THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-TANDTC NGÀY 5 THÁNG 3 NĂM 2009 HƯỚNG DẪN VIỆC GIỚI THIỆU BẦU VÀ ĐỀ NGHỊ MIỄN NHIỆM, BÃI NHIỆM HỘI THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN, QUẬN NƠI KHÔNG TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân;
Căn cứ Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân;
Căn cứ Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 Ủy ban Thường vụ Quốc hội về danh sách huyện, quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
Căn cứ Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 1 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường;
Sau khi thống nhất với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giới thiệu bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa án nhân dân đối với những Tòa án nhân dân huyện, quận, mà ở đó không tổ chức Hội đồng nhân dân như sau:

I. VỀ CƠ CẤU, SỐ LƯỢNG, TIÊU CHUẨN HỘI THẨM NHÂN DÂN VÀ HỒ SƠ NHÂN SỰ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC GIỚI THIỆU BẦU HỘI THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN

Về cơ cấu, số lượng, tiêu chuẩn Hội thẩm Tòa án nhân dân và hồ sơ nhân sự của người được giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2004/TANDTC-UBTWMTTQVN ngày 1 tháng 3 năm 2004 của Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân.

II. VỀ VIỆC CHUẨN BỊ NHÂN SỰ VÀ GIỚI THIỆU BẦU HỘI THẨM

Việc chuẩn bị nhân sự và giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân được thực hiện theo trình tự, thủ tục như sau:

Bước một: Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, căn cứ vào nhu cầu xét xử của đơn vị mình thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận về cơ cấu, thành phần, số lượng nhân sự dự kiến đưa ra bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận.

Bước hai: Căn cứ kết quả thống nhất ở bước một, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận chủ trì và phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, xem xét lại đội ngũ Hội thẩm Tòa án nhân dân đương nhiệm những trường hợp vẫn đảm bảo tiêu chuẩn, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, đủ điều kiện thì đưa vào danh sách giới thiệu bầu. Nếu còn thiếu thành phần nào thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận hiệp thương với các cơ quan, tổ chức, đơn vị dự kiến giới thiệu người bầu làm Hội thẩm Tòa án nhân dân.

Bước ba: Sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, quận Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận lập danh sách và hồ sơ nhân sự được giới thiệu bầu Hội thẩm Tòa án nhân dân huyện, quận để báo cáo với Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

(more…)

THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-NHNN NGÀY 2 THÁNG 3 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng như sau:

Mục I.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy chế này quy định việc cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam (VND) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng là ngân hàng và các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép (sau đây gọi tắt là ngân hàng) dưới hình thức có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

1. Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá (sau đây gọi tắt là cho vay cầm cố) là hình thức cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) đối với các ngân hàng trên cơ sở cầm cố giấy tờ có giá thuộc sở hữu của ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.

2. Cầm cố giấy tờ có giá là việc Ngân hàng Nhà nước nắm giữ bản gốc giấy tờ có giá, hoặc yêu cầu ngân hàng chuyển khoản giấy tờ có giá vào tài khoản của Ngân hàng Nhà nước mở tại Trung tâm giao dịch chứng khoán để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho một hay nhiều khoản vay cầm cố của ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước.

3. Lãi suất cho vay cầm cố là lãi suất tái cấp vốn mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng khi thực hiện cho vay cầm cố đối với các ngân hàng và được Ngân hàng Nhà nước công bố trong từng thời kỳ.

4. Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá là thời gian tính từ ngày Ngân hàng Nhà nước giải ngân khoản vay cầm cố đối với ngân hàng đến ngày đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá đó.

Điều 3. Đối tượng được vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước

1. Các tổ chức tín dụng là ngân hàng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng.

2. Các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Điều 4. Nguyên tắc cho vay cầm cố

Việc cho vay cầm cố của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thực hiện theo các nguyên tắc sau:

1. Khoản cho vay cầm cố được bảo đảm bằng các giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 Thông tư này;

(more…)

CÔNG VĂN SỐ 45/BXD-QLN NGÀY 4 THÁNG 5 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ KINH PHÍ BẢO TRÌ PHẦN SỞ HỮU CHUNG TRONG NHÀ CHUNG CƯ

Kính gửi: Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển nhà Hoàng Anh

Trả lời Văn bản số 34/CV-HA.09 ngày 07/4/2009 của Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển nhà Hoàng Anh đề nghị hướng dẫn quy định kinh phí bảo trì phần sở hữu chung trong nhà chung cư, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Về nguyên tắc, việc thu nộp kinh phí bảo trì phần sở hữu chung trong nhà chung cư được thực hiện theo thoả thuận trong Hợp đồng được ký kết giữa Chủ đầu tư và người mua nhà theo quy định tại Điều 54 của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ.

Trường hợp trong Hợp đồng không có quy định cụ thể về kinh phí bảo trì phần sở hữu chung thì:

- Đối với nhà chung cư được bán trước ngày 01/7/2006 là ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành (thời điểm nhà chung cư được bán là ngày ký kết hợp đồng giữa Chủ đầu tư và người mua) mà Chủ đầu tư chưa thu 2% kinh phí bảo trì phần sở hữu chung thì kinh phí này sẽ được thu từ các chủ sở hữu căn hộ và các chủ sở hữu phần sở hữu riêng khác trong nhà chung cư khi thực hiện công việc bảo trì theo quy định.

- Đối với nhà chung cư được bán kể từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì Chủ đầu tư có trách nhiệm nộp 2% từ tiền bán căn hộ, phần sở hữu riêng trong nhà chung cư mà người mua đã trả.

Trên đây là ý kiến của Bộ Xây dựng để Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển nhà Hoàng Anh biết và thực hiện./.

TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TS. ĐINH VĂN ÂN – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương

Nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vừa tròn 2 năm. Đây là quãng thời gian chưa đủ dài để có thể đánh giá và nhìn nhận đầy đủ tác động của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam. Hơn nữa thời điểm trở thành thành viên của WTO không phải là điểm bắt đầu và kết thúc của quá trình hội nhập của Việt Nam. Đồng thời với việc gia nhập WTO, nước ta cũng đã và đang tham gia nhiều hiệp định tự do thương mại khu vực với mức độ mở cửa thậm chí còn cao hơn cam kết trong WTO (như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); các khu vực mậu dịch tự do ASEAN + 1).

Những khác biệt trong cam kết giữa các hiệp định thương mại có thể tạo ra hiệu ứng thương mại và đầu tư khác nhau. Ngoài ra, từ đầu năm 2007 đến nay, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam còn chịu nhiều tương tác giữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác. Biến động phức tạp của nền kinh tế toàn cầu (giá dầu, giá lương thực leo thang và đặc biệt là khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế của Hoa Kỳ) cũng làm cho việc đánh giá tác động này đối với nền kinh tế trở nên khó khăn hơn.

Tuy nhiên, thực tế diễn biến của các chỉ số kinh tế – xã hội năm 2007 – 2008 có thể bước đầu giúp nhìn nhận tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của việc gia nhập WTO. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5-2-2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO” cũng đã chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế khi nước ta gia nhập WTO. Những nhận định đó cùng với các kết quả nghiên cứu về tác động của quá trình tự do hóa thương mại và hội nhập chính là “điểm xuất phát” cho việc đánh giá tác động gia nhập WTO đối với nền kinh tế Việt Nam (1).

Điều rõ ràng là thời gian 2 năm qua đã để lại những dấu ấn đáng ghi nhớ, không chỉ với nhiều chỉ số thống kê khác biệt đáng kể so với những năm trước, mà còn với cả những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh hay chưa lường hết. Dưới đây là những kết quả chủ yếu sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO trên các khía cạnh: thương mại, đầu tư, tăng trưởng kinh tế; ổn định kinh tế vĩ mô (lạm phát, cán cân thanh toán quốc tế, thu ngân sách, sự ổn định hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính), xã hội và thể chế kinh tế. Qua đó, chúng ta không chỉ đánh giá đúng mình hơn, mà còn có thể rút ra được nhiều bài học có ý nghĩa cho công tác hoạch định chính sách.

1 – Những kết quả chủ yếu

Về thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế:

- Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 và 2008 tương ứng đạt 48,6 tỉ và 62,9 tỉ USD, tăng tương ứng 21,9% và 29,5%; riêng năm 2008, nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt thép, vàng và yếu tố tăng giá thì xuất khẩu hàng hóa chỉ tăng 13,5%. Như vậy có thể nói, xuất khẩu vẫn chưa thể hiện mức độ bứt phá so với các năm trước.

(more…)

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐỂ ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

TS. NGUYỄN LÊ TRUNG – THS. LÊ QUANG MẠNH

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng. Sự phát triển của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Cho đến nay, chúng ta đã thu hút được một số lượng lớn các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp nhà nước cũng đạt được rất nhiều kết quả trong quá trình tái cơ cấu, chuyển đổi loại hình hoạt động, khu vực doanh nghiệp dân doanh không ngừng mở rộng và phát triển vượt bậc, hệ thống hợp tác xã đang dần được củng cố. Tính đến hết năm 2007, cả nước có hơn 300 ngàn doanh nghiệp, bao gồm: 290.000 công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, khoảng 3.000 doanh nghiệp nhà nước, 7.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 16.000ahợp tác xã.

Có được kết quả đó, một nhân tố vô cùng quan trọng là sự quyết tâm, nỗ lực của Đảng, Nhà nước ta trong việc nghiên cứu, ban hành và triển khai hiệu quả vào thực tế cuộc sống những cơ chế, chính sách để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp theo hướng khuyến khích mọi thành phần kinh tế cùng phát triển.

Những kết quả tích cực

Kể từ năm 2000 đến nay, việc cải thiện môi trường kinh doanh đã đạt được nhiều kết quả, thể hiện trên một số mặt cơ bản như sau:

Một là, hệ thống pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp Việt Nam tương đối đầy đủ và tạo lập được khung quản trị doanh nghiệp cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Từ chỗ chủ yếu chỉ tạo khung khổ cho việc quản lý và vận hành một loại hình doanh nghiệp duy nhất là doanh nghiệp nhà nước, đến nay đã hình thành một hệ thống pháp luật cho hoạt động của mọi loại hình doanh nghiệp khác nhau.

Khi xây dựng và ban hành, mục tiêu cơ bản của hệ thống pháp luật doanh nghiệp đều hướng tới việc tạo lập và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong đó mọi loại hình doanh nghiệp đều được bảo đảm quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và bình đẳng trước pháp luật; huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp.

Pháp luật về doanh nghiệp đã ghi nhận các quyền cơ bản của doanh nghiệp và thiết chế được khung quản trị doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu cơ bản của kinh tế thị trường. Đó là: quyền tự do kinh doanh; quyền được tự chủ, tự quyết định các công việc của mình; quyền được bình đẳng trước pháp luật. Đồng thời, bước đầu tạo lập được khung quản trị doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu cơ bản của kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế nhằm tạo động lực và tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp trước pháp luật.

(more…)

TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH THỰC THI CÁC CAM KẾT TRONG WTO TỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ TƯ PHÁP TRUNG QUỐC

BÙI HƯƠNG QUẾ – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Sau 15 năm đàm phán căng thẳng, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/12/2001. Kể từ khi gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này, đầu tư và thương mại của Trung Quốc đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng GDP bình quân mỗi năm đạt 9,5% (năm 2006 ước đạt 10,5%). Tính theo USD, GDP của Trung Quốc đã tăng gấp đôi, từ 1.325 tỷ USD năm 2001 lên 2.235 tỷ USD năm 2005. Trước đây, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới, sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã đứng hàng thứ ba. Trung Quốc cũng đã trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới.

Trong lĩnh vực pháp luật, việc gia nhập WTO đã tác động lớn đến hệ thống pháp luật và thể chế của Trung Quốc. Để thực hiện các cam kết của WTO, Trung Quốc đã tiến hành một đợt rà soát pháp luật toàn diện. Hàng nghìn văn bản pháp luật, Bgiải thích pháp luật của toà án có liên quan tới WTO đã được đối chiếu, rà soát với các cam kết của WTO. Trung Quốc cũng đã ban hành rất nhiều luật có liên quan tới thương mại như các luật có liên quan tới công ty, phá sản, ngân hàng, thể chế tài chính. Bên cạnh đó, hệ thống tư pháp và bổ trợ tư pháp của Trung Quốc cũng đã được cải tổ theo xu hướng hiện đại. Số lượng cán bộ pháp luật ở Trung Quốc cũng tăng nhanh trong thời gian vừa qua đặc biệt là luật sư. Số lượng luật sư của Trung Quốc dự kiến sẽ tăng lên khoảng 200.000 vào năm 2010 so với 175.000 vào năm 1999.

Để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp Trung Quốc, bài viết dưới đây xin trình bày về những cam kết chính của Trung Quốc đối với WTO, trên cơ sở đó sẽ đưa ra những đánh giá và bình luận về tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật và tư pháp của Trung Quốc. Những kinh nghiệm của Trung Quốc sau 5 năm thực hiện cam kết gia nhập WTO sẽ là bài học quý báu cho quá trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.

I. Cam kết của Trung Quốc với WTO

WTO là hệ thống thương mại đa biên nhằm nâng cao sự thịnh vượng của các quốc gia thành viên thông qua việc cắt giảm các hạn chế của Chính phủ đối với thương mại. Các nghĩa vụ trong WTO bao trùm lên các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, minh bạch hoá và quyền khiếu kiện với 2 nghĩa vụ chính: (a) nghĩa vụ tiếp cận thị trường (các nước thành viên cam kết mở cửa thị trường trong nước cho các hàng hoá và dịch vụ cụ thể của các nước thành viên khác) (b) nghĩa vụ quy tắc, là những quy tắc của WTO để điều hành các  hoạt động thương mại quốc tế. Các cam kết về tiếp cận thị trường ở các nước thành viên có thể khác nhau và được đàm phán nhưng quy tắc ứng xử của WTO là thống nhất và việc thay đổi nó không hề dễ dàng. Các quy tắc của WTO khá rộng không chỉ bao trùm lên các biện pháp biên giới ví dụ như thuế quan và hạn chế nhập khẩu mà còn bao gồm các biện pháp nội địa ảnh hưởng tới thương mại ví dụ như thuế và quy định nội địa, tiêu chuẩn về kỹ thuật và sức khoẻ, trợ cấp chính phủ, yêu cầu về đầu tư và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc thực thi các nghĩa vụ WTO sẽ được đảm bảo thực thi thông qua cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Cơ quan này có thẩm quyền bắt buộc và quyết định của cơ quan này có giá trị ràng buộc đối với các bên. Nếu bên thua kiện không thực hiện các phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp WTO, thì WTO cho phép được áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. WTO cũng yêu cầu các nước thành viên phải thông báo các hoạt động thương mại và rà soát thương mại định kỳ.

(more…)

KINH TẾ TẬP THỂ GÓP PHẦN HƯỚNG TỚI XÃ HỘI HỢP TÁC CÙNG PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN MINH TÚ

Với nền tảng tư tưởng hợp tác và phong trào HTX gần 200 năm qua, Kinh tế tập thể (KTTT) đã trở thành một loại hình tổ chức phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội to lớn đối với từng quốc gia. Không những thế, KTTT còn trở thành phong trào quốc tế sâu rộng, liên kết trong tổ chức Liên minh HTX quốc tế (ICA- International Cooperative Allien). Đối với nước ta, phát triển KTTT là một tất yếu khách quan trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội và củng cố nền quốc phòng – an ninh đất nước, là chủ trương lớn, nhất quán và xuyên suốt của Đảng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

VỊ TRÍ CỦA KTTT TRONG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Về kinh tế: KTTT đóng góp quan trọng cho GDP của cả nước trên hai kênh: trực tiếp và gián tiếp thông qua việc nâng cao hiệu quả của kinh tế thành viên hợp tổ chức KTTT. KTTT chiếm bình quân gần 8,28% GDP (1995-2006), trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân (bao gồm các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp) chiếm bình quân 7,92%, khu vực kinh tế nhà nước chiếm bình quân 39,06%, khu vực kinh tế cá thể chiếm bình quân 31,93% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm bình quân 12,36% trong cùng thời kỳ.

Kinh tế thành viên tổ chức KTTT là bộ phận hữu cơ của KTTT, thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, hiện đang được thống kê vào khu vực kinh tế cá thể, cùng với KTTT ước tính chiếm trên 15% trong GDP.

Về xã hội: KTTT tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập cho thành viên và người lao động, cung cấp hàng hoá và dịch vụ xã hội. Hiện có khoảng 14 triệu người, trong đó khu vực HTX khoảng 10,5 triệu lao động, tổ hợp tác khoảng 3,5 triệu lao động. Lao động khu vực KTTT tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông lâm thuỷ sản, chiếm tới 96% tổng số lao động.

Thông qua việc đạt được lợi ích chung về kinh tế, thành viên tổ chức KTTT tăng thu nhập, gắn kết hơn với nhau, mở rộng các sinh hoạt cộng đồng, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, cải thiện đời sống văn hoá.

Về chính trị- văn hoá: KTTT hướng tới phát huy vai trò trong phát triển tinh thần “hợp tác”, cộng đồng, từng bước hiện thức hoá các giá trị đạo đức cao đẹp và các nguyên tắc HTX; nâng cao trách nhiệm xã hội của từng công dân cũng như của cộng đồng; tạo điều kiện cho cộng đồng ngày càng ổn định và gắn kết với nhau hơn. Thông qua tổ chức KTTT, thành viên của cộng đồng có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của họ, góp phần giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ dân cư, củng cố an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc.

(more…)

DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 126 CỦA LUẬT NHÀ Ở VÀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 121 CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI

DỰ THẢO 1

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Luật này sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở năm 2005 và sửa đổi, bổ sung Điều 121 của Luật đất đai năm 2003.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở như sau:

“Điều 126: Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

a) Người có quốc tịch Việt Nam;

b) Người gốc Việt Nam thuộc diện: người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam ở trong nước.

2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam".

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung Điều 121 của Luật đất đai năm 2003 như sau:

"Điều 121: Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng quy định tại Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở và sửa đổi, bổ sung Điều 121 Luật Đất đai có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật đất đai năm 2003;

(more…)

AI NÓI CHO DOANH NGHIỆP VỀ TRÁCH NHIỆM XàHỘI?

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

LTS - Tự nhận thức về trách nhiệm xã hội của mình, Vedan chỉ đồng ý “hỗ trợ” cho những người nông dân bị thiệt hại do ô nhiễm mà mình gây ra 25 tỉ đồng. Hội nông dân các tỉnh, trong vai người đại diện, dường như không đủ thế và lực buộc Vedan phải… nâng cao nhận thức, móc hầu bao hơn nữa. Thì cũng thế, rộng hơn, trong ứng xử giữa Vedan – doanh nghiệp với người tiêu dùng, cần phải có một xã hội dân sự với sức mạnh tập thể làm đại diện, đối trọng, nhắc nhở và bắt buộc về trách nhiệm xã hội. Xin giới thiệu góc nhìn của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện

Trách nhiệm xã hội, trong chừng mực nào đó, được hiểu là sự ràng buộc chủ thể vào những bổn phận đối với xã hội, với cộng đồng.

Đã gọi là “ràng buộc”, là “bổn phận”, thì một cách tự nhiên, trách nhiệm khó được xây dựng trên căn bản tự nguyện. Song, cưỡng bách gánh lấy trách nhiệm là biện pháp rất dở, bởi khi đó, người ta thường chỉ làm chiếu lệ, cho xong. Muốn việc nhận lãnh trách nhiệm chuyển thành hành động tích cực và có hiệu quả, cách tốt nhất là làm cho người ta thấy việc đó gắn với lợi ích của bản thân. Suy cho cùng, lợi ích, chứ không phải là gì khác, chính là động lực thúc đẩy hành động tự giác của con người.

Vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng phải được đặt và giải quyết theo cùng một logic. Xã hội, tức là người tiêu dùng, đòi hỏi doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ có chất lượng, an toàn và với giá cả hợp lý; về phần mình, doanh nghiệp xác định mục tiêu tối hậu là lợi nhuận. Đòi hỏi của xã hội sẽ được doanh nghiệp đáp ứng thoả đáng, nếu việc đó đồng thời cho phép doanh nghiệp giải được bài toán lợi nhuận.

Thế nhưng, để doanh nghiệp có thể cân phân giữa trách nhiệm xã hội và lợi nhuận rồi từ đó xác định cách ứng xử thích hợp, thì điều tiên quyết là doanh nghiệp phải nhận biết tường tận những đòi hỏi của xã hội đối với mình, đặc biệt là về những rủi ro doanh nghiệp phải đương đầu đối với việc theo đuổi lâu dài mục tiêu lợi nhuận trong trường hợp đòi hỏi ấy không được thoả mãn. Rõ hơn, phải có ai đó nói với doanh nghiệp, bằng tiếng nói nhân danh người tiêu dùng, về những gì doanh nghiệp cần làm để có được sự chấp nhận chi trả với thái độ tín nhiệm của họ.

Vả lại, trong giao tiếp nhằm trao đổi lợi ích vật chất, các bên thường dựa vào sức mạnh kinh tế để nói chuyện: bên có tiềm lực kinh tế mạnh hơn sẽ áp đặt luật chơi theo ý muốn. Người tiêu dùng muốn doanh nghiệp phải lắng nghe mình, dè chừng phản ứng, động thái của mình, thì phải chứng tỏ cho doanh nghiệp thấy mình là một đối tác có thế lực, chứ không phải chỉ là kẻ hèn kém, đi tìm kiếm, cầu xin hàng hoá, dịch vụ giá rẻ với thái độ rụt rè, tự ti, an phận.

(more…)

MỐI QUAN HỆ GIỮA LỢI ÍCH CÁ NHÂN VỚI ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẠM VĂN ĐỨC

Công cuộc đổi mới đất nước trong 15 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn. Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công về mặt kinh tế, công cuộc đổi mới đang đặt ra cho Việt Nam nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm, trong đó có vấn đề sự xuống cấp của đạo đức. Điều đó có liên quan đến mặt trái của cơ chế thi trường, đến sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường tới các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trước tình hình đó, một số người cho rằng, sự xuống cấp về đạo đức xã hội bắt nguồn từ việc khuyến khích lợi ích cá nhân của người lao động, rằng lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội là hai yếu tố hoàn toàn không dung hợp với nhau. Bên cạnh đó, một số tác giá lại khẳng định rằng, sự chấp nhân và khuyến khích lợi ích cá nhân (cố nhiên là lợi ích cá nhấn chính đáng), tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cua mỗi cá nhân về nhiều phương diện, nhất là phương diện tài năng và trí tuệ. Nói cách khác, cơ chế thị trường là môi trường thuận lợi để phát huy vai trò chủ thể cá nhân, là cơ chế tất cho nhân cách phát triển trong điều kiện hiện nay. Để góp phần làm rõ vấn đề này, theo chúng tôi, cần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội, cũng như sự tác động của lợi ích cá nhân đối với đạo đức xã hội ấy trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay nói riêng: Song, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu bàn đến sự tác động của lơi ích cá nhân đối với đạo đức xã hội, chứ chua bàn đến sự tác động ngược trở lại của đạo đức xã hội đối với lợi ích cá nhân.

Khi nghiên cứu hệ thống các động lực thúc đẩy con người hành động, người ta thường nhắc đến vai trò của nhu cầu, lợi ích, cũng như của các động cơ tư tưởng.

Hơn 100 năm trước, Ph.Ăngghen đã từng chỉ ra rằng: "Đáng lẽ phải giải thích hoạt động của mình từ nhu cầu của mình… thì người ta lại quen giải thích hoạt động của mình từ tư duy của mình…". Sở dĩ như vậy vì nhu cầu là đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội khác nhau hay của toàn xã hội muốn có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển. Có thể nói, không chỉ các nhà triết học mácxít, mà cả các nhà triết học phương Tây cũng thừa nhận vai trò to lớn của nhu cầu trong việc thúc đẩy hoạt động của con người. Chính vì vậy, một trong những tiêu chuẩn của xã hội hiện đại là khả năng đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu mới nảy sinh.

Nhu cầu là động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người hành động. Sự thoả mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thê hành động, là lợi ích. Vì vậy, lợi ích là cái đáp ứng nhu cầu và nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đặt trong quan hệ với nhu cầu. Ngoài mối quan hệ đó, cái được coi là lợi ích không còn là lợi ích nữa. Xét về bản chất, lợi ích chính là mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài chủ thể với nhu cầu của chủ thể, còn về mặt nội dung, lợi ích là cái thoả mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu.

(more…)

VƯỚNG MẮC TRONG ĐĂNG KÝ TÊN DOANH NGHIỆP

LG. ĐỖ VĂN HÀO

Luật Doanh nghiệp áp dụng gần ba năm nhưng vẫn còn nội dung thực thi gây vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp. Ông Lê Cao Thắng, một người bạn của tôi, bức xúc khi nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh Công ty TNHH một thành viên Cao Thắng của mình tại tỉnh B. Cán bộ Phòng đăng ký kinh doanh nói rằng tên Cao Thắng của công ty trùng với tên danh nhân Cao Thắng, hẹn anh 10 ngày sau sẽ trả lời vì phải trao đổi với cấp trên.

Đến hẹn, anh bị từ chối cấp giấy đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp dù anh đã giải thích rằng chỉ lấy tên anh đặt tên cho doanh nghiệp. Anh được đề nghị đặt tên khác hoặc lấy cả họ và tên Lê Cao Thắng đặt cho doanh nghiệp.

Về những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp, điều 32, khoản 3, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc”. Điều 11, khoản 3, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP quy định: “Không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, tên danh nhân để đặt tên riêng cho doanh nghiệp”.

Thế nào là dùng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc đã không được Nghị định số 88/2006/NĐ-CP giải thích cụ thể, trái lại còn cấm “dùng tên danh nhân để đặt tên riêng cho doanh nghiệp”. Quy định “không dùng tên danh nhân để đặt tên riêng cho doanh nghiệp” còn nhiều điều phải bàn.

Thứ nhất, từ “dùng” được hiểu như thế nào cho đúng? Một người đặt tên doanh nghiệp theo tên của mình có khác với việc dùng tên danh nhân để đặt cho doanh nghiệp?

Thứ hai, “tên danh nhân” được hiểu như thế nào? Theo tập quán của Việt Nam, tên được hiểu chỉ là âm tiết cuối cùng trong dòng chữ bao gồm cả họ và tên. Nhà làm luật phải quy định rõ “không được dùng họ và tên đầy đủ của danh nhân để đặt tên cho doanh nghiệp” mới đúng.

Thứ ba, giới hạn phạm vi được hiểu là danh nhân như thế nào? Một danh nhân (nhất là các danh nhân thời xưa, các vị vua chúa…) thường có nhiều tên gọi khác nhau (ví dụ vua Quang Trung còn có tên khác là Bắc Bình Vương, Nguyễn Huệ…), vậy danh nhân được lấy theo tên nào, hay lấy tất cả các tên gọi được sử dụng? Theo Từ điển tiếng Việt do NXB Văn hóa Thông tin phát hành năm 2005, “danh nhân” được hiểu là “người nổi tiếng”. Vậy những người nổi tiếng như thế nào, đến mức nào, ở phạm vi nào, lĩnh vực nào, từ năm bao nhiêu thì được gọi là người nổi tiếng?

(more…)

MUA NHÀ HỢP PHÁP VẪN BỊ DÍNH NỢ

THÁI HIỆU

Do chủ cũ mắc nợ mà nhiều chủ mới đã bị kê biên nhà oan uổng. Không thể bỏ qua quyền lợi của người mua nhà. Thường thì người mua nhà chưa có giấy tờ hợp lệ hoặc mua giấy tay dễ đối mặt với nhiều rủi ro do bị “bẻ” hợp đồng hoặc vướng tranh chấp. Nhưng trong một số trường hợp, ngay cả khi đã chọn mua nhà có giấy chủ quyền, nhiều người vẫn gặp phải những rắc rối không thể lường trước.

Sang tên xong vẫn mắc kẹt

Tháng 11-2008, bà Lê Yến Phượng hỏi mua căn nhà 454/1A Phạm Văn Chí, quận 6, TP.HCM. Thấy căn nhà đã có giấy chủ quyền hợp lệ, bà Phượng rất yên tâm trao đổi việc mua bán với chủ sở hữu.

Đầu tháng 12-2008, sau khi công chứng hợp đồng mua bán nhà và đóng xong lệ phí trước bạ, bà Phượng đã đến Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất quận 6 để hoàn tất thủ tục sang tên. Nơi đây hẹn bà 15 ngày sau đến nhận kết quả. Đến hẹn, bà Phượng quay lại thì được văn phòng cho biết: “Hồ sơ của bà bị tạm ngừng giải quyết vì có đơn ngăn chặn của bà Trần Thị Thu Vân…”.

Bà Phượng hết sức ngạc nhiên với thông tin này vì bản thân bà không hề quen biết với bà Vân. Sau khi cất công tìm hiểu, bà mới biết người bán nhà cho bà còn nợ bà Vân hơn 130 triệu đồng và bà Vân đang khởi kiện ra tòa để đòi nợ.

Ngày 6-1-2009, TAND quận 6 đã ra quyết định công nhận nội dung thỏa thuận trả nợ giữa con nợ với bà Vân. Ngay sau khi thấy lý do ngăn chặn đã không còn, bà Phượng liền nộp lại hồ sơ đăng bộ nhà và đã được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất quận giải quyết vào ngày 22-1.

Tưởng vậy là yên chuyện nhưng không phải. Chừng hai tháng sau, Thi hành án dân sự quận 6 đã mời bà Phượng đến làm việc. Cơ quan này cho biết sẽ kê biên căn nhà của bà Phượng để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị đơn. Thì ra sau khi có quyết định hòa giải thành của tòa án, người chủ trước của căn nhà chưa tự nguyện thi hành án và ngoài căn nhà trên thì đương sự không còn tài sản nào khác. Tại thời điểm này, Thi hành án quận 6 đã áp dụng biện pháp ngăn chặn không cho bà Phượng mua bán, chuyển nhượng… căn nhà.

Chưa sang tên cũng bị ách

Khác với trường hợp nêu trên (đã sang tên xong), việc mua nhà của ông Nguyễn Giang Sơn bị ách lại khi ông chưa kịp hoàn tất thủ tục đăng bộ.

Đầu tháng 7-2007, ông Sơn mua căn nhà 33/12 Đặng Nhữ Lâm, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè. Sau khi được công chứng hợp đồng mua bán nhà, ông đã nộp xong lệ phí trước bạ, còn người bán thì nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Giữa tháng 7-2007, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện cũng đã tiếp nhận hồ sơ xin đăng bộ nhà của ông.

(more…)

TÁC ĐỘNG HAI MẶT CỦA VỐN NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên to lớn của dòng vốn nước ngoài qua các kênh thu hút khác nhau, như bổ sung vốn đầu tư và gia tăng nguồn động lực mới, tích cực và mạnh mẽ hơn cho phát triển của đất nước, cải thiện cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế, công nghệ, thị trường, đội ngũ lao động và quản lý… vẫn cần tỉnh táo nhận diện những tác động mặt trái của chúng để có các giải pháp thích ứng.

Tác động hai mặt

Về vốn vay: Dù là nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) có điều kiện ưu đãi cao nhất, cho đến các khoản vốn vay thương mại thông thường trên thị trường tài chính quốc tế thì nghĩa vụ nợ (bao gồm trả lãi và nợ gốc) cũng luôn luôn đặt ra cho người vay. Một cơ cấu nợ mà chiếm tỷ trọng lớn nhất là những khoản vay thương mại “nóng”, lãi cao, và bằng những ngoại tệ không ổn định theo xu hướng “đắt” lên sẽ chứa đựng những xung lực lạm phát mạnh. Những xung lực này càng mạnh hơn nếu vốn vay không được quản lý tốt và sử dụng có hiệu quả, buộc con nợ phải tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới, với những điều kiện có thể ngặt nghèo hơn – chiếc bẫy nợ sập lại, con nợ rơi vào vòng xoáy mới: Nợ-vay nợ mới-tăng nợ-tăng vay… Vòng xoáy này sẽ dẫn con nợ đến sự vỡ nợ hoặc vòng xoáy lạm phát: Nợ-tăng nghĩa vụ nợ-tăng thâm hụt ngân sách-tăng lạm phát. Lúc này dịch vụ nợ sẽ ngốn hết những khoản chi ngân sách cho phát triển và ổn định xã hội, làm căng thẳng thêm trạng thái khát vốn và hỗn loạn xã hội. Hơn nữa, việc “thắt lưng buộc bụng” trả nợ khiến nước nợ phải hạn chế nhập và tăng xuất, trong đó có hàng tiêu dùng mà trong nước còn thiếu hụt, do đó làm tăng mất cân đối hàng tiền, tăng giá, tăng lạm phát. Nợ nước ngoài có thể làm sụp đổ cả một chính phủ, nhất là ở những nơi tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm là phổ biến của giới cầm quyền, đi kèm với việc thiếu những giải pháp xử lý mềm dẻo khôn ngoan với nợ (đàm phán gia hạn nợ, đổi nợ thành đầu tư, đổi cơ cấu và điều kiện nợ, xin xoá nợ từng phần…). Do vậy, sự chủ động và tỉnh táo khống chế nợ ở mức độ an toàn, theo những dự án đầu tư cụ thể, được luận chứng kinh tế – kỹ thuật đầy đủ, và chấp nhận sự kiểm tra, giám sát của chủ nợ để tránh hao hụt do tham nhũng hay sử dụng nợ sai mục đích là những nguyên tắc hàng đầu cần được tuân thủ trong quá trình vay nợ nước ngoài.

Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới mọi dạng sẽ an toàn và tốt hơn việc trực tiếp vay nợ thương mại (kể cả dưới dạng mua hàng trả chậm theo L/C). Hơn nữa, điều này còn tránh cho nước tiếp nhận đầu tư những khó khăn, lúng túng ban đầu về thị trường, kinh nghiệm quản lý-kinh doanh quốc tế. Cùng với những bảo đảm pháp lý có tính quốc tế, bằng cách điều chỉnh những chiếc “van” như: Ưu đãi thuế, tài chính, tiền tệ, phát triển hạ tầng cứng-mềm, các thủ tục hải quan, hành chính, các nước chủ nhà có thể hướng dẫn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đúng chỗ, đúng lúc, đủ khối lượng cần thiết theo kế hoạch định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội của mình. Song, trong lĩnh vực tưởng chừng toàn những điều tốt lành này, những tác động mặt trái của FDI vẫn ẩn khuất đâu đó:

(more…)

BẢO HIỂM XÃ HỘI KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

ĐỒNG QUỐC ĐẠT

Dân số Việt Nam tính đến năm 2007 khoảng 85,2 triệu người, trong đó khoảng 46,6 triệu người trong độ tuổi lao động và 45,6 triệu người có việc làm. Phần lớn lao động (33,3 triệu người, chiếm 73% lực lượng lao động) làm việc trong khu vực phi chính thức như: Khu vực nông nghiệp, phi nông nghiệp trong nông thôn, lao động tự do hành nghề, lao động hộ gia đình sản xuất kinh doanh cá thể ở thành thị…; còn lại 12,3 triệu người (27% lực lượng lao động) làm việc trong khu vực chính thức. Như vậy thực tế chỉ có 27% dân số trong độ tuổi lao động được tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), còn lại số lao động làm việc trong khu vực phi chính thức chưa được tham gia BHXH.

Thực trạng BHXH khu vực phi chính thức ở Việt Nam

Tính đến năm 2007, tỷ lệ lao động ở khu vực phi chính thức tham gia BHXH bắt buộc khoảng 14,95%, chủ yếu là trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn; tham gia BHXH tự nguyện là 3,74%, bảo hiểm y tế bắt buộc là 15,89% và bảo hiểm y tế tự nguyện là 3,74%. Nhìn chung, trong khu vực phi chính thức số người chưa có điều kiện tham gia vào thị trường bảo hiểm còn rất lớn, bởi các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, thu nhập là một trong những điều kiện quyết định cho việc tham gia BHXH trong khu vực phi chính thức. Kết quả điều tra của VSIIS về khảo sát triển vọng tham gia BHXH tự nguyện ở khu vực phi chính thức cho thấy: Phần lớn hộ gia đình trong khu vực phi chính thức nhận thu nhập theo mùa vụ hoặc thất thương theo 3 hình thức việc làm (làm công ăn lương, kinh tế hộ gia đình và tự làm). Trong số lao động hưởng lương ở khu vực phi chính thức thì có tới 34,2% lao động không có tiền công ổn định; 31,7% lao động hưởng tiền lương theo tháng hoặc quý, những người hưởng lương theo ngày chiếm tỷ lệ nhỏ, khoảng 22,7% trong tổng số lao động ở khu vực này. Đặc biệt đối với những lao động làm việc trong kinh tế gia định thì 91,8% là thu nhập không ổn định.

Thứ hai, lao động khu vực phi chính thức chưa có tiết kiệm và tích luỹ. Điều kiện để tham gia BHXH của người lao động ở khu vực phi chính thức là phải có việc làm, có thu nhập, nhưng quan trọng hơn là phải có tiết kiệm và tích luỹ. Tuy nhiên, chỉ khoảng 30,4% người lao động ở khu vực phi chính thức luôn đủ thời gian làm việc trong năm, 60,4% thỉnh thoảng mới đủ thời gian làm việc.

Việc làm không ổn định là nguyên nhân dẫn đến thu nhập và tích luỹ thấp. Nhìn chung, các hộ gia đình trong khu vực phi chính thức có khoản tích luỹ trung bình sau khi trừ nợ khoảng 2,2 triệu đồng. Số hộ gia đình có khoản tích luỹ từ 4,7 triệu đồng trở lên chỉ chiếm 22% tổng số hộ trong khu vực phi chính thức. Số tiền tiết kiệm thường được chủ hộ sử dụng vào việc mua sắm tài sản nhằm tái sản xuất mở rộng, hoặc dùng để xây nhà cửa, mua sắm đồ dùng sinh hoạt và những nhu cầu chi tiêu khác như ma chay, cưới xin, thăm hỏi, giỗ tết và các khoản đóng góp xã hội khác. Chính vì vậy, số tiền còn lại để có thể đóng góp, tham gia BHXH tự nguyện cũng như các loại hình bảo hiểm khác là không nhiều, khả năng tham gia BHXH tự nguyện của họ gặp nhiều khó khăn.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: