QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Tác giả viết bài này trong giai đoạn thảo luận về dự thảo Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Luật này đã được ban hành vào ngày 3 tháng 6 năm 2008. Civillawinfor đăng lại vì những thông tin mà tác giả đưa ra vẫn còn nguyên giá trị tham khảo

LƯU HOÀI ANH

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đặt ra nhiệm vụ ban hành Luật Quản lý tài sản nhà nước nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả nhà, đất và các tài sản khác[1]. Như vậy, Đảng ta đã đặt ra nhiệm vụ cho công tác lập pháp không chỉ là ban hành được Luật Quản lý tài sản nhà nước, mà quan trọng hơn là đạo luật này phải thực sự góp phần quản lý, sử dụng có hiệu quả nhà, đất và các tài sản khác. Việc thông qua một đạo luật đã khó nhưng việc bảo đảm để đạo luật này thực sự đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ trên còn khó gấp nhiều lần. Chính vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng luật này là phải đánh giá đúng thực trạng quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện nay, đặc biệt là những hạn chế, bất cập, xác định đúng nguyên nhân để quy định các giải pháp khắc phục phù hợp.

Theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội[2], trong thời gian qua, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành được tương đối đầy đủ văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và nhờ đó, công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã từng bước đi vào nề nếp, kỷ cương, công khai và có hiệu quả.  Nhà nước đã thực hiện kiểm kê nắm được tổng quan về số lượng, giá trị và cơ cấu phân bố sử dụng tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp và tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp. Nhà nước cũng đã đã thực hiện được phân cấp rõ hơn một bước nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài sản nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp, giữa các cơ quan có chức năng quản lý chuyên ngành về tài sản nhà nước với các cơ quan, đơn vị được giao quản lý gắn với sử dụng tài sản nhà nước; đồng thời xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp trong quản lý, trách nhiệm của từng đơn vị trong sử dụng tài sản. Từ năm 2001 đến nay, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện rà soát, sắp xếp lại nhà, đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, làm cơ sở để từng bước nhân rộng ra thực hiện trên phạm vi cả nước…

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực và kết quả rất đáng khích lệ đã đạt được như đã nêu ở trên, lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện nay cũng còn nhiều hạn chế, rất cần được phân tích, đánh giá phục vụ cho việc xem xét, thảo luận và biểu quyết thông qua dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. 

1. Một số hạn chế

Nhìn chung, chúng tôi thấy những hạn chế cơ bản trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã được Chính phủ báo cáo tương đối đầy đủ trước Quốc hội[3]. Vì vậy, chúng tôi chỉ trình bày thêm về những hạn chế đó.

   1.1. Pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước quy định còn phân tán, chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và hiệu lực pháp lý còn thấp.

Hiện nay trong hệ thống pháp luật hiện hành ở nước ta có tới 45 văn bản quy phạm pháp luật có các quy định liên quan đến tài sản nhà nước, từ Hiến pháp cho đến các quyết định, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ[4]. Như vậy là quá phân tán. Trong khi đó cho đến thời điểm hiện nay, hai văn bản cấp nghị định của Chính phủ là Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 về quản lý tài sản nhà nước và Nghị định số 137/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 quy định việc phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước vẫn là hai văn bản pháp luật chuyên ngành quan trọng nhất, quy định tập trung nhất về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Nhưng, hai văn bản này cũng mới chủ yếu quy định việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, còn những quan hệ về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp dường như vẫn chưa được quy định rõ ràng và đầy đủ. Do vậy, hiệu lực pháp luật của các quy định trong lĩnh vực đặc biệt quan trọng và nhạy cảm này vừa rất thấp, vừa thiếu nên không thể tạo ra một khuôn khổ pháp luật phù hợp để cho hoạt động quản lý và sử dụng tài sản nhà nước vận hành đúng đắn và có hiệu quả. Cho đến thời gian gần đây, Dự án Luật Quản lý tài sản nhà nước mới được trình để Quốc hội xem xét, cho ý kiến[5].

1.2. Các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa thực sự quản lý, theo dõi sát được thực trạng và biến động của tài sản nhà nước trên thực tế hiện nay.

Cho đến nay, như Chính phủ đã báo cáo trước Quốc hội, chúng ta mới chỉ nắm được tổng quan về tài sản nhà nước[6]. Có nghĩa là, hiện nay, từ Quốc hội, Chính phủ cho đến các bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương… đều chưa thực sự nắm rõ được tình trạng tài sản nhà nước như thế nào, cả về số lượng, giá trị, chất lượng và hiện trạng phân bổ sử dụng. Đây sẽ là một thách thức không nhỏ đối với các đại biểu Quốc hội khi xem xét, cho ý kiến và biểu quyết thông qua dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân khi xem xét, quyết định về việc sử dụng tài sản nhà nước – cũng là tài sản thuộc sở hữu toàn dân nếu như chưa thực sự hiểu rõ đối tượng mà mình xem xét, quyết định là thế nào thì quả là khó cho Quốc hội, khó cho mỗi đại biểu Quốc hội.

1.3. Tình trạng sử dụng tài sản nhà nước sai mục đích, sai tiêu chuẩn, định mức, chế độ, lãng phí vẫn còn xảy ra khá phổ biến ở các lĩnh vực, các cơ quan, tổ chức

Có thể nói tình trạng sử dụng, quản lý không đúng mục đích, cho thuê, cho mượn, để thất thoát, lãng phí rất lớn ở hầu như các ngành, các cơ quan, tổ chức, các địa phương, ở hầu hết các khâu của quá trình quản lý, từ khâu quyết định mua sắm đến khâu quản lý, sử dụng, đến khâu thanh lý và ở tất cả các khâu liên quan đến tài sản nhà nước. Đất đai, trụ sở làm việc của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội và doanh nghiệp còn bị sử dụng lãng phí, sử dụng sai mục đích như: bỏ trống, cho thuê, cho mượn, sử dụng để kinh doanh sai mục đích… Một số trường hợp thực hiện mua sắm, điều chuyển, thanh lý tài sản nhà nước sai thẩm quyền, sai tiêu chuẩn, chế độ dẫn đến thất thoát. Trong đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản, thì tình trạng lãng phí trong đầu tư, mua sắm vượt tiêu chuẩn định mức, vượt mức giá cho phép mặc dù đã có hạn chế nhưng vẫn còn xảy ra thường xuyên.

Hiện nay vẫn còn tình trạng nhiều cơ quan, tổ chức chiếm giữ quá nhiều nhà, đất so với nhu cầu sử dụng thực tế, dẫn đến sử dụng sai mục đích hoặc lãng phí. Qua công tác thanh tra đã phát hiện: năm 2001 có 6 bộ, ngành sử dụng trụ sở sai mục đích 15.353 m2; có 14 tỉnh cho thuê 3.482 m2, 9 tỉnh, thành phố sử dụng vào các mục đích khác 142.227 m2; năm 2002 kiểm tra 31/33 bộ, ngành ở trung ương và kiểm tra 59/61 địa phương phát hiện một số đơn vị đã sử dụng trụ sở làm việc để cho thuê là 16.000 m2, để kinh doanh dịch vụ và các mục đích khác là 157.000 m2[7].

Việc mua sắm xe mới, quản lý, sử dụng xe ô tô công cũng đang là vấn đề hết sức bức xúc. Những tồn tại chủ yếu là mua xe vượt tiêu chuẩn, vượt giá quy định. Năm 2001 có 14 bộ, ngành, 45 địa phương mua xe vượt giá, vượt tiêu chuẩn; năm 2002 và năm 2003 có 32/64 đơn vị thuộc 7 bộ, ngành  và 60 đơn vị thuộc 7 địa phương mua xe vượt giá quy định; năm 2004 có 22/64 đơn vị mua 34 xe ô tô vượt giá quy định, cá biệt có trường hợp mua xe với giá cao, lãng phí không cần thiết hoặc trang cấp xe ô tô cho cả những đơn vị không có tiêu chuẩn sử dụng xe. Một số bộ, ngành và địa phương vẫn còn hiện tượng sử dụng xe vượt định mức hay sử dụng xe cho mượn dài ngày, sử dụng xe vào việc riêng[8]…

Việc đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản vẫn còn hiện tượng vượt tiêu chuẩn định mức, vượt mức giá cho phép. Theo kết quả thanh tra năm 2001, có 14 bộ, ngành mua 29 xe ô tô vượt giá với tổng số tiền vượt là 1.079 triệu đồng; 45 tỉnh thành phố mua xe vượt tiêu chuẩn tới 265 xe, với tổng số tiền vượt là 30.957 triệu đồng; 2 bộ, ngành xây dựng trụ sở làm việc vượt tiêu chuẩn định mức 3.268 m2; 22 tỉnh, thành phố xây dựng trụ sở vượt định mức 35.507 m2. Năm 2002 có 17/33 bộ, ngành ở trung ương và 41/61 địa phương mua xe ô tô con vượt quy định về giá trị, vượt tiêu chuẩn về đầu xe với tổng giá trị 33 tỷ đồng[9].

Công tác quản lý tài chính đất đai, tài nguyên khác còn nhiều sơ hở, cụ thể như: một số địa phương xác định giá thuê đất thấp hơn nhiều so với quy địnhm, cá biệt có một số địa phương áp dụng chỉ thu bằng 50% đối với các tổ chức trong nước đã sử dụng đất thuê từ năm 1995 trở về trước. Bao cấp đất đai cho tổ chức, cá nhân được nhà nước giao đất ở một số dự án tại một số địa phương vẫn còn tiếp diễn do giá đất tính thu tiền sử dụng đất vẫn do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành còn thấp so với quy định.

Cho đến nay, vẫn còn tình trạng sử dụng nhà, đất của các cơ quan, tổ chức để kinh doanh hoặc cho thuê, việc xây dựng trụ sở làm việc mới tại một số cơ quan, tổ chức vẫn vượt tiêu chuẩn, định mức sử dụng nhà làm việc do Thủ tướng Chính phủ quy định. Theo một kết quả kiểm tra năm 2005, có 2 bộ, ngành xây dựng trụ sở làm việc vượt 3268 m2, có 22 tỉnh xây dựng trụ sở vượt mức 35.507 m2, và các cơ quan sử dụng nhà làm việc để cho thuê tại thời điểm năm 2005 của 31 bộ, ngành trung ương và 59 địa phương với 173.000 m2 nhà[10].

Đó là các số liệu về việc sử dụng tài sản nhà nước chủ yếu của các cơ quan nhà nước. Việc sử dụng tài sản nhà nước được giao ở các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội hiện nay cũng là vấn đề rất đáng quan ngại và dư luận rất quan tâm. Nếu cách đây khoảng 10 năm, người dân Hà Nội, nhất là các cụ lão thành cách mạng đã từng bất ngờ và bức xúc trước việc trụ sở Câu lạc bộ Đoàn kết (là nơi sinh hoạt của các cụ hưu trí) tại 63 Lý Thái Tổ (Hà Nội) bị tổ chức chủ quản đem liên doanh với nước ngoài thì hiện nay, những sự việc tương tự xảy ra đã không còn hiếm. Việc quản lý và sử dụng các trụ sở phía nam tại thành phố Hồ Chí Minh của nhiều bộ, ngành trung ương, việc quản lý và sử dụng các nhà nghỉ, khách sạn trên cả nước của một số cấp công đoàn hay những vụ việc cụ thể đã và đang xảy ra như việc xây dựng một trụ sở làm việc quá lớn, cho một ngân hàng thương mại thuê sử dụng và thường xuyên  dành cho thuê tổ chức hội nghị, hội thảo…  của một tổ chức chính trị xã hội tại mặt phố Thụy Khê (Hà Nội)… đã và đang được các cơ quan có trách nhiệm và người dân quan tâm như là những thách thức về quản lý và sử dụng tài sản nhà nước – tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Một điều cũng cần nói ở đây là: hầu hết số tiền thu được từ các hoạt động đem tài sản nhà nước đi liên doanh, cho thuê, kinh doanh… đều không thu được về ngân sách nhà nước và đi kèm với nó là không ít những biểu hiệu tiêu cực, tham nhũng, mất đoàn kết do phân chia lợi nhuận thu được… Nếu ai đó có thể đưa ra một con số tương đối đầy đủ về tình trạng này, ắt hẳn sẽ làm rất nhiều người  trong chúng ta phải giật mình.

1.4. Việc quản lý nhà nước chuyên ngành về tài sản nhà nước trên thực tế còn nhiều hạn chế, bị động và thiếu tính chuyên nghiệp.

Tổ chức bộ máy quản lý tài sản nhà nước các cấp là bộ phận giúp chính quyền các cấp, thủ trưởng bộ, ngành thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước mặc dù đã được quy định nhưng việc triển khai trên thực tế còn rất chậm, dẫn đến các chế độ và biện pháp cụ thể để quản lý tài sản nhà nước chưa được thực hiện thống nhất tại các bộ, ngành, địa phương; hệ thống thông tin trong phạm vi cả nước làm căn cứ để chỉ đạo công tác quản lý tài sản nhà nước rất thiếu và yếu.

2. Nguyên nhân

Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thời gian nêu trên có nhiều, song có thể rút ra một số nguyên nhân chính sau đây:

2.1. Tài sản nhà nước trải qua một thời gian dài được quản lý, sử dụng theo cơ chế bao cấp; quan hệ tài sản giữa nhà nước với cơ quan, đơn vị sử dụng cơ bản chỉ là cấp và thu hồi tài sản; các cơ chế mới về quản lý sử dụng tài sản nhà nước mới ban hành chưa gắn quản lý ngân sách với quản lý tài sản, chưa gắn quản lý tài sản về hiện vật với quản lý, bảo vệ giá trị tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản cũng như chưa gắn với yêu cầu nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và hoạt động của cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng.

2.2. Nhà nước với tư cách là người đại diện sở hữu toàn dân đối với tài sản nhà nước, nhưng chưa thực hiện tốt vai trò ban hành chính sách, pháp luật và chưa thực hiện tốt trách nhiệm kiểm tra, giám sát tình hình quản lý tài sản nhà nước tại các các cơ quan, đơn vị được nhà nước giao quản lý, sử dụng tài sản. Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương chưa theo dõi đầy đủ, kịp thời về số lượng, giá trị và tình hình biến động tài sản nhà nước thuộc phạm vi mình quản lý. Các vi phạm của các cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý sử dụng tài sản nhà nước chưa được phát hiện kịp thời và khi phát hiện được lại chưa xử lý nghiêm minh, dẫn đến các tồn tại này vẫn kéo dài.

2.3. Cơ chế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước không gắn với cơ chế tổ chức thực hiện dẫn đến hiệu lực của văn bản pháp luật về quản lý tài sản nhà nước không cao đối với công tác quản lý tài sản nhà nước. Ví dụ: nguyên tắc thẩm định đầu tư, mua sắm tài sản nhà nước để quản lý tài sản nhà nước ngay từ khâu hình thành tài sản đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể về quy trình thực hiện; tổ chức bộ máy quản lý tài sản nhà nước các cấp là bộ phận giúp chính quyền các cấp, thủ trưởng bộ, ngành thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước mặc dù đã được quy định nhưng việc triển khai trên thực tế còn rất chậm.

2.4. Chế tài xử lý các sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ, việc tổ chức xử lý chưa kiên quyết và thiếu kịp thời, dẫn đến hiệu lực và hiệu quả thấp nên chưa đủ sức đẩy lùi các tiêu cực. Tình trạng sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã và đang diễn ra. Các diễn đàn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và của các cơ quan, tổ chức hữu quan cũng như công luận đã nhiều lần lên tiếng nhưng việc xử lý vi phạm vẫn không được như mong muốn. Một ví dụ điển hình là việc các thành phố lớn (như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh) đã có chủ trương thu hồi những diện tích đất công sử dụng lãng phí hoặc sai mục đích từ nhiều năm nay, nhiều địa chỉ đã được nêu ra nhưng cho đến nay không ít trường hợp chưa được xử lý dứt điểm. Và như vậy, đây sẽ lại là những tiền lệ xấu cho những vi phạm trong tương lai.

3. Giải pháp khắc phục

Tại Kỳ họp thứ ba này, Quốc hội khóa XII sẽ xem xét, thông qua dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Để góp phần tạo ra một bước chuyển biến về  quản lý, sử dụng có hiệu quả nhà, đất và các tài sản khác của Nhà nước như nhiệm vụ mà Đại hội X của Đảng đã đề ra, các quy định của Luật phải được xây dựng trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ và đúng đắn thực trạng quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện nay, đề ra được phương hướng và các giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay.

Qua nghiên cứu Dự thảo Luật, chúng tôi cho rằng về cơ bản, Dự thảo luật đã đáp ứng được yêu cầu trên. Tuy nhiên, để góp phần hoàn thiện thêm dự thảo luật, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau đây.

   Thứ nhất, để khắc phục tình trạng các quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước  phân tán, chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và hiệu lực pháp lý còn thấp thì phạm vi điều chỉnh của Dự thảo luật phải bảo đảm bao quát mọi quan hệ về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Nội dung dự thảo luật phải cố gắng quy định cụ thể đến mức tối đa những vấn đề đã có thể quy định cụ thể được, những quy định của các nghị định về vấn đề này đã được thực hiện và xét thấy còn phù hợp nên được luật hóa. Trong Dự thảo luật trình ra Quốc hội lần này còn nhiều quy định mới dừng ở xác định nguyên tắc, định hướng, thiếu cụ thể (ví dụ: nhiều quy định chưa xác định rõ chủ thể quản lý nhà nước là cơ quan cụ thể nào mà vẫn quy định chung chung là Nhà nước; nhiều quy định vẫn lại chỉ ra chung chung là theo quy định của pháp luật…). Như vậy, khi luật được thông qua sẽ lại phải chờ rất nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, tình trạng quy định phân tán sẽ khó được khắc phục.

Thứ hai, để khắc phục được tình trạng các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa thực sự quản lý, theo dõi sát được thực trạng và biến động của tài sản nhà nước trên thực tế hiện nay như thế nào để có biện pháp quản lý phù hợp, thì đồng thời với việc quy định các cơ quan, từ Chính phủ đến các bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp và thủ trưởng các cơ quan, tổ chức được giao trực tiếp quản lý và sử dụng tài sản phải thường xuyên theo dõi, cập nhật tình hình tài sản nhà nước trong phạm vi trách nhiệm của mình thì đề nghị nên bổ sung quy định xác định rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc định kỳ báo cáo trước Quốc hội về tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trong phạm vi cả nước (kể cả đối với tài sản nhà nước tại các quốc gia, vùng lãnh thổ khác); ủy ban nhân dân có trách nhiệm định kỳ báo cáo trước Hội đồng nhân dân cùng cấp tình hình quản lý và sử dụng tài sản nhà nước trong phạm vi quản lý của mình. Hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản nhà nước cần được xác định là một trong những căn cứ để đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

Đề nghị trong Dự thảo Luật cũng nên quy định các nguyên tắc, tiêu chí và xác định khung giá trị tài sản để làm cơ sở cho Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, thẩm quyền có căn cứ để quyết định việc giao tài sản nhà nước cho các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, chính trị xã hội nghề nghiệp quản lý và sử dụng. Đồng thời, cũng nên xác định cơ chế và phương thức quản lý riêng đối với tài sản đã giao cho các tổ chức này. Bởi vì, tính chất, cơ chế và phương thức hoạt động của các tổ chức này rất khác với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của nhà nước, không thể và không nên đánh đồng như nhau. Đây cũng là yêu cầu để bảo đảm cho tài sản nhà nước được phân bổ và sử dụng hợp lý, đúng mục đích. Thiết nghĩ, đã là tài sản nhà nước – tài sản thuộc sở hữu toàn dân thì dù được giao cho cơ quan, tổ chức, đoàn thể nào cũng phải nhằm để phục vụ cho lợi ích của nhân dân, không thể chỉ vì lợi ích cục bộ của cơ quan, tổ chức đó. Đất nước còn nghèo, đa phần nhân dân còn nghèo nên việc quản lý, sử dụng tài sản mà nhân dân giao cho phải hết sức tiết kiệm; kiên quyết chấm dứt tình trạng sử dụng tài sản của nhà nước, của nhân dân để phục vụ cho lợi ích cục bộ, cá nhân.

Thứ ba, để khắc phục tình trạng sử dụng tài sản nhà nước sai mục đích, sai tiêu chuẩn, định mức, chế độ, lãng phí xảy ra ở các lĩnh vực, các cơ quan, tổ chức, đề nghị trong Dự thảo luật cần xác định rõ các nguyên tắc, yêu cầu kỷ cương trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước cũng như biện pháp chế tài mạnh đối với những hành vi vi phạm.

Có vấn đề cần được lưu ý: việc giao, cấp phát tài sản nhà nước cho các cơ quan, tổ chức cũng phải có kế hoạch, có tầm nhìn chiến lược, gắn với các kế hoạch, chiến lược kinh tế – xã hội và các chiến lược cải cách, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, đổi mới hệ thống chính trị. Ví dụ, hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, trong đó có hướng tới việc xây dựng các tòa án khu vực thay thế cho các tòa án cấp huyện như hiện nay. Trong khi đó, những năm qua, đồng thời với việc quán triệt, đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược này, các cơ quan nhà nước lại cũng đang đẩy mạnh việc tăng cường các tòa án cấp huyện, trong đó có tăng cường cơ sở vật chất, trụ sở tòa án và các cơ quan hữu quan cùng cấp… Điều này tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng tới đây, khi thiết lập các tòa án khu vực, hàng loạt các trụ sở các cơ quan tư pháp cấp huyện sẽ không dùng được, lãng phí sẽ là rất lớn cho tài sản nhà nước…

Đồng thời, trong Dự thảo Luật cũng cần kiên quyết đề ra lộ trình sớm chấn chỉnh tình trạng vi phạm hiện nay. Những trụ sở, đất đai, các cơ sở vật chất khác hiện không sử dụng hết cần kiên quyết điều chuyển, sắp xếp lại hoặc thu hồi; chấm dứt việc cho thuê (công khai hoặc núp dưới các hình thức khác) trụ sở, đất đai…

Thứ tư, nội dung dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phải được xem xét, đối chiếu nhằm bảo đảm tính đồng bộ về nội dung với các luật khác có liên quan đã hoặc sẽ được sớm thông qua như: Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Luật Chống tham nhũng, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Công vụ. Việc triển khai thi hành các luật này cũng phải luôn bảo đảm tính đồng bộ.

Tài sản nhà nước là một bộ phận quan trọng của tài nguyên quốc gia, đóng vai trò quan trọng việc phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng nên cần phải bảo đảm sự quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả, đúng mục đích và tiết kiệm. Việc Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước lần này mặc dù có thể sẽ không dễ dàng do đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của một bộ phận không nhỏ các cơ quan, tổ chức và cá nhân đang được hưởng lợi từ tài sản nhà nước, nhưng rất được sự quan tâm và ủng hộ của nhân dân./.

Chú thích:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2006, tr. 247.

[2] Xem: Tờ trình số 74/TTr-CP ngày 05/10/2007 của Chính phủ về Dự án luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

[3]Xem: Tờ trình số 74/TTr-CP ngày 05 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về Dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

[4] Đinh Dũng Sĩ, Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành về tài sản nhà nước và việc xây dựng Dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10, tháng 10/2007.

[5] Tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XII tiến hành vào cuối năm 2007 vừa qua, Dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được trình lần đầu ra Quốc hội để Quốc hội xem xét, cho ý kiến và dự kiến sẽ được trình ra Kỳ họp thứ 3 để Quốc hội xem xét thông qua.

[6] Xem: Tờ trình số 74/TTr-CP ngày 05/10/2007 của Chính phủ về Dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

[7] Bộ Tài chính: Báo cáo tổng kết công tác quản lý tài sản công 10 năm (1995-2005), Hà Nội, năm 2005.
[8] Bộ Tài chính: Báo cáo tổng kết công tác quản lý tài sản công 10 năm (1995-2005); Hà Nội, năm 2005.
[9]Bộ Tài chính: Báo cáo tổng kết công tác quản lý tài sản công  10 năm (1995-2005) ,  Hà Nội,  năm 2005.

[10] Bộ Tài chính: Báo cáo thực trạng và biện pháp đổi mới quản lý tài sản nhà nước phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hà Nội,  năm 2007.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 123 – THÁNG 5 NĂM 2008

Trích dẫn lại từ:

http://www.nclp.org.vn/nghien-cuu-lap-phap/123-thang-5-2008/ban-ve-du-an-luat/quan-ly-su-dung-tai-san-nha-nuoc-mot-so-han-che-va-giai-phap-khac-phuc

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 655 other followers

%d bloggers like this: