TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP – CSR: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CSR Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ĐÌNH CUNG – LƯU MINH ĐỨC

Thời gian gần dây, du luận dang quan tâm chặt chẽ và bức xúc dối với hàng loạt vụ vi phạm dạo dức kinh doanh, xâm hại môi truờng và sức khỏe con nguời ở mức dộ nghiêm trọng; diển hình là vụ sữa nhiễm melamine của Trung Quốc và vụ xả trực tiếp chất thải không qua xử lý ra sông Thị Vải của công ty Vedan ở Việt Nam. Sự dúng – sai trong những vụ việc trên là rõ ràng. Tuy nhiên, dối với xã hội và hàng ngàn doanh nghiệp dang hoạt dộng khác, bài toán về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) lại duợc dặt ra và cần duợc thảo luận nghiêm túc cả về mặt lý luận chính sách và thực tiễn.

Một công ty cần phải làm những gì dể có thể duợc xã hội dánh giá là một công ty tốt và phát triển bền vững? Trách nhiệm của co quan quản lý nhà nuớc tới dâu? Luật nên quy dịnh trách nhiệm của doanh nghiệp dến mức dộ nào thì hợp lý? Và phải chang nguời tiêu dùng ở các nuớc dang phát triển nhu Việt Nam có quá ít quyền lực, dễ bị tổn thuong, hoặc họ cung không ý thức duợc dầy dủ và sử dụng hết các quyền và phuong tiện của mình dể bảo vệ những lợi ích chính dáng của họ? Nhằm góp phần giải dáp các câu hỏi trên, chúng tôi tiếp cận từ góc dộ kinh nghiệm quốc tế trong linh vực này với suy nghi rằng các nền kinh tế phát triển dều dã từng dối mặt với những vấn dề chúng ta gặp phải ngày hôm nay, do dó những cuộc tranh luận và giải pháp của họ rất dáng dể chúng ta tham khảo.

Kể từ khi xuất hiện khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility- CSR) lần dầu tiên vào nam 1953, chủ dề này dã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai truờng phái quản trị dại din”da bên” trong quản trị công ty; trên bình diện lớn hon, dây là sự tranh chấp giữa chủ nghia tu bản tự do (bảo thủ, cánh hữu) và chủ nghia tu bản xã hội (dân chủ, cánh tả). Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai vấn dề then chốt trong CSR là: (i) bản chất của doanh nghiệp hiện dại, và (ii) mối quan hệ ba bên: doanh nghiệp- xã hội- nhà nuớc.

1. Cuc tranh lun v CSR Ðại diện nổi bật nhất cho chủ thuyết quản trị “dại diện” là Milton Friedman [6].

Trong một bài báo viết cho tờ New York Times tháng 9/1970, ông nêu rõ: “Doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối da hóa lợi nhuận, gia tang giá trị cổ dông, trong khuôn khổ luật choi của thị truờng là cạnh tranh trung thực và công bằng.” Theo ông, nguời quản lý doanh nghiệp (thành viên hội dồng quản trị và ban giám dốc) là những nguời dại diện cho chủ sở hữu/ cổ dông dứng ra quản lý công ty. Họ duợc bầu hoặc duợc thuê dể dẫn dắt công ty theo cách mà các cổ dông muốn, da phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt, dồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội co bản vốn dã duợc thể hiện trong luật và các nguyên tắc dạo dức phổ biến. Ðó chính là bản chất vì- li nhun (for-profit) của doanh nghiệp và nguời quản lý doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm dối với cổ dông là nguời chủ sở hữu công ty dã lựa chọn họ dể làm dại diện. Do dó, nếu nguời quản lý công ty muốn, anh ta có toàn quyền dể thực hiện các trách nhiệm xã hội dựa trên nhận thức và tình cảm của riêng mình và bằng thời gian và tiền bạc của cá nhân, nhung không duợc sử dụng nguồn lực của công ty và nhân danh công ty, nếu không duợc cổ dông ủy thác dể làm việc dó.

Thứ hai, công ty vốn là một chủ thể “vô tri vô giác” do con nguời tạo ra; do dó công ty không thể tự nhận thức và gánh vác nghia vụ dạo dức vốn chỉ có con nguời mới có. Bởi vì chỉ có từng cá nhân con nguời mới có luong tâm dể nhận thức sự việc dúng- sai.

Hon nữa, các trách nhiệm xã hội thuộc linh vực của nhà nuớc, là chủ thể cung cấp các dịch vụ công, vì lợi ích công cộng và phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nuớc mới có dủ thông tin dể quyết dịnh dúng dắn trong việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Và cấu trúc tam quyền phân lập dã dảm bảo sự phân bổ dó duợc công bằng và có kiểm soát. Trách nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tang, phát triển công nghệ (bởi vì doanh nghiệp là chủ thể vì- lợi nhuận duy nhất trong xã hội), dem lại lợi nhuận, tạo ra việc làm và thu nhập cho nguời lao dộng. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp dối với nhà nuớc là dóng góp thuế. Và trách nhiệm của nhà nuớc là làm sao sử dụng tiền thuế dó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng. Nhu vậy, nếu doanh nghiệp cung thực hiện các trách nhiệm xã hội thì sẽ có sự trùng lặp và doanh nghiệp sẽ trở thành nguời vừa dóng thuế, vừa quyết dịnh việc chi tiêu khoản thuế dó ra sao. Nguời quản lý doanh nghiệp khi ấy sẽ trở thành một nhân viên công vụ hon là một nguời dại diện cho lợi ích của cổ dông.

Mặt khác, kể cả khi một nguời quản lý doanh nghiệp duợc sử dụng nguồn lực của công ty dể thực hiện trách nhiệm xã hội dựa trên phán doán chủ quan của mình, thì không có gì dảm bảo rằng quyết dịnh của anh ta là sáng suốt và dúng dắn cho mục tiêu xã hội cuối cùng, vì anh ta không phải là một chuyên gia về xã hội, mà là một chuyên gia về quản lý và kinh doanh và dó là lý do anh ta duợc cổ dông cử làm dại diện và gửi gắm niềm tin trong việc quản lý doanh nghiệp. Do dó, nếu muốn thực hiện trách nhiệm xã hội, các cổ dông có thể làm với tu cách cá nhân, tự nguyện và tách biệt với công ty (vốn có sở hữu của cả các cổ dông khác) mà không nên thông qua công ty và những nguời quản lý công ty.

Từ quan diểm này, truờng phái phản dối CSR cho rằng các chuong trình của doanh nghiệp lấy tên “trách nhim xã hi” chỉ là những chuong trình PR dạo dức giả, mà thực chất mục tiêu cuối cùng vẫn là vì- lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi.

Những nguời ủng hộ CSR không bác bỏ toàn bộ những lập luận trên. Nhung họ dua ra một lập luận khác cung hết sức thuyết phục là bản thân công ty khi di vào hoạt dộng dã là một chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực của xã hội và môi truờng, do dó có thể tác dộng tiêu cực tới xã hội và môi truờng. Vì vậy, doanh nghiệp phải có ý thức về những tác dộng từ hoạt dộng sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm với chính hành vi của mình truớc xã hội. Henry Mintzberg dã lấy ví dụ công ty Dow Chemicals quyết dịnh bán chất Napalm cho quân dội Mỹ dể sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, dể lại hậu quả nặng nề cho hàng triệu nạn nhân chất dộc da cam [5]. Có thể nói bản chất của doanh nghiệp không thể chỉ vì- lợi nhuận mà doanh nghiệp ngay từ dầu dã dóng vai trò của một “công dân” trong xã hội với tất cả nghia vụ và quyền lợi thích hợp của mình trong dó. Chính khái niệm “công dân doanh nghip” (corporate citizenship) dã ra dời trong trào luu CSR này.

Thực vậy, nếu chỉ nhìn nhận don giản khi cho rằng doanh nghiệp hoạt dộng duy nhất vì- lợi nhuận và bù dắp lại chi phí xã hội, cung nhu “trả tiền” cho các dịch vụ công mà doanh nghiệp huởng lợi thông qua việc dóng thuế, chúng ta sẽ thấy những ô nhiễm môi truờng và chi phí xã hội mà doanh nghiệp gây ra có thể lớn hon rất nhiều lần lợi ích mà công ty này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm (nhu truờng hợp công ty Vedan). Doanh nghiệp không thể kêu gọi sự “trung tính” của mình. Tất cả sự kiện của doanh nghiệp nhu khai truong dòng sản phẩm mới, dặt một nhà máy, dóng cửa một chi nhánh…. dều kéo theo những hệ quả xã hội nhất dịnh. Do dó, không thể tách rời hoàn toàn giữa tính chất kinh tế và xã hội khi nhìn nhận bản chất và hoạt dộng của doanh nghiệp.

Và nguời quản lý với tu cách là nguời thác quản doanh nghiệp cần thực hiện các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì nghia vụ và lợi ích của chính doanh nghiệp mình. Trách nhiệm của họ không phải là việc quyết dịnh diều gì tốt hay xấu cho xã hội, mà là dáp ứng những diều mà xã hội mong muốn và trông dợi ở doanh nghiệp nhu một thành viên dầy dủ trong dó. CSR chính là lực cản cuối cùng giúp giữ doanh nghiệp không di quá dà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực dạo dức (vốn không phải lúc nào cung duợc thể hiện dầy dủ bằng các quy dịnh pháp luật), bỏ quên những tác dộng tiêu cực của mình dến các thành phần khác trong xã hội.

Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội còn vì lợi ích tang truởng và phát triển bền vững của chính mình. Ðiều tra của Bowman & Haire từ nam 1973 dã cho thấy nhóm các công ty cam kết với CSR có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROE) cao hon các công ty khác (14.7% so với 10.2%). Khác với mô hình công ty gia dình truớc kia, doanh nghiệp hiện dại thuờng là các công ty cổ phần dại chúng, hoạt dộng da ngành nghề, da quốc gia. Do dó, ngày nay doanh nghiệp không chỉ hoạt dộng trong môi truờng don nhất duợc giám sát bởi các co chế thị truờng thuần túy kinh tế (giá cả, cạnh tranh, thị truờng chứng khoán), mà còn chịu tác dộng của các co chế xã hội- chính trị- môi truờng. Ðáng chú ý, hai hệ thống này có sự tác dộng qua lại với nhau. Thực tế cho thấy nguời tiêu dùng và nhà dầu tu ngày càng tính dến các tiêu chí thành tích của công ty về dạo dức, lao dộng, môi truờng, xã hội trong các quyết dịnh tiêu dùng hay dầu tu của mình. Hon thế nữa, không chỉ liên quan dến tính cạnh tranh, CSR còn liên quan trực tiếp dến tính bền vững của công ty. Những vụ dổ vỡ của tập doàn Enron, công ty kiểm toán Arthur Anderson, hoặc ngay vụ các cây xang gian lận bị rút giấy phép là những minh chứng rõ nét nhất cho thấy rằng thiếu CSR, doanh nghiệp sẽ tự loại mình ra khỏi thị truờng và cộng dồng doanh nghiệp.

2. Phong trào CSR các nuớc phát trin

CSR dã trở thành một phong trào thực thụ và truởng thành, phát triển rộng khắp thế giới. Nếu chúng ta tra cứu các cụm từ có gốc “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” bằng tiếng Anh trên Google, chúng ta sẽ thấy có hon 70 triệu luợt tìm kiếm (chua kể các cụm từ về CSR ở từng nuớc cụ thể). Hàng vạn bài báo, nghiên cứu, sách, tạp chí, diễn dàn, trang web của các tổ chức NGOs, giới khoa học, doanh nghiệp, tu vấn, báo chí và chính phủ bàn về chủ dề CSR.

Nguời tiêu dùng tại các nuớc Âu-Mỹ hiện nay không chỉ quan tâm dến chất luợng sản phẩm mà còn coi trọng cách thức các công ty làm ra sản phẩm dó, có thân thiện với môi truờng sinh thái, cộng dồng, nhân dạo, và lành mạnh. Nhiều phong trào bảo vệ quyền lợi nguời tiêu dùng và môi truờng phát triển rất mạnh, chẳng hạn nhu phong trào tẩy chay thực phẩm gây béo phì (fringe foods) nhằm vào các công ty sản xuất dồ an nhanh, nuớc giải khát có ga; phong trào thuong mại công bằng FairTrade (bảo dảm diều kiện lao dộng và giá mua nguyên liệu của nguời sản xuất ở các nuớc thế giới thứ 3), phong trào tẩy chay sản phẩm sử dụng lông thú, tẩy chay sản phẩm bóc lột lao dộng trẻ em (nhằm vào công ty Nike, Gap), phong trào tiêu dùng theo luong tâm (shopping with a conscience)…

1Truớc áp lực từ xã hội, hầu hết các công ty lớn dã chủ dộng dua CSR vào chuong trình hoạt dộng của mình một cách nghiêm túc. Hàng nghìn chuong trình dã duợc thực hiện nhu tiết kiệm nang luợng, giảm khí thải carbon, sử dụng vật liệu tái sinh, nang luợng mặt trời, cải thiện nguồn nuớc sinh hoạt, xóa mù chữ, xây dựng truờng học, cứu trợ, ủng hộ nạn nhân thiên tai, thành lập quỹ và trung tâm nghiên cứu vắc-xin phòng chống Aids và các bệnh dịch khác ở các nuớc nhiệt dới, dang phát triển. Có thể kể dến một số tên tuổi di dầu trong các hoạt dộng này nhu TNT, Google, Intel, Unilever, CocaCola, GE, Nokia, HSBC, Levi Strauss, GlaxoSmithKline, Bayer, DuPont, Toyota, Sony, UTC, Samsung, Gap, BP, ExxonMobil…2 . Theo tổ chức Giving USA Foundation, số tiền các doanh nghiệp dóng góp cho các hoạt dộng xã hội trên tòan thế giới lên dến 13,77 tỷ USD (nam 2005) và gần 1.000 công ty duợc dánh giá là “công dân doanh nghiệp tốt”. Nổi bật là truờng hợp ngân hàng Grameen do TS. Muhammad Yunus dã cung cấp tín dụng vi mô cho 6,6 triệu nguời, trong dó 97% là phụ nữ nghèo ở Bangladesh vay tiền dể cải thiện cuộc sống (ông dã duợc trao giải Nobel hòa bình nam 2006). Hiện nay, hầu hết các công ty da quốc gia dều xây dựng các bộ quy tắc ứng xử (code of conduct) có tính chất chuẩn mực áp dụng dối với nhân viên của mình trên tòan thế giới. Lợi ích dạt duợc qua những cam kết CSR dã duợc ghi nhận. Không những hình ảnh công ty duợc cải thiện trong mắt công chúng và nguời dân dịa phuong giúp công ty tang doanh số bán hàng hay thực hiện các thủ tục dầu tu duợc thuận lợi hon, mà ngay trong nội bộ công ty, sự hài lòng và gắn bó của nhân viên với công ty cung tang lên, cung nhu các chuong trình tiết kiệm nang luợng giúp giảm chi phí hoạt dộng cho công ty không nhỏ.

3Có thể nói CSR dã có chỗ dứng khá vững chắc trong nhận thức của giới doanh nghiệp. Một số trung tâm, viện nghiên cứu về trách nhiệm doanh nghiệp dã duợc các truờng dại học ở Mỹ thành lập. 78% sinh viên ngành quản trị doanh nghiệp cho rằng chủ dề CSR nên duợc dua vào các chuong trình giảng dạy. Trong cuộc khảo sát của công ty McKinsey nam 2007, 4 84% số quản trị viên cao cấp duợc hỏi cho rằng việc dóng góp vào các mục tiêu xã hội của cộng dồng cần duợc tiến hành song song với việc gia tang giá trị cổ dông, trong khi chỉ có 16% cho rằng lợi nhuận là mục tiêu duy nhất. 51% và 48% ý kiến lần luợt cho rằng môi truờng (trong số 15 vấn dề chính trị- xã hội khác nhau) là vấn dề hàng dầu tập trung sự chú ý của công luận, và có ảnh huởng tiêu cực hoặc tích cực nhất dối với giá trị cổ dông trong nam nam tới. Khi duợc hỏi về ảnh huởng xấu mà các công ty lớn có thể gây ra cho cộng dồng, 65% trả lời- ô nhiễm môi truờng, 40%- dặt lợi nhuận lên trên sức khỏe con nguời, 30%- gây áp lực chính trị. Về các ảnh huởng tích cực mà doanh nghiệp dem lại thì tạo việc làm duợc xếp cao nhất (65%), tiến bộ khoa học công nghệ (43%), cung cấp sản phẩm- dịch vụ cho nhu cầu con nguời (41%), nộp thuế (35%).

3. Mt s khái nim CSR: Có rất nhiều dịnh nghia khác nhau về CSR. Mỗi tổ chức, công ty, chính phủ nhìn

nhận CSR duới những góc dộ và quan diểm riêng, phụ thuộc vào diều kiện, dặc diểm và trình dộ phát trển của mình. Keith Davis (1973) dua ra một khái niệm khá rộng “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn dề vuợt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”. Trong khi dó, Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hon “là tất cả các vấn dề kinh tế, pháp lý, dạo dức, và những linh vực khác mà xã hội trông dợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời diểm nhất dịnh.” Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác nhu dạo dức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi truờng. Ðó là một khái niệm dộng và luôn duợc thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội dặc thù.” Nhu vậy, bản chất của CSR là quan diểm về vai trò của doanh nghiệp trong mối tuong quan với vai trò của nhà nuớc khiến khái niệm CSR luôn biến dổi, luôn mới tùy thuộc không những phạm vi không gian mà còn thời gian noi cuộc tranh luận về CSR diễn ra…..

TẢI VỀ ĐỂ ĐỌC TOÀN VĂN BÀI VIẾT TẠI ĐÂY

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN KINH TẾ VIỆT NAM – vnep.org.vn

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 621 other followers

%d bloggers like this: