KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ NGÀY 5 THÁNG 3 NĂM 2009 VỀ TIẾP TỤC THỰC HIỆN NGHỊ TRUNG ƯƠNG 2 KHÓA VIII, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẾN NĂM 2020

1. Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) được toàn Ðảng, toàn dân hoan nghênh và tích cực hưởng ứng, mau chóng đi vào cuộc sống. Sau 12 năm thực hiện, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng, về cơ bản đã thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX).

Giáo dục và đào tạo đã giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, chương trình và các chính sách giáo dục. Đã phát huy được những ảnh hưởng tích cực, hạn chế được tiêu cực của cơ chế thị trường, khuynh hướng thương mại hoá trong giáo dục. Công bằng xã hội trong giáo dục được cải thiện, đặc biệt đối với trẻ em gái, người dân tộc thiểu số và con em các gia đình nghèo, các đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội ngày càng được chú trọng. Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa tiếp tục phát triển. Các trường công lập đã giữ được vai trò nòng cốt trong phổ cập giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, các trường ngoài công lập phát triêể nhanh về số lượng. Việc phát triển giáo dục và đào tạo gắn với phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ có bước tiến bộ.

Hệ thống giáo dục quốc dân được hoàn thiện hơn với các cấp, bậc học, trình độ đào tạo, các loại hình và phương thức giáo dục. Quy mô giáo dục tăng nhanh, nhất là ở bậc đại học và đào tạo nghề. Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở rộng đến hầu hết các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc. Cả nước đã hoàn thành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000. Đến tháng 12-2008, đã có 43/63 tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, 46/63 tỉnh, thành phố hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở, một số nơi đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, giáo trình ở phổ thông, dạy nghề và đại học đang được tích cực thực hiện, góp phần làm cho chất lượng giáo dục trên một số mặt chuyển biến theo hướng tốt dần. Kiến thức và kỹ năng của học sinh, sinh viên có tiến bộ, tiếp cận với phương pháp học tập mới. Chất lượng đào tạo sau đại học, đại học, đào tạo nghề ở một số ngành đã được nâng lên.

Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh, đạt chỉ tiêu đề ra. Việc huy động nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục thông qua chủ trương xã hội hoá đạt hiệu quả khá. Các nguồn lực đầu tư cho giáo dục ngày càng được kiểm soát và tăng dần hiệu quả sử dụng.

Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giáo dục.

Có được những kết quả trên trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn là do sự nỗ lực không ngừng của toàn Ðảng, toàn dân ta, sự đóng góp to lớn của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

(more…)

BÀN LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ GIA CÔNG Ở VIỆT NAM

1. GÁNH NẶNG CỦA NỀN KINH TẾ GIA CÔNG

Ts. Vũ Quang Việt

Cần nhìn nhận lại thực chất của nền kinh tế tăng trưởng nhờ xuất khẩu của ta. Cái đạt được hiện nay có thể gọi là một nền kinh tế gia công, khác hẳn nền kinh tế công xưởng của Trung Quốc. Và cần phải thoát khỏi nó.

    Tăng trưởng tùy thuộc xuất khẩu

    Trong một bài viết ngày 8/2/2009, tôi cho rằng GDP Việt Nam năm 2009 chắc chỉ tăng 3-4%. Đấy là dựa trên dự đoán về xuất khẩu giảm 15%, sau khi theo dõi tỷ suất xuất khẩu giảm mạnh khoảng 25% cho toàn khu vực châu Á. Sau đó đầu tháng tư Tổng cục Thống kê công bố GDP quí I chỉ tăng 3,1%. Điều này phù hợp với cái nhìn của tôi.

    Thống kê xuất khẩu quí I, sau khi loại giá trị xuất khẩu vàng, cũng cho thấy xuất khẩu Việt Nam giảm 15%. Khi tính lại tương đối cẩn thận hơn trong bài viết mới đăng trên Kinh tế Sài Gòn, nếu xuất khẩu giảm 15% (tính theo giá cố định) cả năm, thì GDP Việt Nam khó tăng hơn 3-4%.

    Nhóm kinh tế gia của Thời báo Economist cho rằng GDP không tăng năm 2009 vì họ dự đoán xuất khẩu giảm 30%. IMF dự báo GDP Việt Nam tăng 4,8% vì cho rằng xuất khẩu giảm 15% (tính theo giá hiện tại), tức là giảm ít hơn 15% tính theo giá cố định. Điều này nói lên rằng dự báo tăng trưởng tùy thuộc rất nhiều vào dự báo xuất khẩu.

    Do nền kinh tế quá phụ thuộc vào xuất khẩu, (xuất khẩu bằng 70% GDP), tệ hơn nó còn phụ thuộc vào nhập khẩu ở mức độ cao hơn, lên tới hơn 90% GDP, nên khả năng tăng xuất khẩu là yếu tố quyết định tốc độ tăng GDP.

    Điều đáng quan tâm không chỉ là tỷ lệ tăng GDP, thậm chí nó chưa phải là điều đáng lo bằng tỷ lệ nhập siêu ngày càng tăng “chóng mặt”. Đây chính là một trong những chỉ số nói lên rằng nền kinh tế ta hoàn toàn không bền vững. Tỷ lệ nhập siêu ở mức trên 5% đã là tỷ lệ báo động. Nhưng ở Việt Nam tỷ lệ này đã ở mức 25%.

Tỷ lệ nhập siêu so với GDP

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
-2% -2% -5% -8% -8% -5% -5% -13% -25%

    Chạy theo tăng trưởng

    Cái may là cuộc khủng hoảng năm 2008 do chính sách chạy theo chỉ số tăng GDP tạo ra và bây giờ là khủng hoảng kinh tế thế giới đã khiến chính phủ phải tạm đình lại chính sách chạy theo chỉ tiêu này.

    Đình lại để đánh giá một cách rốt ráo về chính sách trong quá khứ, để xem xét thấu đáo về chính sách cho tương lai có phải là điều đang được thực hiện không thì tôi không thể biết. Rõ ràng, ít nhất từ năm 2002 ta sống khá vì dòng vốn nước ngoài đổ vào. Càng quyết chạy theo chỉ tiêu tăng GDP cao càng đẩy nền kinh tế lún vào nhập siêu.

(more…)

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: KIỆN VÌ TRÒ CHƠI KHÔNG AN TOÀN

HOÀNG YẾN

Hai doanh nghiệp kéo nhau ra tòa, tranh cãi quyết liệt vì một trò chơi đã được lắp đặt xong nhưng không đảm bảo an toàn. .. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa tạm hoãn xử một vụ tranh chấp khá lạ xoay quanh công trình máng trượt trò chơi lắp đặt tại một công viên nước vì bên nguyên đơn vắng mặt.

Không ai chịu ai

Theo hồ sơ, cuối tháng 3-2003, Công ty N. (công ty) ký hợp đồng thiết kế, thi công và lắp đặt công trình máng trượt vòng xoáy không gian (space spiral) cho Công viên nước X. (công viên). Máng trượt có chiều dài 22 m (tính theo đường chim bay là 18 m), độ cao xuất phát 10 m, đường kính vòng xoay không gian 9 m… Tổng giá trị hợp đồng là 600 triệu đồng, thời gian thi công khoảng hai tháng, đến cuối tháng 5-2003 phải bàn giao công trình…

Đầu tháng 6-2003, hai bên thử nghiệm hệ thống trượt và nhận thấy chiều ngang hồ rơi từ máng trượt xuống nhỏ hơn so với yêu cầu thực tế. Do đó, công ty đưa ra hai phương án là mở rộng hồ hoặc dời máng trượt ra phía trước nhưng công viên không chấp thuận. Nửa tháng sau, công trình trò chơi vòng xoáy không gian đã hoàn thành nhưng công viên không chịu nghiệm thu, thanh toán khoản còn lại. Tới tháng 7-2004, công viên đã yêu cầu công ty thu hồi sản phẩm và trả lại 300 triệu đồng tiền tạm ứng.

Khởi kiện, bị phản tố

Công ty đã nhờ Trung tâm Kiểm định kỹ thuật an toàn khu vực III (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) giám định kỹ thuật an toàn của công trình máng trượt này và được kết luận là công trình đảm bảo an toàn. Tháng 9-2004, công ty khởi kiện công viên ra TAND TP.HCM để đòi hơn 560 triệu đồng (gồm cả tiền lãi, tiền bảo hành lẫn chi phí giám định).

Theo công ty, đây là loại sản phẩm có sẵn, do công viên đặt mua nên không chấp nhận việc trả lại của công viên. Công ty đã lắp đặt hoàn chỉnh và hai bên có thử tải. Quá trình thi công có nhật ký công trường, thậm chí chính công viên còn cử người của mình giám sát thi công…

Ngược lại, công viên trình bày với tòa rằng công ty đã vi phạm thời hạn hợp đồng và trò chơi không đủ an toàn để đưa vào sử dụng. Kết quả thẩm định kỹ thuật an toàn của trò chơi do công ty đưa ra chỉ là sự thẩm định an toàn của thiết kế chứ không phải thẩm định sự an toàn thực tế. Công ty đã không khảo sát kỹ lưỡng địa hình, không tính toán, không dự liệu được chiều rộng của mặt hồ nên trò chơi không đủ độ an toàn khi người chơi rơi từ phễu xuống. Công viên đã từng làm theo đề nghị của công ty là dùng mút dán xung quanh hồ nhưng vẫn không khắc phục được.

(more…)

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÂM PHẠM ANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN: BÉ TRAI NĂM TUỔI BỊ CÔ GIÁO BÊU XẤU

TÂM PHÚC

Không đồng ý với việc bé hờn dỗi bỏ cơm, các cô mẫu giáo lột quần áo, còn dọa “cắt tai, chặt chân” khiến bé bị sốc nặng. Sự việc đáng tiếc trên xảy ra ngày 20-2 tại lớp Lá 2 Trường mẫu giáo dân lập SOS Bến Tre. Nạn nhân là bé trai LGP chỉ mới năm tuổi.

Làm nhục trẻ bị khiếm khuyết

Tiếp xúc với phóng viên, bé P. nhớ lại: “Hôm đó, con không làm đổ đồ chơi nhưng cô chủ nhiệm vẫn bắt con dọn dẹp. Con không chịu dọn thì cô phạt con đứng khoanh tay bên cửa sổ… Sau đó, do con không ăn cơm nên các cô đã đánh con và lột quần áo của con cho các bạn xem!”.

Qua lời kể của bé P., có thể hình dung diễn biến câu chuyện như sau: Sau khi phạt P. xong thì cô chủ nhiệm quay sang chăm sóc các bé khác. Lúc đó, một cô bảo mẫu và hai cô giáo của lớp khác đã lôi bé P. xuống nhà bếp. Vì bé P. vùng vẫy nên áo bị tuột ra khỏi người. Thế là hai cô đã tiếp tục cởi quần bé, đẩy bé đi vào nhà ăn để cho các bạn… ngắm nhìn. Một cô nói: “Các bạn nhìn P. nè. P. không có quần áo mặc nè…”.

Chưa hết, một cô đã dùng tay xỉ vào mặt bé P. và tát hai cái vào mặt bé. Trong lúc cô chủ nhiệm đang mặc áo cho P. thì một cô bước đến xô bé một cái rồi nói: “Tự mặc quần áo đi. Không mặc là tôi chặt hai cái chân… Mai mốt đừng có bước chân vô trường này nữa nghen. Bước vô, cô chặt cái chân”. Một cô khác xỉ tay lên trán và đánh một cái vào đầu P. Cô này còn lấy dao bào đòi cắt lỗ tai P…

Mẹ bé P. cho biết bé có dấu hiệu bị khiếm khuyết bộ phận sinh dục. Suốt mấy ngày liền sau đó, tâm trạng của bé rất hoảng loạn. Đêm ngủ bé hay mớ, la khóc gọi ba mẹ… Bé không chịu đi học và rất ngại gặp gỡ mọi người. Không thể chấp nhận được cách hành xử phi sư phạm nêu trên, mẹ bé P. đã gửi đơn yêu cầu nhiều cơ quan chức năng xử lý kỷ luật các cô giáo đã bêu xấu và gợi đến nỗi đau của bé. Tuy nhiên, vụ việc cứ bị đẩy đưa, không được giải quyết thỏa đáng.

Sẽ xử lý dứt điểm

Phóng viên đã tìm gặp ngẫu nhiên một số bé học chung với bé P. để tìm hiểu thêm sự việc. Các bé đã vô tư xác nhận có việc các cô giáo làm nhục P…

Cũng có mặt trong buổi làm việc của phóng viên nhưng bà Nguyễn Thị Vân Anh, Hiệu trưởng Trường mẫu giáo dân lập SOS Bến Tre, vẫn tiếp tục cho rằng “không hề có chuyện trên, chẳng qua do các bé hiểu lầm…”. Bà Anh khẳng định: “Tôi tin là giáo viên của chúng tôi không làm chuyện đó. Chúng tôi không có gì phải thẹn lòng”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Công Bình, Giám đốc làng SOS Bến Tre thì sau khi làm việc với ông, bà Anh và một cô giáo đã thừa nhận sai phạm. Riêng cô bảo mẫu đã làm đơn xin nghỉ việc từ ngày 29-4.

(more…)

CÁC TỔ CHỨC BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở MỸ: HẠN CHẾ CẢ QUYỀN LỰC LẪN TÀI CHÍNH

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ - Các công ty kinh doanh tại Hoa Kỳ cần phải biết rằng Hoa Kỳ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng. Những luật này được áp dụng cho gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán trên thị trường này. Các nguồn luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các luật của liên bang và các bang. Hoa Kỳ theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law system – hay được dịch là hệ thống thông luật) nên các phán quyết của tòa án diễn giải các luật bảo vệ người tiêu dùng cũng trở thành luật.

Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm

Theo thông luật bảo vệ người tiêu dùng (Common Law Consumer Protection) hay còn gọi là Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm (Products Liability Law), cơ quan luật pháp Hoa Kỳ yêu cầu các nhà sản xuất, phân phối và bán lẻ phải có trách nhiệm đối với thương tật và thiệt hại do những khuyết tật của sản phẩm gây ra cho người sử dụng hoặc những người ở gần sản phẩm đó. Trách nhiệm sản phẩm thường dựa trên các nguyên tắc pháp lý về sự bất cẩn, vi phạm bảo hành hoặc trách nhiệm tuyệt đối.

Theo nguyên tắc “trách nhiệm tuyệt đối”, nhà sản xuất, phân phối hay bán lẻ có thể phải chịu trách nhiệm đối với những thương tật do khuyết tật của sản phẩm gây ra, bất kể đã áp dụng các biện pháp đề phòng. Nói chung, khi nói đến trách nhiệm sản phẩm, người ta phân thành 3 loại khuyết tật: khuyết tật sản xuất (khi sản phẩm sai lệch với thiết kế gốc mặc dù đã thực hiện tất cả những biện pháp cẩn trọng trong quá trình sản xuất và marketing); lỗi thiết kế (khi thiệt hại do sản phẩm gây ra có thể tránh hoặc được giảm nhẹ bằng một mẫu thiết kế hợp lý khác); và lỗi cảnh báo không đầy đủ (khi thiệt hại nhẽ ra có thể tránh hoặc giảm nhẹ bằng việc sử dụng những chỉ dẫn hay cảnh báo phù hợp). Mặc dù đây là những cách thông thường nhất để quyết định có hay không khuyết tật sản phẩm, song luật của các bang có thể khác nhau trong việc quyết định khuyết tật sản phẩm.

Bồi thường và nộp phạt gần 370 triệu USD

do lỗi thiết kế kỹ thuật

Một bồi thẩm đoàn ở hạt San Diego (Hoa Kỳ) ngày 3/6/2004 đã ra phán quyết buộc một hãng xe hơi Hoa Kỳ phải trả cho một phụ nữ bị tai nạn khi lái xe do hãng này sản xuất số tiền kỷ lục là gần 369 triệu USD, gồm 246 triệu tiền phạt và 122,6 triệu tiền bồi thường.

Theo luật sư của bên nguyên trong vụ kiện này, một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn thuộc về lỗi kỹ thuật thiết kế xe. Chiếc xe có trọng tâm cao, có khoảng cách giữa bánh xe trước và sau hẹp khiến người lái khó kiểm soát được tay lái trong những lúc quẹo cua gắt.

Vào tháng 1 năm 2002, trên xa lộ liên bang phía đông San Diego, chủ nhân chiếc xe bị tai nạn này đã tránh một chướng ngại vật trên đường và bị mất kiểm soát tay lái dẫn đến xe bị lật mấy vòng. Khi xe bị lật mui xe đã sụp xuống đè lên người nạn nhân làm bà ta bị liệt nửa người.

(more…)

HƯỚNG DẪN CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

I. Mục tiêu

Để thực hiện sự quan tâm đến quyền lợi người tiêu dùng trong tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển; ghi nhận rằng người tiêu dùng thường phải chịu sự bất cân xứng về mặt kinh tế, các cấp độ giáo dục và khả năng thương lượng trong mua bán; và ý thức được rằng người tiêu dùng có quyền được sử dụng các sản phẩm an toàn, cũng như cần phải khuyến khích sự phát triển kinh tế, xã hội một cách đúng đắn, công bằng và hợp lý, bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng này nhằm thực hiện những mục tiêu sau đây:

(a) Giúp các nước thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân của mình với tư cách là người tiêu dùng;

(b) Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức sản xuất và phân phối đáp ứng được những nhu cầu và nguyện vọng của người tiêu dùng;

(c) Khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho những người sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng;

(d) Giúp các nước hạn chế những thủ đoạn lạm dụng của các doanh nghiệp tầm cỡ quốc gia và quốc tế gây thiệt hại cho người tiêu dùng;

(e) Tạo thuận lợi cho sự phát triển các hội người tiêu dùng độc lập;

(f) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng;

(g) Khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn;

(h) Khuyến khích tiêu dùng bền vững.

II. Các nguyên tắc chung

Để thực hiện sự quan tâm đến những điều hướng dẫn sau đây, các chính phủ cần phát triển, củng cố hoặc giữ vững các chính sách mạnh mẽ về bảo vệ người tiêu dùng. Để thực hiện được điều đó, chính phủ mỗi nước phải giành ưu tiên cho việc bảo vệ người tiêu dùng, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của nước mình, với các nhu cầu của người dân và phải quan tâm đến hệ quả và lợi ích của các biện pháp đề ra.

Những nhu cầu pháp lý mà bản hướng dẫn nhằm hướng tới bao gồm:

a. Bảo vệ người tiêu dùng tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn;

b. Ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng;

c. Thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân;

d. Giáo dục người tiêu dùng, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của người tiêu dùng;

e. Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho người tiêu dùng;

f. Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức người tiêu dùng thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ.

g. Thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

(more…)

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008

I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH

Luật quốc tịch Việt Nam (sửa đổi) được Quốc hội khoá XII, Kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 (sau đây gọi là Luật quốc tịch Việt Nam), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009. Mặc dù Luật quốc tịch Việt Nam đã quy định tương đối cụ thể các vấn đề về quốc tịch Việt Nam, đặc biệt là các quy định về điều kiện, hồ sơ và trình tự, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch trên cơ sở tiếp thu các quy định của Nghị định số 104/1998/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1998 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật quốc tịch Việt Nam 1998 (sau đây gọi là Nghị định 104/1998/NĐ-CP) nhưng do Luật quốc tịch Việt Nam có một số quy định rất mới, khác với các đạo luật quốc tịch trước đây. Vì vậy, việc ban hành Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam là rất cần thiết, nhằm bảo đảm việc thi hành Luật chính xác, thống nhất và đồng bộ.

II. BỐ CỤC CỦA DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam gồm 31 điều, chia làm 5 chương, cụ thể như sau:

  Chương I- Những quy định chung (gồm 5 điều, từ Điều 1 đến Điều 4);

Chương II- Những quy định cụ thể (gồm 15 điều, từ Điều 6 đến Điều 20), chia làm 4 mục sau đây:

Mục 1- Nhập quốc tịch quốc tịch Việt Nam;

Mục 2- Trở lại quốc tịch Việt Nam;

Mục 3- Thôi quốc tịch Việt Nam;

Mục 4- Đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, thông báo có quốc tịch nước ngoài.

Chương III- Ghi vào Sổ hộ tịch các việc về quốc tịch (gồm 4 điều từ Điều 21 đến Điều 24);

Chương IV- Trách nhiệm của các cơ quan trong quản lý nhà nước về quốc tịch (gồm 5 điều, từ Điều 25 đến Điều 29);

Chương V- Điều khoản thi hành (gồm 2 điều: Điều 30 và Điều 31).

III. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH

1. Quy định chi tiết một số điều kiện được nhập nhập quốc tịch Việt Nam (Điều 6 Dự thảo Nghị định)

1.1. Về khả năng tiếng Việt của người nhập quốc tịch Việt Nam: Theo quy định tai điểm c khoản 1 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam thì một trong những điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam là đương sự phải “biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam”. Để làm rõ điều kiện này, khoản 1 Điều 6 Dự thảo Nghị định quy định: “Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam được đánh giá trên cơ sở khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt phù hợp với môi trường sống và làm việc của người đó”. Như vậy, điều kiện quan trọng để hòa nhập cộng đồng Việt Nam của người xin nhập quốc tịch Việt Nam là khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt của người đó. Mặt khác khả năng giao tiếp này được đánh giá tùy thuộc môi trường xã hội nơi người đó sống và làm việc.

(more…)

CÂU CHUYỆN CỦA ĐỜI TÔI!

remembranceNGUYỄN LÊ ĐÔNG 

Tôi đã viết "Quá nửa vòng đời", hòng để lại "dấu vết" cho các con cháu tôi biết những bí mật mà chỉ một tôi hay và giữ kín trong suốt 70 năm qua với 300 trang giấy. Cuốn hồi ký này chỉ lưu truyền trong gia đình và các con cháu, chỉ mong sau này các con cháu hiểu gốc gác của họ tộc ông bà, cuộc đời chìm nổi của ông bà mà hay rằng, ông cha mình đã sống, đã đấu tranh và tồn tại trong cuộc đời nhiều biến động này như thế nào…

Tôi sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc: Đa dạng nhưng kỷ cương, phong phú nhưng phức tạp.

Cụ nội tôi là một võ quan "Thủ ngự, nguyên đái mông hàm, trấn giữ Cửa Cờn – Quỳnh Lưu – xứ Nghệ được các triều vua nhà Nguyễn phong 11 đạo sắc. Về hưu được lưu giữ ấn ngà".

Ông nội tôi đỗ đầu 3 huyện: Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương, nên được thiên hạ gọi là cụ Đầu xứ. Ông chán cảnh quan trường không ra làm quan, chọn nghề "gõ đầu trẻ". Bố tôi là con trai thứ năm, nhưng thành đạt hơn cả: Từ lý trưởng lên chánh tổng (học thi đỗ tam tràng). Hội viên Hội đồng tỉnh Nghệ An, dân dã gọi là ông Hội. Nghỉ hưu được nhà nước Pháp tặng Huân chương "Bắc đẩu bội tinh" nhưng ông yểu mệnh mà chết "bất đắc kỳ tử". Ông ngoại tôi đậu tú tài nhưng không là ông Thông, ông Phán, mà vẫn theo gia truyền "bốc thuốc" để cứu người, đồng thời làm ông đồ tại gia.

Mẹ ruột tôi tham gia cách mạng khi mới 16 tuổi. Chồng trước của mẹ tôi là chiến sĩ cách mạng bị lưu đày Côn Đảo, vượt ngục và chìm giữa biển khơi. Sau khi con gái chết yểu lúc 8 tuổi và chồng bặt vô âm tín, thêm với "tội đồ" làm cộng sản, sợ liên lụy đến cha mẹ, anh, chị, em,… mẹ tôi tái giá với bố tôi để được bảo lãnh, khỏi bị Tây trả thù, thoái trào "Xô Viết Nghệ Tĩnh". Chuyện kể về "mẹ tôi thì đa đoan và ly kỳ lắm! Nhưng thôi! Nội dung và chủ đề là chuyện của tôi mà! Tôi là con út của gia đình. Bố tôi có ba vợ và 10 người con (8 trai, 2 gái) hiện còn sống 5 anh em trai, trên 70 tuổi (một liệt sỹ chống Pháp). Mẹ tôi là kế mẫu, tất nhiên là khác xa với cảnh vợ lẽ.

Tôi sinh năm Canh Thìn (1940); liên lụy nặng nề về thành phần giai cấp xuất thân trong giai đoạn đối trọng chuyên chính vô sản. Năm 1953, giảm tô, mẹ tôi bị quy lên thành phần phú nông với lý do "phát canh thu tô". Suốt đời, mẹ tôi chỉ duy nhất một nghề buôn bán với gánh hàng xén trên vai. Năm 1956 "Cải cách ruộng đất", mẹ tôi lên "địa chủ kháng chiến" ở giai đoạn cuối. Tuổi ngấp nghé "bẻ gãy sừng trâu" của tôi chìm đắm trong bế tắc; tôi thi đỗ đại học, nhưng không được tựu trường sau khi bị "thẩm tra lý lịch mật".

Một thanh niên cường tráng, có học, không được tung hoành, trong khi "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" làm cho tôi thối chí, chỉ muốn chết. Người yêu đầu đời rất đẹp, đã không chịu nổi những thử lửa của trường đời nghiệt ngã dành cho tôi mà đành gạt lệ đi lấy chồng. Nhiều lúc bí bách trước tương lai quá mà tôi chỉ muốn thả trôi cho số phận, cho bom đạn, muốn đến đâu thì đến. Vì vậy, máy bay Mỹ ném bom vô tội vạ xuống làng quê tôi mà tôi nhất quyết không chịu xuống hầm. Mẹ tôi biết vì bà, vì thành phần gia đình mà tôi bị liên lụy thiệt thòi, bà chỉ biết khóc những lúc như vậy. Có một lần, tôi suýt chết vì một quả bom sát thương lớn, nổ cách tôi 15 mét. Quả bom đã khiến cho kho thóc hợp tác xã và nhà tôi chỉ còn là đống gạch vụn. Vậy mà may mắn thay, số phận gan lỳ của tôi đã cứu tôi khỏi cái chết.

Tôi bị sức ép, thổ huyết mũi, mồm, hậu môn, rớm máu toàn thân. Sau ba tháng nằm viện cấp cứu, khi đã bình phục, tôi quyết định phải làm một cái gì đó để thay đổi số phận và cuộc đời. Ngay lúc này, tôi cũng không biết phải làm gì, đi đâu để có thể đổi thay được hoàn cảnh, số phận nhưng tôi vẫn phải "liều mạng". Tôi ngửa tay xin mẹ 100 đồng để ra đi.

Mẹ hỏi:

- Con định đi đâu?

- Con cũng chưa biết nữa, mà cứ đi đã!

Quý tôi, chiều tôi, thương tôi và quá hiểu con, mẹ tôi cởi "ruột tượng" rút tiền, đưa cho tôi và ôm chầm lấy tôi, bốn dòng nước mắt lã chã…

- Mẹ biết lần này, con "một đi không trở lại". Cầu trời, khấn Phật cho con được "Chân cứng đá mềm" rồi về với mẹ.

- Con xin đa tạ, cúi lạy mẹ tha thứ cho con…

Đó là một đêm mưa dầm, gió bấc, trời tối như mực, lạnh lùng tiết đông, cuối tháng 11 âm lịch, năm 1965.

Tôi đi bộ theo trục quốc lộ 7A về điểm KM số 0, ngã ba Diễn Châu. Có pháo sáng máy bay Mỹ rọi đường và tiếng bom nổ đó đây suốt đêm. Đi được 42km, mệt lả, tôi nghỉ ngay trong căn nhà lá ven đường, gần cầu Bùng. Bấy giờ vào khoảng 4h sáng. Đang trằn trọc: "Đi đâu? Về đâu?" bắc tay qua trán thao thức thì một tốp dân quân, khoác súng ập vào kiểm tra giấy tờ. Vì không có giấy "tùy thân" nên sau vài câu hỏi, họ buộc tôi phải trở về nơi xuất phát. Gần sáng, hai dân quân áp tải bảo tôi: "Cứ thế mà ven theo quốc lộ". Tôi "Vâng ạ!". Vừa khuất bóng họ, ngồi nghỉ chừng 10 phút, tôi quay lại 180o. Con đường mở dưới chân mình với hai ý tưởng: "Nhất anh hùng, nhì thằng cùng!" và "Nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực!".

Và tôi đã có một đêm định mệnh bên bờ sông Gianh!

Ôi con sông ranh giới của cái thời Trịnh – Nguyễn phân tranh! Lịch sử đau đáu của một đất nước? Và riêng tôi là một sự đổi đời? Cùng với bộ đội, thanh niên xung phong khi bị máy bay và tàu chiến ngoài biển của giặc oanh kích cấp tập, tôi bị thương nặng. Ở đây, có một chi tiết phải được minh bạch để Ban biên tập và bạn đọc khỏi đặt dấu hỏi và thắc mắc: "Làm sao và căn cứ vào đâu tôi được xác định là một người lính, phải đưa ngay ra Bắc để cứu thương, cứu mạng?".Thượng đế đã sắp đặt như một lập trình? Trong một đêm gặp gỡ trên đường kẻ vào, người ra, nơi tạm nghỉ chân, tôi làm quen với một người lính, anh ta khoác ba lô ra Bắc. Tôi hỏi:

- Tại sao lại ngược chiều trong khi đồng đội rầm rập đi vào?

- Tôi ấy à! Là độc đinh bốn đời. Bố tôi hy sinh ở Điện Biên Phủ. Là con một, được tạm cho hoãn binh, nhưng tôi đã chích máu viết đơn tình nguyện, xung phong Nam tiến sau khi vừa tốt nghiệp đại học. Nhà trường thể theo yêu cầu đã chấp nhận và gấp rút cho tôi nhập ngũ để đi B ngay. Không ngờ vào đến Quảng Trị có lệnh quay trở ra để đi học và đào tạo ở nước ngoài, cụ thể là Liên Xô, đành phải "tuân chỉ"!.

- À! Có thế chứ!

Tôi bịa đặt lý do vắn tắt và rất "lô gích" để trao đổi lấy bộ quân phục của anh. Và anh thông cảm gật đầu. Anh vội vàng rút trong ba lô "con cóc" một bộ Tô Châu mới cứng. Thế là: "Một đổi một!".

Khi tôi có cảm giác "mình còn sống" thì tôi đang ở một miền quê yên ả, vùng chiêm trũng, trong thôn Thắng Lợi, xã Trác Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Tôi phải khai lại lý lịch và được phát thẻ "thương binh tạm thời" từ trại an dưỡng. Một năm sau, khi vết thương đã bình phục, tôi xin được quyết định chuyển ngành. Nhờ lý lịch mới (hay là số phận?) có trình độ văn hóa, lại "kinh qua chiến đấu", tôi được tin tưởng, phân công ở bộ phận phụ trách tổ chức nhân sự thuộc Nhà máy Liên hiệp Dệt Nam Định đang sơ tán ở xã Nhân Chính, huyện Lý Nhân. Vào thời điểm đó, Bác Hồ kêu gọi "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt!".

Với sự cố gắng và nỗ lực hết mình, tôi đã làm việc bằng ba, bằng bốn và hơn thế nữa, được giám đốc tin tưởng, cân nhắc chức vụ tổ chức, uy tín của tôi nổi như cồn trong cơ quan. Đường công danh của tôi mở ra thênh thang. Nhưng vốn bị một nỗi mặc cảm đè nặng tôi chưa từng đi lính, chưa từng kinh qua chiến đấu, nhưng lại có một lý lịch "sáng choang", lại có thẻ thương binh dù chỉ là tạm thời trong 1 năm song trong lòng tôi nhiều lúc day dứt và đau khổ. Sự day dứt đau khổ ở đây không phải là vì tôi là một kẻ tráo trở, một kẻ cơ hội trên xương máu của anh em đồng chí mà do số phận sắp đặt, tôi đã đứng vào biển sóng cuộc đời xô đẩy mà không thể có con đường nào khác. Ít ra, khi tự vấn lương tâm mình, tôi rất xấu hổ và hèn hạ khi khai mình là người lính chiến. Đó là những cảm giác có thật và tự vấn trong lương tâm tôi. Tôi có đi lính ngày nào đâu, có chiến đấu ngày nào đâu. Nhưng nếu không nhận lấy cơ hội mà ông trời vì thấu hiểu hoàn cảnh của tôi, thương tình ban cho tôi thì cuộc đời tôi chẳng lẽ chìm mãi trong bế tắc ư?

Tôi day dứt đau khổ vì mỗi lần nhìn thấy những người lính chiến đấu từ chiến trường trở về, trong tôi dâng lên một cảm giác thương mình xót xa vì thực tế tôi đâu có hèn như vậy. Không hạnh phúc gì, sung sướng gì khi phải sống với một lý lịch dối trá. Chính vì vậy khi công tác ở nhà máy, bao nhiêu thanh niên xung phong, thương bệnh binh, bộ đội xin chuyển ngành về nhà máy, tôi nhận tất tật và rất ưu ái. Tôi đã làm việc hết mình cho nhà máy và đã được bình bầu là "Chiến sĩ thi đua" hằng năm và bằng khen của Bộ Công nghiệp nhẹ.

Người vợ, hiện đã chung sống 40 năm với 4 mặt con đã thành đạt và "đầy sân quế hòe", chính là cô gái tôi đã gặp ở nhà máy. Vợ tôi chính là nữ thanh niên xung phong chống Mỹ được tôi thu nhận về xí nghiệp rất muộn màng sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ hai khóa ở tuyến lửa khu IV và bị thương. Người con gái vùng biển Nghĩa Hưng dễ thương, có mái tóc dài xanh bết gót như một dòng sông, đã chiếm trọn tình cảm của tôi. Tôi lấy vợ sinh con và công việc đã ổn định  nhưng lòng vẫn canh cánh nhớ về người mẹ già nơi quê nhà. Vì mẹ đã tuổi cao sức yếu, đưa mẹ đi ra Nam Định để nuôi mẹ thì mẹ một mực không chịu. Cực chẳng đã, tôi xin nghỉ làm ở nhà máy, năm 1976 "bầu đoàn thê tử" tôi ôm nhau về xứ Nghệ để "báo hiếu trả nghĩa mẹ" sau 10 năm lưu lạc.

Từ đó trở đi, tôi ở quê nhà làm lại từ đầu, vất vả, khổ sở, làm thuê đủ nghề: Chạy chợ, chạy bè, đào đất, cất gỗ, thợ xẻ, thợ nề, làm cán bộ 202, chỉ huy xây dựng các công trình dân sự như bệnh viện, trường cấp 3, đập thủy lợi Đô Lương, hồ Kẻ Gỗ Hà Tĩnh. Năm 1993 mẹ già mất, hưởng thọ 93 tuổi. Cuộc sống ở quê nhà bao khó khăn vất vả, những tưởng tôi đã an bài với tuổi 60 nơi quê nhà nhưng một lần nữa tôi lại ly hương cùng vợ con ngược đường vào vùng Lâm Đồng xây dựng vùng kinh tế mới. Từ bấy cho đến nay cuộc sống của tôi dần ổn định hơn, các con cũng đã trưởng thành, tôi quay sang viết báo và cộng tác viên cho các báo. Tôi tìm niềm hạnh phúc trong những điều nhỏ nhặt mà tôi bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày, sống tĩnh tâm hơn và vui vầy sớm tối với cháu con.

Kính thư: Nguyễn Lê Đông (Thôn 5, xã Tân Thanh, Lâm Hà, Lâm Đồng)

SOURCE: CHUYÊN MỤC “CHUYỆN KHÓ TIN CÓ THẬT” BÁO AN NINH THẾ GIỚI CUỐI THÁNG

Trích dẫn từ: http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/chuyenkhotin/2009/5/52905.cand

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: