CÁC QUYỀN XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN TỪ HIẾN PHÁP NĂM 1980 ĐẾN HIẾN PHÁP NĂM 1992

TS. NGUYỄN VĂN ĐỘNG* – Đại học Luật Hà Nội

1- Hiến pháp năm 1980 – sự mở đầu cho quá trình hoàn thiện các quyền xã hội cơ bản của công dân ở nước ta

Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện đất nước ta thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc thống nhất về mặt nhà nước và pháp luật đã tạo ra tiền đề chính trị – pháp lý quan trọng nhất để cả nước cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trước hết, Hiến pháp năm 1980 khẳng định lại các quyền xã hội cơ bản trong Hiến pháp năm 1959, nhưng bổ sung, mở rộng nội dung phần lớn các quyền đó cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới.

Về quyền bảo hiểm xã hội của người lao động (Điều 59). Điểm mới trong điều luật này là Hiến pháp quy định nghĩa vụ của Nhà nước hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện từng bước chế độ bảo hiểm đối với xã viên hợp tác xã. Xã viên hợp tác xã cũng được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội ; mở rộng dần sự nghiệp bảo hiểm xã hội theo trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân và bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền đó. Đối với quyền bình đẳng nam, nữ (Điều 63), Hiến pháp bổ sung bốn điểm mới : một là, Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ để phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội ; hai là, Nhà nước cần hoạch định chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ ; ba là, xã viên hợp tác xã cũng được hưởng phụ cấp sinh đẻ ; bốn là, Nhà nước và xã hội phải chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, các nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi khác. Trong Điều 64 về quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, Hiến pháp bổ sung bốn điểm mới : khẳng định gia đình là tế bào của xã hội ; hôn nhân được xây dựng trên các nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng ; cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội, con có nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc cha mẹ ; Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1980 dành một điều riêng quy định quyền của trẻ em (Điều 65), trong đó xác định rõ nghĩa vụ của Nhà nước và xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em, bảo đảm cho trẻ em phát triển bình thường, toàn diện.Quyền của thanh niên được quy định tại Điều 66, trong đó có hai điểm bổ sung quan trọng : Nhà nước và xã hội có nghĩa vụ bồi dưỡng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên ; thanh niên có nghĩa vụ tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quyền được sống được quy định trong hai điều – Điều 69 và Điều 70. Điều 69 quy định quyền bất khả xâm phạm về thân thể, trong đó bổ sung hai điểm : việc bắt và giam, giữ người phải theo đúng pháp luật và nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình. Điều 70 quy định quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng.

Nhằm phát huy hơn nữa nguồn lực con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước, căn cứ vào những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực xã hội sau 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc (kể từ khi có Hiến pháp năm 1959) và các nhiệm vụ của Nhà nước, xã hội trong việc khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, Hiến pháp năm 1980 quy định 6 quyền xã hội mới : quyền được bảo vệ sức khỏe (Điều 61), quyền có nhà ở (Điều 62), quyền của các đối tượng thuộc chính sách ưu đãi, ưu tiên của Nhà nước và của những người có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn (Điều 74).

Theo Điều 61, mọi công dân đều có quyền được bảo vệ sức khỏe và Nhà nước thực hiện chế độ khám, chữa bệnh không phải trả tiền.

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp năm 1980 ghi rõ : “Công dân có quyền có nhà ở” (Điều 62). Điều đó có nghĩa là, Nhà nước có trách nhiệm xây dựng nhà ở để phân phối cho dân ở. Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chỉ quy định quyền bất khả xâm phạm về nhà ở. Với quy định này, Nhà nước ta thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới một trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất của người dân là nhà ở.

Theo nội dung Điều 74, cần phân biệt hai nhóm đối tượng – nhóm một gồm : thương binh, gia đình liệt sĩ, những người và những gia đình có công với cách mạng ; nhóm hai gồm : người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa. Những người thuộc nhóm một được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, được Nhà nước khen thưởng, chăm sóc, phù hợp với đạo lý truyền thống của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”. Những người thuộc nhóm hai được Nhà nước và xã hội giúp đỡ, phù hợp với truyền thống nhân đạo của dân tộc “lá lành đùm lá rách”, “chị ngã em nâng”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”,…

Hiến pháp năm 1980 đã đạt được sự hoàn thiện đáng kể cả về nội dung lẫn hình thức trong việc xác lập các quyền xã hội cơ bản của công dân. Nội dung các quyền được quy định đầy đủ, cụ thể hơn và có kèm theo nghĩa vụ của Nhà nước. Về hình thức, Hiến pháp năm 1980 có 21 điều quy định 45 quyền cơ bản của công dân, trong đó có 10 điều quy định 17 quyền xã hội cơ bản (có 7 quyền mới).

Việc Hiến pháp năm 1980 tiếp tục ghi nhận và mở rộng nội dung các quyền xã hội cơ bản đã được quy định trong Hiến pháp năm 1959 không những nói lên rằng xã hội Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới – giai đoạn cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, mà còn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với quyền con người, quyền công dân nói chung, các quyền xã hội nói riêng. Suy rộng ra, đó là sự quan tâm tới con người ; mà con người lại vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là sản phẩm của sự sáng tạo ấy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bảng 1 : Các quyền xã hội cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1980.

(Xếp theo thứ tự từ thấp đến cao của các điều luật)

Presentation1

2 – Hiến pháp năm 1992 – bước phát triển của việc hoàn thiện các quyền xã hội cơ bản của công dân trong điều kiện đổi mới

Là sản phẩm của thời kỳ đổi mới, Hiến pháp năm 1992 đạt tới sự phát triển cao trong việc hoàn thiện các quyền xã hội cơ bản của công dân. Hiến pháp năm 1992, một mặt, tiếp tục ghi nhận những quyền xã hội mà Hiến pháp năm 1980 quy định ; mặt khác, sửa đổi, bổ sung nội dung các quyền đó cho phù hợp với khả năng và điều kiện của đất nước. Từ đó cũng làm xuất hiện một số quyền xã hội mới.

Trước hết nói về một số điểm bổ sung, sửa đổi nội dung các quyền xã hội mà Hiến pháp năm 1980 quy định.

Quyền bảo hiểm xã hội của người lao động được quy định tại Điều 56. Điểm mới ở đây là Hiến pháp quy định khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động ngoài chế độ bảo hiểm xã hội của Nhà nước đối với viên chức nhà nước và người làm công ăn lương.

Tại Điều 61 về quyền được bảo vệ sức khỏe có bốn điểm mới quan trọng đáng chú ý: một là, Hiến pháp xóa bỏ chế độ bao cấp trong việc khám, chữa bệnh, trừ một số đối tượng được miễn viện phí ; hai là, Hiến pháp quy định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc ban hành và thực hiện chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí, chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm ; ba là, nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác ; bốn là, Hiến pháp xác định nghĩa vụ của công dân thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng.

Hiến pháp năm 1980 quy định công dân có quyền có nhà ở (Điều 62). Tới Hiến pháp năm 1992 thì quyền này được sửa lại thành ba quyền mới tại Điều 62 là : quyền được xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật, quyền được pháp luật bảo hộ của người có nhà cho thuê và quyền được pháp luật bảo hộ của người thuê nhà. Việc Hiến pháp năm 1992 xóa bỏ chế độ bao cấp về nhà ở cũng là điều đúng đắn vì Nhà nước không có khả năng lo nhà ở cho mọi tầng lớp nhân dân, mà Nhà nước có thể xây nhà ở rồi cho dân thuê hoặc khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân tự xây dựng nhà ở cho mình theo quy hoạch và pháp luật.

Điều 63 quy định quyền bình đẳng nam, nữ và bổ sung : “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”. Việc bổ sung này là cần thiết nhằm phòng ngừa và chống lại những hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, đánh đập, hành hạ, mua bán phụ nữ, sử dụng phụ nữ như là một công cụ để làm giầu phi pháp. Điều 64 quy định quyền được bảo hộ hôn nhân và gia đình, trong đó bổ sung cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà. Quy định này mang tính đạo đức sâu sắc và nó xuất phát từ thực tế hiện nay là trong nhiều gia đình có ba, thậm chí có bốn thế hệ chung sống, do đó con vừa có bổn phận kính trọng, chăm sóc cha mẹ, vừa kính trọng, chăm sóc ông bà.

Trong các điều quy định quyền của trẻ em (Điều 65) và quyền của thanh niên (Điều 66), Hiến pháp bổ sung thiết chế gia đình vào các thiết chế khác (Nhà nước và xã hội) cùng có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và thanh niên. Điều đó khẳng định vị trí, vai trò ngày càng tăng của gia đình với tư cách là tế bào của xã hội, cái nôi đầu tiên của con người, đồng thời nhắc nhở mọi người hãy quan tâm xây dựng, củng cố gia đình để trẻ em, thanh niên được chăm sóc, giáo dục tốt hơn vì tương lai của đất nước, vì hạnh phúc của mọi nhà. Tại Điều 67 về quyền của các đối tượng được ưu đãi, của những người gặp hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt, Hiến pháp bổ sung một quyền mới là quyền của bệnh binh được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước.

Để bảo đảm tính hiện thực của các quyền xã hội và tính thống nhất về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ giữa Nhà nước và công dân, Hiến pháp năm 1992 tiếp tục xác định rõ, cụ thể các nghĩa vụ của Nhà nước kèm theo các quyền xã hội cơ bản của công dân.

Từ những điều trình bày ở trên cho thấy Hiến pháp năm 1992 vừa kế thừa, vừa phát triển những quy định của Hiến pháp năm 1980 về các quyền xã hội cơ bản của công dân. Trong 23 điều quy định 55 quyền cơ bản có 9 điều xác lập 20 quyền xã hội cơ bản (có 4 quyền mới). Việc sửa đổi, bổ sung nội dung các quyền xã hội cơ bản đã được Hiến pháp năm 1980 ghi nhận càng làm cho chúng có tính khả thi hơn.

Bảng 2 : Các quyền xã hội cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992.

(Xếp theo thứ tự từ thấp đến cao của các điều luật)

Presentation1

Qua phân tích các quy định của Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 về các quyền xã hội cơ bản của công dân, có thể rút ra một số nhận xét cơ bản sau đây :

Thứ nhất, các quyền xã hội cơ bản của công dân được hai Hiến pháp ghi nhận là sự cụ thể hóa các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, thể hiện thái độ trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta là luôn luôn tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người nói chung, các quyền xã hội của con người nói riêng ở Việt Nam.

Thứ hai, các quyền xã hội cơ bản luôn luôn là bộ phận cấu thành trong hệ thống những quyền hiến định của công dân và có quan hệ chặt chẽ với các quyền khác về kinh tế, chính trị, dân sự, văn hóa (Hiến pháp năm 1980 quy định 45 quyền, trong đó có 17 quyền xã hội ; Hiến pháp năm 1992 quy định 55 quyền, trong đó có 20 quyền xã hội).

Thứ ba, các quyền xã hội cơ bản của công dân được hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức qua hai Hiến pháp. Điều đó nói lên rằng, xã hội Việt Nam không ngừng biến đổi theo hướng tích cực và nhu cầu mọi mặt liên quan tới sự tồn tại và phát triển toàn diện của con người cũng ngày càng tăng lên, đòi hỏi phải được đáp ứng ; mặt khác, thể hiện sự phát triển liên tục của nền lập hiến nước nhà, mà trước hết là kỹ thuật lập hiến – từ chỗ Hiến pháp chủ yếu quy định những đối tượng cần được Nhà nước, xã hội giúp đỡ về mặt xã hội, tới việc xác định rõ, cụ thể công dân có quyền được hưởng gì, quyền được làm gì. Rõ ràng, đó là quá trình phát triển của nền lập hiến Việt Nam, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, gắn liền với sự phát triển đi lên của đất nước.

Thứ tư, cùng với những quyền hiến định của công dân, các quyền xã hội cơ bản là những giá trị xã hội quý báu được thừa nhận chung, mà sự tôn trọng và hiện thực hóa chúng là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động của Nhà nước và xã hội, vì mục tiêu : “Tất cả vì con người, cho con người”. Từ đây thấy cần phải hoàn thiện bảo đảm pháp lý cho các quyền công dân nói chung, các quyền xã hội nói riêng, về phương diện tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước và về pháp luật.

Thứ năm, các quyền hiến định của công dân nói chung, các quyền xã hội cơ bản nói riêng, phản ánh địa vị làm chủ của công dân trong xã hội, khi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Bởi thế cho nên, mỗi cá nhân cần luôn có ý thức tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích của Nhà nước và xã hội ; sử dụng đúng quyền của mình và thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh nghĩa vụ đối với Nhà nước, xã hội theo các nguyên tắc : “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân” (Điều 51 Hiến pháp năm 1992), “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52 Hiến pháp năm 1992).

* TÁC GIẢ HIỆN LÀ PGS.TS 

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 27 – NĂM 2002

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 671 other followers

%d bloggers like this: