PHÁP CHẾ VÀ PHÁT TRIỂN: VÀI NHẬN XÉT TỪ KINH TẾ LÝ THUYẾT

GS. TRẦN HỮU DŨNG [1]

Hầu như không ai phủ nhận sự quan trọng của pháp chế cho phát triển kinh tế.  Thậm chí, có người sẽ đổ đồng phát triển với pháp trị: một trong những đặc tính của phát triển pháp trị, ngắn gọn. Từ đó, có suy luận rằng pháp luật, nhất là bộ phận luật thành văn, là một tiền đề của phát triển kinh tế, nghĩa là, muốn phát triển thì phải có những bộ luật càng chi tiết, càng đầy đủ càng tốt, phải có một bộ máy tư pháp càng hùng hậu, càng nghiêm khắc càng tốt.

Bài này giới thiệu vài nhận xét từ quan điểm kinh tế về khả năng bảo lưu những ý kiến trên đây.  Bắt đầu từ một nhận xét đơn giản:  công tác soạn luật, cũng như vận hành bộ máy thi hành luật (công an, toà án, khám đường) là những hoạt động cần tài nguyên (luật gia, công an, cai ngục) có thể được sử dụng vào việc hữu ích khác cho quốc gia.  Nói rõ hơn, thông thường, thấy một điều gì mà ta không muốn xảy ra thì phản ứng của đa số là phải ra luật cấm (và triệt để thi hành luật ấy).  Song, nhìn từ góc cạnh kinh tế thì phải hỏi: tài nguyên dùng vào những việc đó sẽ lấy từ đâu, có tương xứng với những thiệt hại (kinh tế lẫn phi kinh tế) của “tội phạm” ấy không.  Tuy những tính toán “lợi hại” như vậy có thể bị phê phán là vô tâm, thực tế không thể khác hơn.[2]

Một nhận xét nữa: luật thành văn, dù chi tiết đến bực nào, không bao giờ là đầy đủ vì không ai có thể nghĩ đến mọi tình huống (ngay trong hiện tại, nói chi đến xã hội tương lai) có thể xảy ra.  Bù lại, pháp chế không phải là cách duy nhất để giữ gìn “kĩ cương” cho xã hội – phong tục, tập quán, tôn giáo, chuẩn mực văn hoá ứng xử, cũng đóng một vai trò thiết yếu.  Do đó, dồn “quá đáng” nguồn lực vào thiết lập bộ luật thành văn chẳng những có thể sẽ vượt mức tối hảo của nó mà còn có thể khiến bỏ quên những phương pháp khác, ít tốn kém hơn, mà tựu trung là cùng một kết quả.

Bài này lấy hứng từ vài phát hiện gần đây của một số tiếp cận mới trong kinh tế, một số lí thuyết mới, và một số kết quả thực nghiệm mới.  Chỗ yếu của nó, xin thú nhận ngay, sẽ là thiếu một sự liên hợp.  Người viết không có tham vọng đưa ra một cái nhìn toàn cảnh, hoặc có hệ thống, về tất cả liên hệ giữa pháp chế và phát triển (một vấn đề quá to lớn).  Tuy nhiên, ở phần cuối, bài cũng thử đề xuất một ý niệm xuyên suốt cho những vấn đề bàn ở đây. 

Bài có 5 tiết.  Tiết I tường thuật ý kiến của Hernando De Soto về cái “kì bí” (mystery) là “vốn” có thể đuợc thực hiện bằng pháp chế. Tiết II nói về một đặc tính của mọi khế ước thành văn, đó là sự “không bao giờ đầy đủ”. Tiết III tường thuật những phát giác quan trọng gần đây về tương quan giữa hệ thống luật (dân sự hoặc phổ thông) và phát triển kinh tế.  Tiết IV xem xét vai trò của “tin cẩn” đối với phát triển, và sự bổ túc lẫn nhau  giữa tin cẩn và các luật thành văn. Tiết V đưa ra vài kết luận, nhất là quan hệ đến Việt Nam.

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH - Khoa Lut Dân s – Trường Đ.H Lut Hà ni

Cùng với tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ, các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ cũng xảy ra ngày càng nhiều hơn. Tranh chấp sở hữu trí tuệ là một loại tranh chấp dân sự hoặc tranh chấp thương mại cụ thể, bởi vậy việc giải quyết loại tranh chấp này dựa trên cơ sở nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định chung trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đây là loại tranh chấp đặc thù xuất phát từ tính chất vô hình của các đối tượng sở hữu trí tuệ; hơn nữa đây lại là loại tranh chấp còn tương đối mới mẻ. Thực tế cũng chỉ ra rằng, việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ gặp rất nhiều khó khăn. Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết loại tranh chấp này, cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện cũng là nguyên nhân cơ bản.

Bài viết này đề cập đến những vấn đề pháp lý cơ bản, quan trọng trong qúa trình giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tụê theo thủ tục tố tụng dân sự, tuy nhiên lại chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ, chưa đầy đủ trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và các văn bản pháp luật liên quan.

1. Thm quyn gii quyết tranh chp v quyn s hu trí tu

Trong ba loại biện pháp được áp dụng để giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, ranh giới giữa biện pháp hình sự và hai biện pháp còn lại là biện pháp dân sự và biện pháp hành chính tương đối rõ ràng.[1] Thông thường, hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp bị xử lý hình sự nếu trước đó đã bị xử lý hành chính. Trong khi đó, ranh giới giữa biện pháp dân sự và biện pháp hành chính lại chưa thật sự rõ ràng, đặc biệt vấn đề những tranh chấp nào được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự và những tranh chấp nào được giải quyết bằng “con đường” hành chính. Hệ quả là, nhiều tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ lẽ ra phải được giải quyết theo thủ tụng tố tụng dân sự nhưng lại giải quyết theo thủ tục hành chính. Theo thống kê, trong những năm qua, hầu hết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ được giải quyết bằng biện pháp hành chính. Không ít người lo ngại rằng, việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ đang bị hành chính hoá. Quy định không rõ ràng về thẩm quyền dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan, các cơ quan đôi khi thực hiện công việc không thuộc thẩm quyền của mình, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989 lần đầu tiên quy định cho Toà án thẩm quyền xét xử các tranh chấp về quyền trí tuệ mà cụ thể là quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 29. Theo quy định của Pháp lệnh, thẩm quyền xét xử các tranh chấp sở hữu công nghiệp của Toà án rt hp. Cụ thể, Toà án chỉ có thẩm quyền xét xử bốn loại tranh chấp và vi phạm sau: hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ; tranh chấp liên quan đến việc tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải trả khoản tiền cho chủ văn bằng bảo hộ trong trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hưũ công nghiệp; tranh chấp liên quan đến việc cấp văn bằng bảo hộ cho tổ chức, cá nhân không có quyền nộp đơn; tranh chấp liên quan đến việc trả thù lao cho tác giả và người thừa kế của tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp[2].

(more…)

XỬ PHẠT VÌ HIỂU NHẦM LUẬT: TAI NẠN NGHỀ NGHIỆP HAY KHUYẾT TẬT CỦA CƠ CHẾ

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Hiểu nhầm luật nghĩa là trong điều kiện luật được diễn đạt rất rõ ràng và có thể được tất cả người bình thường hiểu theo cùng một cách, có một người nào đó, cũng bình thường, lại hiểu theo cách trái ngược

Tất nhiên, nếu dựa vào sự hiểu nhầm luật mà ứng xử, thì đó có nghĩa là làm trái luật, làm bậy. Chẳng hạn luật nói rằng xe mô tô phải chạy tối thiểu 60km/h, nhưng cảnh sát giao thông ở Bắc Ninh đọc luật lại nhầm tưởng rằng xe chỉ được phép chạy đến 60km/h là tối đa. Thế là công lực cứ thấy ai lái xe mô tô chạy xe trên 60km/h thì gọi đến phạt.

Trong xã hội được tổ chức tốt, tìm hiểu luật là một trong những quyền cơ bản, đồng thời là một trong những nghĩa vụ cơ bản của chủ thể. Nghĩa vụ, bởi không ai được phép, khi có hành vi phạm pháp, nói rằng mình đã làm sai luật chỉ vì không biết; quyền, được hiểu là mỗi chủ thể được tự do tiếp xúc, phân tích luật và hành động theo cách hiểu luật của riêng mình.

Do mỗi người đều có quyền tự mình tìm hiểu luật mà một khi có một người nào đó hiểu nhầm luật, thì xã hội thường sẽ nhận biết nhanh chóng. Đơn giản, trong điều kiện mọi người ứng xử giống nhau một cách có ý thức trong cùng một tình huống, thì việc một người làm khác đi tự nhiên trở thành một hiện tượng kỳ quặc.

Đặc biệt, người chịu sự tác động trực tiếp của hành vi ứng xử khác thường không chỉ nhận biết sự hiểu nhầm luật, mà sẽ phản ứng chống lại. Phản ứng này có nguồn gốc không chỉ từ bản năng sống, mà còn từ việc thực hiện quyền tự vệ chính đáng của chủ thể. Người bị phạt do nhân viên công lực hiểu nhầm luật sẽ từ chối nộp phạt, rồi chỉ ra sự vô lý trong quyết định của người phạt. Nhờ bị phản ứng, người ứng xử không đúng mực do hiểu nhẩm luật có điều kiện nhận ra sai lầm của mình và, nếu biết tự trọng, thì sẽ từ bỏ cách xử sự đó.

Trong xã hội thụ động, luật được hiểu qua lăng kính của nhà chức trách công. Thông qua các kênh thông tin được quản lý chặt chẽ, nhà chức trách giới thiệu nội dung, giải thích và hướng dẫn cách thực thi pháp luật cho toàn xã hội. Mọi chủ thể đều phải dựa vào sự giải thích, hướng dẫn ấy khi ứng xử trong giao tiếp pháp lý.

(more…)

TUYÊN NGÔN TOÀN THẾ GIỚI VỀ NHÂN QUYỀN NĂM 1948 CỦA LIÊN HỢP QUỐC

Lời nói đầu

Với nhận thức rằng:

Việc thừa nhận nhân phẩm vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hoà bình trên thế giới. Sự xâm phạm và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những hành động tàn bạo xâm phạm tới lương tâm của nhân loại, và việc xây dựng một thế giới trong đó con người được tự do ngôn luận và tín ngưỡng, không còn phải chịu nỗi sợ hãi và cùng cực được coi là nguyện vọng cao cả nhất của loài người. Nhân quyền phải được pháp luật bảo vệ để mỗi người không buộc phải nổi loạn như là biện pháp cuối cùng để chống lại chế độ cường quyền và áp bức. Cần phải khuyến khích việc phát triển quan hệ bằng hữu giữa các dân tộc. Nhân dân các nước thành viên Liên Hợp Quốc trong bản Hiến chương đã một lần nữa khẳng định niềm tin của mình vào những quyền cơ bản của con người, vào nhân phẩm, vào giá trị của mỗi người, vào quyền bình đẳng nam nữ, và đã bà̀y tỏ quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như xây dựng các điều kiện sống tốt hơn, tự do hơn. Các nước thành viên đã cam kết, cùng với tổ chức Liên Hợp Quốc, phấn đấu thúc đẩy mọi người tôn trọng và thực hiện các quyền cũng như những tự do cơ bản của con người. Nhận thức thống nhất về những quyền và tự do đó của con người là yếu tố quan trọng nhất cho việc thực hiện đầy đủ cam kết này.

Nay, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố:

Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội, trên cơ sở luôn ghi nhớ Bản tuyên ngôn này, sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục, cũng như sẽ phấn đấu đảm bảo cho mọi người dân, ở chính các nước thành viên của Liên Hợp Quốc và ở các lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình, công nhận và thực hiện những quyền và tự do đó một cách có hiệu quả thông qua những biện pháp tích cực, trong phạm vi quốc gia hay quốc tế.

Điều 1:
Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu.

Điều 2:
Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do nêu trong Bản tuyên ngôn này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội.

Ngoài ra, cũng không có bất cứ sự phân biệt nào về địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, được đặt dưới chế độ ủy trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế.

(more…)

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN CHO PHẢN BIỆN XàHỘI

LÊ MINH TIẾN

Vài năm gần đây, vấn đề phản biện xã hội đã được nêu lên khá nhiều trong các cuộc thảo chính thức hoặc không chính thức trong giới trí thức Việt Nam. Đa số đều cho rằng hoạt động này là cần thiết và cần được tạo điều kiện để phát triển, tuy nhiên câu hỏi vì sao hoạt động phản biện xã hội tại Việt Nam còn yếu… vẫn chưa được trả lời một cách thấu đáo. Bài viết này là một cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên.

1. Phản biện xã hội yếu vì thiếu văn hóa tranh luận

Theo chúng tôi vấn đề mấu chốt của phản biện xã hội không hệ tại ở việc có hay không có những hành lang pháp lý cho vấn đề này, mà vấn đề cơ bản hơn đó là vì trong xã hội chưa hình thành được một nền văn hóa tranh luận, tức là xã hội hiện nay chưa tạo ra được những cá nhân – tức các thành viên cơ bản của xã hội – những nền tảng cần thiết để thực hiện các cuộc tranh luận, cũng như chưa có một cấu trúc xã hội tạo cơ hội cho sự tranh luận và phản biện được diễn ra.

Trước hết chúng ta hãy cùng nhìn vào thiết chế gia đình. Xét về mặt xã hội học, gia đình là thiết chế quan trọng đầu tiên trong quá trình xã hội hóa (socialization) cá nhân hiểu theo nghĩa xã hội học của khái niệm này. Theo nghĩa xã hội học thì xã hội hóa là quá trình cá nhân được đào luyện để có thể sống và trở thành một thành viên hợp chuẩn trong xã hội, đứa "trẻ sói" là đứa trẻ không thể sống được trong xã hội loài người vì nó không được trải qua quá trình học làm con người để sống trong xã hội loài người. Cũng vì vậy mà văn hóa tranh luận của mỗi cá nhân trước hết cũng phải được đào luyện, được học từ trong bối cảnh gia đình, thế nhưng kiểu giáo dục con cái của đa số gia đình Việt Nam hiện nay lại gần như không trang bị cho cá nhân những phẩm chất cần thiết cho nền văn hóa này. Thật vậy trong bối cảnh gia đình Việt Nam hiện nay, mối quan hệ giữa cha mẹ-con cái là mối quan hệ giữa kẻ "thống trị" (dominant), tức cha mẹ và kẻ "bị trị" (dominé), tức con cái chứ không phải mối quan hệ giữa những chủ thể (actors) có sự độc lập và tự chủ cá nhân. Chính vì là mối quan hệ thống trị-bị trị nên cha mẹ thường chỉ giáo dục cho con cái những phẩm chất của kẻ tiếp nhận mệnh lệnh, kẻ chỉ biết vâng lời và thực hiện chứ hoàn toàn không phải là người có chủ kiến riêng nên họ cũng không bao giờ hé lộ những khả năng cho sự đối thoại hay sự tranh luận của con cái.

Rời gia đình, đứa trẻ gia nhập vào trong môi trường học đường và nơi đây đứa trẻ lại tiếp tục phải sống trong thân phận của kẻ bị trị, và người thống trị ở môi trường này chính là những thầy cô giáo của các em. Thật vậy trong nhiều năm qua, trường học gần như chỉ là nơi truyền thụ kiến thức một chiều mà trong đó thầy cô là những người nắm giữ chân lý và ban phát chân lý trong khi học sinh chỉ là kẻ tiếp nhận thụ động. Trường học Việt Nam gần như không trang bị bất cứ kỹ năng tranh luận nào cho người học cả, đồng thời cũng không mở ra các cơ hội tranh luận cho người học vì sách giáo khoa được xem là "pháp lệnh", mà đã là pháp lệnh thì không còn gì để tranh luận nữa mà chỉ cần học thuộc mà thôi. Mặc dù chúng ta đã nói tới lối giáo dục "lấy người học làm trung tâm" nhưng gần như đó chỉ là lý thuyết còn trên thực tế thì người thầy vẫn là trung tâm nên sự tranh luận giữa thầy và trò gần như là không hiện diện.

(more…)

MỘT SỐ Ý KIẾN TRAO ĐỔI VỀ PHÁP LUẬT QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

NGUYỄN THỊ MINH NHÀN

Theo đánh giá của Bộ LĐTB&XH, kể từ khi Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành, đến hết tháng 9/2008 cả nước đã xảy ra 2.636 cuộc đình công, trong tất cả các cuộc đình công xảy ra không có một cuộc đình công nào là hợp pháp và thực hiện theo trình tự thủ tục quy định về giải quyết tranh chấp lao động (TCLĐ) theo đúng luật. Phải chăng các quy định của pháp luật QHLĐ thiếu đồng bộ và ổn định là nguyên nhân của con số đáng quan ngại trên.

Sự khác biệt giữa pháp luật Lao động (PLLĐ) và pháp luật quan hệ lao động (QHLĐ)

Đối với PLLĐ, đây là hệ thống những quy định về tất cả các nội dung liên quan tới lĩnh vực lao động. Các quy định trong Luật Lao động trở thành tiêu chuẩn lao động quốc gia. PLLĐ là công cụ áp đặt ý muốn chủ quan của Nhà nước về một vấn đề lao động nào đó. Những tiêu chuẩn được quy định gắn với những vấn đề cụ thể như: thời gian làm việc; tỷ lệ đóng bảo hiểm; tiền lương, tiền lương làm thêm giờ; an toàn vệ sinh lao động; lao động đặc thù;… gắn với quy định mức tối thiểu (theo nghĩa ít nhất đối với những điều có lợi cho NLĐ và cao nhất đối những điều bất lợi cho NLĐ gắn với quyền lợi). Bên cạnh đó, PLLĐ cũng quy định trình tự thủ tục liên quan đến một số khía cạnh của QHLĐ như: quá trình giao kết hợp đồng lao động (HĐLĐ); quá trình thương lượng tập thể; quá trình giải quyết TCLĐ và đình công. PLLĐ có tác động điều tiết QHLĐ, song mức độ ảnh hưởng của nó chỉ mang tính “tạo khung”. Luật Lao động đưa những tiêu chuẩn lao động ở mức tối thiểu mà NSDLĐ không được vi phạm, như các mức bồi thường tai nạn lao động, an toàn vệ sinh lao động, tuổi lao động, tiền lương tối thiểu…

Còn đối với pháp luật về QHLĐ, đây là hệ thống những quy định được xây dựng nhằm điều chỉnh toàn bộ quá trình tương tác giữa hai chủ thể trong QHLĐ; bảo vệ việc hình thành, trong quá trình hoạt động và cả giai đoạn hậu tương tác một cách bình đẳng giữa các chủ thể.

Như vậy có thể thấy pháp luật về QHLĐ là một phần của PLLĐ. Pháp luật về QHLĐ điều chỉnh qúa trình tương tác giữa ba chủ thể tham gia QHLĐ, không điều chỉnh những vấn đề cụ thể.

Thực trạng pháp luật QHLĐ Việt Nam

Về mặt hình thức

Pháp luật hiện hành về QHLĐ cơ bản nhất ở nước ta hiện nay là Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã trải qua thời gian 14 năm và đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần. Kết quả sau ba lần sửa đổi bổ sung BLLĐ gồm có 198 điều luật được cấu tạo trong 17 chương với mục đích bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của NLĐ, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ, tạo điều kiện cho mối QHLĐ được hài hòa và ổn định,… về cơ bản đã phúc đáp nhu cầu thị trường, tôn trọng các bên tuy nhiên, đến nay tính chất “luật khung” vẫn còn nặng.

(more…)

NÊN LẬP TÒA HIẾN PHÁP?

NGUYỄN TIẾN TÀI

Theo các chuyên gia, tòa án này sẽ hoạt động độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp nhằm bảo vệ những quyền hiến định. “Ngành giáo dục từng cấm sinh viên ta tại Liên Xô (cũ) lấy vợ, lấy chồng. Đây là một quy định trái Hiến pháp, nếu có tài phán hiến pháp thì chắc chắn nó đã bị coi là vi hiến và phải bãi bỏ” – PGS-TS Đinh Văn Mậu (Phó Giám đốc Học viện Hành chính quốc gia) dẫn chứng trong cuộc hội thảo do Viện Nhà nước và pháp luật tổ chức mới đây khi nói về sự cần thiết phải có một cơ quan tài phán nhằm bảo vệ những quyền hiến định.

Còn những quyền chưa đi vào đời sống?

Tại cuộc hội thảo, các đại biểu đều nhất trí rằng Hiến pháp hiện hành của nước ta là một hiến pháp tiến bộ, trong đó đã ghi nhận được những quyền, nghĩa vụ thiêng liêng của công dân.

Tuy nhiên, theo PGS-TS Trương Đắc Linh (Đại học Luật TP.HCM), suốt một thời gian dài và cho đến nay vẫn còn một số quy định của Hiến pháp chưa đi vào cuộc sống. Chẳng hạn Điều 23 Hiến pháp 1992 quy định thể thức trưng mua, trưng dụng tài sản do luật định. Nhưng từ đó đến nay, việc giải tỏa đền bù tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức lại theo thể thức do nghị định của Chính phủ và quyết định của UBND cấp tỉnh quy định. Mãi đến ngày 3-6-2008, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản mới được Quốc hội thông qua và chỉ có hiệu lực từ 1-1-2009.

Do thiếu hành lang pháp lý cụ thể nên không ít quyền hiến định đã không được bảo đảm thực thi hoặc thực thi một cách rất hạn chế. Chẳng hạn quyền được thông tin. Có vô số thông tin lẽ ra cần phải được công khai hoặc cung cấp khi yêu cầu nhưng người dân lại không được tạo điều kiện hoặc không được tiếp cận với nhiều lý do. Phải sau 17 năm Hiến pháp ghi nhận về quyền được thông tin, gần đây dự án Luật Tiếp cận thông tin mới bắt đầu được nghiên cứu, thực hiện.

Ngoài ra, theo PGS-TS Thái Vĩnh Thắng (Đại học Luật Hà Nội), một loạt quyền hiến định khác như quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, quyền tự do lập hội… cũng chưa được cụ thể hóa để đi vào đời sống. Cạnh đó, có không ít quyền hiến định còn bị “cắt xén” bởi những văn bản pháp luật vi hiến. Một ví dụ điển hình được PGS-TS Trương Đắc Linh chỉ ra là Thông tư 02 ngày 13-1-2003 của Bộ Công an quy định mỗi người chỉ được đăng ký một xe máy. Theo ông Linh, quy định này rõ ràng trái với Điều 58 Hiến pháp 1992: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất…”. Phải hai năm sau, khi người dân kêu ca, phàn nàn và báo chí lên tiếng, Bộ Công an mới tự hủy bỏ quy định vi hiến này.

(more…)

NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP: MỘT THỊ TRƯỜNG CẦN THIẾT VÀ ĐẦY TIỀM NĂNG

THS. PHÍ THỊ THU HƯƠNG

1. Chênh lệch cung – cầu về nhà ở cho người có thu nhập thấp không ngừng gia tăng

Thành phố Hà Nội (cũ) rộng 920,97 km2, dân số tính đến đầu năm 2008 khoảng 3,5 triệu người, trong đó số đăng ký hộ khẩu thường trú chiếm 90%, còn lại là diện KT3, KT4. Những năm gần đây dân số Hà Nội tăng tự nhiên là 1,37% và tăng cơ học là 1,63%/năm. Theo số liệu của Sở Địa chính – Nhà đất Hà Nội thì vào đầu năm 2002 tổng quỹ nhà ở toàn Thành phố chỉ có 348.743 căn nhà(trong đó 153.000 căn thuộc sở hữu nhà nước và 195.743 căn thuộc sở hữu tư nhân), tức chỉ bằng non một nửa số nhà cần thiết để đáp ứng nhu cầu mỗi hộ gia đình được sống riêng trong 1 căn nhà. Nói cách khác, hiện tại ở Hà Nội, mỗi căn nhà dù thuộc sở hữu nhà nước hay tư nhân thì trung bình cũng có hơn 2 hộ gia đình đang sinh sống. Theo số liệu của Sở Quy hoạch – kiến trúc Thành phố Hà Nội, hiện nay bình quân nhà ở theo đầu người chỉ đạt khoảng 7m2/người, trong đó có tới 30% dân số nội thành ở dưới 4m2/người; về chất lượng nhà ở tới 60% xuống cấp cần cải tạo nâng cấp cả ngôi nhà và tiện nghi…

Hà Nội hiện đang thiếu nhà ở nghiêm trọng, nhất là nhà cho người có thu nhập trung bình và thấp, và trước mắt cần ít nhất tới 7 triệu m2 nhà ở, tương đương 120.000 căn hộ cho các đối tượng có nhu cầu bức xúc về nhà ở trên địa bàn. Theo báo cáo của Sở Tài nguyên môi trường và nhà đất, thì chỉ riêng năm 2006 – 2007, Thành phố cần khoảng 7.700 căn hộ quỹ nhà tái định cư phục vụ các dự án lớn của Thành phố, song Thành phố mới chỉ lo được khoảng 5.000 căn. Thậm chí, đến năm 2010, 80 dự án xây dựng nhà tái định cư của Thành phố dù được hoàn thành với tổng số 29.400 căn hộ, thì Thành phố vẫn thiếu tới 13.000 căn hộ. Theo điều tra của tổ chức JICA (Nhật Bản), thì nhu cầu nhà ở cho thuê, thuê mua của các đối tượng là cán bộ, công chức, công nhân… vào khoảng 18.000 căn hộ, trong đó nhà ở cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn, bức xúc cần cải thiện điều kiện chỗ ở chiếm 30%.

Theo Cục Thống kê Hà Nội, hiện tại, ở Hà Nội có đến 70% hộ gia đình (số tuyệt đối là 560.000 hộ) có thu nhập dưới mức trung bình 825.000 đồng/ người/tháng – tức xấp xỉ 10 triệu đồng/người/năm. Còn nếu xét theo mức chuẩn nghèo mà UBND Thành phố Hà Nội ban hành năm 2005 để áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 là 350.000đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị và 270.000đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn, thì năm 2004 Hà Nội có tới 10,6% dân số có thu nhập dưới mức nghèo này (trong đó thành thị là 4,3% và nông thôn là 25,3% – tỷ lệ dân số nông thôn/thành thị của Hà Nội năm 2003 là 7/8).

Về tổng quát, có thể khẳng định, các hộ gia đình có thu nhập thấp đang chiếm đa số trong dân cư Thành phố, ít nhất 70% số hộ gia đình ở Hà Nội (trong đó khoảng 50% số hộ công nhân viên chức Thành phố) không có khả năng tích lũy từ thu nhập tiền lương của mình để mua nhà, xây nhà mới cho mình nếu không có sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài. Về con số tuyệt đối, theo ước tính của Sở Tài nguyên – Môi trường – Nhà Đất Hà Nội thì có tới 10.000 hộ gia đình ở Hà Nội đang thực sự bức xúc về nhà ở và Thành phố cũng chỉ mới có giải pháp cho khoảng 30% số này. Nói cách khác, một lượng tổng cầu khổng lồ trên thị trường tài chính nhà ở cho người có thu nhập thấp đã, đang và sẽ vẫn tiếp tục hiện hữu và mở rộng trên địa bàn Thủ đô Hà Nội. Cùng với sự gia tăng dân số và tách hộ do lấy vợ, lấy chồng, cũng như do nhu cầu nhà cho giải phóng mặt bằng triển khai các dự án đô thị hóa và phát triển kinh tế, và do sự xuống cấp của Quỹ nhà hiện có (nhất là nhà do nhà nước sở hữu, nhà chung cư) v.v thì nhu cầu về nhà ở sẽ càng trở nên gay gắt hơn cho những người dân Thủ đô.

(more…)

QUYỀN CON NGƯỜI – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC

TS. HOÀNG CÔNG

Cho đến nay, chúng ta phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học "kinh điển" nào về quyền con người. Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ, Rútxô… và sau này Mác, Engen, Lênin cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác.

Chúng ta thường chỉ thấy các định nghĩa kiểu như "quyền cái người là quyền…". Chẳng hạn, Lốccơ nói : "quyền tự nhiên của con người là quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu. Hiến pháp 1791 của Pháp viết : quyền con người – đó là " quyền tự do, sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức". Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ 1776 viết: quyền con người – đó là "các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Cho đến nay, từ Đông sang Tây đã có rất nhiều định nghĩa về quyền con người. Có những định nghĩa liệt kê quyền con người bao gồm những quyền a, b, c… nào đó. Có những định nghĩa rất khái quát, chẳng hạn, học giả Trung Quốc Đồng Vân Hồ quan niệm: "có thể nói gọn lại, nhân quyền là quyền tồn tại, phát triển một cách tự do, bình đắng" (1).

Nhìn lại quá khứ và hiện tại, các quan điểm về quyền con người thưởng đi theo những khuynh hướng sau:

* Khuynh hướng “quyền tự nhiên”:

Những tư tưởng về quyền "tự nhiên", "trời phú” cho con người ngay từ khi con người xuất hiện đã có từ thời cổ đại. Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479-381 trước Công nguyên) đã cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là "ý trời". Theo đó, mỗi người đều có quyền tham gia công việc nhả nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của họ, chứ không phải do dòng dõi quyết định. Cũng như vậy, mỗi người đều có các quyền giống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội. Ở Hy lạp cổ đại, các nhà triết học nguỵ biện như Ăngtiphôn, Ankiđan cũng có những tư tưởng tương tự. Ở châu Âu, kể từ thời Phục hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày càng trở nên phổ biến. Những đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà lan), I. Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn (Mỹ)… Những điều viết về quyền con người trong Hiến pháp 1791 của Pháp, Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ đều theo quan điểm quyền tự nhiên. Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng. Nó là tư tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng (xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến sau này). Vì thế, không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định.

Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách là sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên. Nhưng nhược điểm của nó là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: