2. Tòa án của một Quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thỏa thuận theo nội dung của điều này, sẽ, theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi Tòa án thấy rằng thỏa thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được.

(more…)

CHỐNG VI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ: QUÂN TỬ PHÒNG THÂN

ANH PHƯƠNG

Với hơn 10 năm kinh nghiệm xử lý các vụ việc về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Luật sư Bạch Thanh Bình (Văn phòng Luật sư Phạm và liên danh) đưa ra lời khuyên tưởng chừng như ai cũng biết, nhưng chưa nhiều người thực hiện được… Những thiệt hại của doanh nghiệp do bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là rất lớn, nhưng lại rất khó đong đếm cụ thể và hành trình đi “đòi” sự công bằng trong lĩnh vực này cũng rất gian nan, đòi hỏi sự kiên trì và khả năng tài chính.

Muôn hình vạn trạng vi phạm

Theo ước tính của các chuyên gia, thị trường Việt Nam mỗi năm tiêu thụ khoảng 1 triệu xe gắn máy “cỏ”, trong số này có tới 50% là xe… nhái Honda! Thiệt hại cho chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp hẳn là rất lớn, nhưng khó định lượng; còn thiệt hại cho người tiêu dùng thì rất rõ và cũng không hề nhỏ. Trong một vụ việc đang được tiến hành điều tra tại tỉnh Nam Định, gần 2.000 chiếc xe Wave Alpha “nhái” đã được tiêu thụ. Giá thành xuất xưởng của những chiếc xe này chỉ khoảng 5,5 triệu đồng/chiếc, sau khi được “phù phép” bằng một số chi tiết nhựa và tem nhãn giả, mỗi chiếc xe đến tay người tiêu dùng với giá không dưới 13 triệu đồng! Trừ đi các chi phí hợp lý, những kẻ kinh doanh bất chính đã ung dung bỏ túi chừng 7 triệu đồng/chiếc xe, cao hơn cả giá thành sản phẩm.

Thế nhưng không phải chỉ có các mặt hàng có giá trị lớn mới bị vi phạm bản quyền SHTT. Từ chiếc xe máy, thời trang hàng hiệu, phần mềm vi tính cho đến chiếc kẹo mút ưa thích của trẻ em đều là đối tượng bị dòm ngó, xâm phạm. Chủ nhãn hiệu Gucci mỗi năm cũng có tới 50 lần phải cầu viện tới các luật sư. Các hãng nước ngoài dày dạn kinh nghiệm thương trường như Kimberly – Clark (trụ sở chính tại Mỹ, bán sản phẩm tại 150 thị trường trên thế giới) hay Perfetti van Melle (nhà sản xuất đồ ngọt lớn thứ 6 trên thế giới, trụ sở chính tại Italia) cũng đều phải ngậm ngùi vì hàng nhái.

Tuy thế, việc xử lý các vụ vi phạm này không đơn giản. Một lý do quan trọng là đội ngũ cán bộ thực thi (bao gồm rất nhiều lực lượng, từ quản lý thị trường, hải quan, công an kinh tế…) không hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực này. Bên cạnh đó, hàng nhái được làm ở “khắp chợ cùng quê”. Một cán bộ C15 kể chuyện thật như đùa: xe của cơ quan chức năng đi kiểm tra một cơ sở sản xuất diêm nhái tại một làng ở Bắc Ninh đã bị rất đông… trẻ em ra cản đường. Trên đường vào làng, họ tiếp tục gặp nhiều “chướng ngại vật” khác. Hệ quả là khi đến nơi chẳng còn dấu vết nào khả dĩ kết luận được hành vi làm nhái! Tuy biết chắc những chiếc kẹo mút Chupa Chups  (nhãn hàng đang được ưa chuộng của Perfetti) đang bị “nhái” ở làng nghề bánh kẹo La Phù (huyện Hoài Đức, Hà Nội) nhưng “bắt tận tay, day tận cánh” đã rất khó khăn, nói gì đến việc bắt các hộ sản xuất ở đây bồi thường theo luật định – đại diện Perfetti có lần than thở. Cũng vì thế mà không nhiều doanh nghiệp kiên trì và có khả năng theo đuổi hành trình bảo vệ sự công bằng cho chính mình.

(more…)

THUYẾT MINH CHI TIẾT DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

1. Giới thiệu tổng quan về dự thảo Luật trọng tài

1.1. Kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP, dựa trên thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong hai thập kỷ từ khi thực thi Nghị định số 116/CP năm 1996 về trung tâm trọng tài kinh tế, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập, dự thảo Luật trọng tài quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài như một phương thức nhằm giải quyết một cách hiệu quả, nhanh chóng các tranh chấp trong đời sống kinh doanh, thương mại và dân sự. Dự thảo luật Luật trọng tài gồm XIV chương với 74 điều.

1.2. Tôn trọng và bảo vệ thoả thuận của các bên dân sự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dự thảo Luật trọng tài nhằm vào các mục đích: (i) quy định một thủ tục tố tụng trọng tài nhanh chóng, công bằng, hiệu quả và thuận lợi, (ii) đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả của toà án để các hội đồng trọng tài tuân thủ đúng tố tụng, các quyết định và phán quyết của trọng tài có hiệu lực và được thi hành, (iii) tạo điều kiện cho trọng tài viên và tổ chức trọng tài phát triển trong bối cảnh Việt Nam thực thi các cam kết về thương mại dịch vụ khi hội nhập kinh tế quốc tế.

1.3. Luật trọng tài về cơ bản là một luật tố tụng riêng so với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2005. Dựa vào quy định của Luật trọng tài này các tổ chức trọng tài hoặc hội đồng trọng tài vụ việc có thể xây dựng quy tắc tố tụng cụ thể. Về từng nội dung chi tiết của dự luật, bản thuyết minh dưới đây làm rõ mục đích của quy phạm, các phương án lựa chọn và giải pháp mà Ban soạn thảo ưu tiên.

2. Phạm vi điều chỉnh và tên gọi của đạo luật

2.1. Trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài có hai loại ý kiến về phạm vi điều chỉnh của dự luật. Nhóm ý kiến thứ nhất đề xuất giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật trọng tài trong các giao dịch thương mại của thương nhân, có xem xét mở rộng khái niệm thương mại cho phù hợp với Luật thương mại năm 2005 và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia về thương mại quốc tế. Quan điểm này dựa trên các lập luận:

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: