BẢO ĐẢM ĐỊNH HƯỚNG NỀN KINH TẾ TRONG ĐA DẠNG HOÁ CÁC HÌNH THỨC CÔNG HỮU

TS. NGUYỄN MINH KHẢI – Học viện Chính trị-Quân sự

Trong công cuộc đổi mới kinh tế hiện nay ở nước ta, việc giải quyết vấn đề sở hữu, trong đó có quan hệ giữa công hữu và tư hữu, các hình thức của chế độ công hữu cũng như quan hệ của các vấn đề đó đối với tiến trình định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế, đang là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.

Chúng ta đều biết, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (chế độ sở hữu xã hội) là chế độ mà quyền chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về xã hội dưới nhiều hình thức do nhân dân lao động làm chủ (quan hệ sở hữu chỉ được gọi là chế độ sở hữu một khi nó được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nghĩa là nó chỉ tồn tại khi còn nhà nước).

Theo chúng tôi, khi bàn đến chế độ công hữu với tư cách vừa là phương tiện kinh tế, vừa là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay cần khai thác thêm một số khía cạnh, như: quy mô của chế độ công hữu (quan hệ về lượng giữa công hữu và tư hữu); trình độ của chế độ công hữu (quan hệ về chất giữa công hữu và tư hữu); đặc biệt cần quan tâm đến các hình thức của chế độ công hữu trong tiến trình định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta.

Về những hình thức cụ thể, có lẽ cũng không nên chỉ đóng khung chế độ công hữu trong hai hình thức sở hữu chính, đó là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Trên thực tế việc thừa nhận thành phần kinh tế nhà nước theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ lợi ích và vốn của nhà nước có cả trong những thành phần kinh tế khác dưới hình thức góp vốn, liên doanh, liên kết, tô nhượng… đã phần nào nói lên tính chất đa dạng của chế độ công hữu. Trên cơ sở những nhận thức mới về hình thức của chế độ công hữu cần có sự gắn kết ngay từ đầu các hình thức công hữu phù hợp với trình độ và quy mô công hữu, có như vậy chúng ta mới triệt để khắc phục được những sai lầm giáo điều, chủ quan, duy ý chí trước đây.

(more…)

BÁO CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

(Lược ghi) - Cổ phần hoá các DNNN thời gian qua đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nhưng việc cổ phần hoá, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng thực hiện còn chậm.

Các DNNN đã cổ phần hoá, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn ngoài xã hội trong quá trình cổ phần hoá DNNN còn hạn chế do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài. Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá.

Thời gian thực hiện cổ phần hoá một doanh nghiệp còn dài, làm tiến độ cổ phần hoá chậm.

Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hoá đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%.

Vốn nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cổ phần chi phối, phổ biến nhất là trong các tổng công ty nhà nước thuộc các ngành xây dựng, giao thông.

(more…)

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP

VÕ HƯƠNG

Thời gian trước đây, khi nói về việc xây dựng và phát triển một doanh nghiệp, người ta hay nói đến mục tiêu tiên quyết là lợi nhuận. Nhưng ngày nay đã có nhiều lập luận được đưa ra phản đối lại quan điểm trên. Nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân để một doanh nghiệp có thể tồn tại hàng trăm năm, nối tiếng ở hàng trăm quốc gia và giữ được lòng mến mộ của hàng triệu khách hàng, đó là Thương hiệu doanh nghiệp và nó đã trở thành một yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.

Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển và mới bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nhưng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận ra vai trò của thương hiệu trong sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà ta có thể tự hào khi nhìn thấy các sản phẩm thương hiệu “cà phê Trung Nguyên” được bày bán nhiều nơi trên thế giới, logo “Vietnam Airline” được nhiều người khách nước ngoài nhận biết, và biểu tượng SSI của Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn được nhiều nhà đầu tư tài chính nước ngoài biết đến,…

Tuy nhiên, ở một bộ phận doanh nghiệp khác của Việt Nam, việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu chưa được quan tâm đúng mức trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Bài viết này xin được cung cấp một cái nhìn sâu hơn về thương hiệu doanh nghiệp, qua đó có thể đóng góp thêm ý kiến về việc xây dựng và phát triển thương hiệu trong tổng thể chiến lược phát triển doanh nghiệp.

(more…)

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU VÉ SỐ TRÚNG THƯỞNG: TRÚNG ĐỘC ĐẮC THÀNH NGƯỜI TRẮNG TAY

NGUYỄN THE

Người bán vé số khai: “… không biết ai trúng thưởng” nhưng hai cấp tòa lại phán cho một bên thắng kiện!

Bà N. và bà V. (cùng ngụ huyện Bình Long, Bình Phước) là chỗ thân tình nên thường xuyên qua lại thăm hỏi nhau. Sáng một ngày tháng 3-2007, bà N. đến nhà bà V. chơi, tình cờ thấy một người bán vé số dạo đi ngang.

Biết tính bạn hay mua vé số, bà N. liền gọi người bán dạo vào, nói bà V. mua giúp người này 20 tờ vé số cuối cùng (đài Bà Rịa-Vũng Tàu). Toàn bộ số vé này sau đó đều không trúng giải.

Vì tiền mất bạn

Hôm sau, bà V. tiếp tục mua một xấp vé số (đài Đồng Nai) từ một người bán dạo khác. Sau khi dò, bà phát hiện mình đã trúng hai tờ độc đắc, trị giá tổng cộng 250 triệu đồng.

Biết chuyện, hai ngày sau, bà N. đã tìm đến nhà bà V. nói hai tờ vé số trúng độc đắc ấy là của mình. Bà N. lý giải rằng hai tờ vé số này bà để lộn trong xấp 20 tờ mà bà đã bảo bà V. mua ủng hộ người bán dạo bữa nọ.

Hai bên tranh cãi nhau khá căng thẳng. Bàn đi tính lại, gia đình bà V. khuyên bà nên chia cho bà N. một phần tiền trong số 250 triệu đồng trúng số. Vì không muốn mối quan hệ thân tình giữa hai bên bị rạn nứt, cuối cùng bà V. đã đồng ý và quyết định cho bạn 50 triệu đồng.

(more…)

AI KHỞI KIỆN ĐÒI VEDAN BỒI THƯỜNG CHO NHÀ NƯỚC?

TS. PHAN ĐĂNG THANH

UBND tỉnh hay cơ quan Tài nguyên và Môi trường đứng đơn kiện? Tiền bồi thường cho nhà nước là nguồn thu quan trọng đang bị bỏ quên!

Mới đây, có nhiều ý kiến cho rằng trong việc đòi Vedan bồi thường, bên cạnh việc người dân bị thiệt hại đứng đơn kiện, nhà nước – với tư cách chủ sở hữu tài nguyên sông nước, đại diện cho lợi ích chung của xã hội cũng có quyền và phải đứng ra kiện để đòi bồi thường thiệt hại cho mình. Đây là vấn đề hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ và pháp luật cũng chưa quy định rõ ràng, đầy đủ.

Chúng tôi giới thiệu bài viết của luật sư – tiến sĩ Phan Đăng Thanh như là một sự gợi mở để cùng bàn luận thêm, góp phần làm sáng tỏ vấn đề.

Nhà nước có quyền kiện đòi bồi thường

Ở nước ta, đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước… đều là tài sản thuộc sở hữu toàn dân (Điều 19 Hiến pháp năm 1980, Điều 17 Hiến pháp năm 1992, Điều 205 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995). Gần đây về mặt pháp lý, chúng ta gọi đó là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước, tức là tài sản của nhà nước, do nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu (Điều 200, 201 BLDS năm 2005). Như vậy, hành vi thải các chất (ở thể rắn, lỏng, khí) có chứa yếu tố độc hại, gây ô nhiễm môi trường, tạo ảnh hưởng xấu cho con người, bên cạnh việc gây thiệt hại cho phần đã giao cá nhân, tổ chức sử dụng, còn xâm phạm đến phần tài sản còn lại do nhà nước trực tiếp quản lý, sử dụng.

(more…)

BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CAM KẾT WTO VỀ THỦ TỤC ĐẦU TƯ

CIEM – DANIDA PROJECT

I. WTO VÀ CÁC CAM KT LIÊN QUAN ÐẾN ÐẦU TU TRC TIP NUỚC NGOÀI DÀNH CHO CÁC NUỚC ÐANG PHÁT TRIN

1. Các hip dịnh liên quan dến đu tư trc tiếp nuớc ngoài

Việc gia nhập WTO có ảnh huởng trực tiếp dến dầu tu trực tiếp nuớc ngoài thông qua bốn hiệp dịnh của WTO sau dây.

Hip đnh v tr cp và các bin pháp đi kháng (SCM): Các chính phủ có thể dùng trợ cấp dể dạt các mục dích khác nhau nhung không duợc làm méo mó th uong mại. Hiệp dịnh không hạn chế quyền hạn của chính phủ phê duyệt trợ cấp nhung cấm dùng trợ cấp gây bất lợi về thuong mại cho các n uớc khác. Các nuớc dang phát triển có thời kỳ quá dộ 8 nam dể chuyển dổi các loại trợ cấp cho phù hợp với Hiệp dịnh này, nhung trong thời gian này không duợc tang trợ cấp xuất khẩu. Quy tắc chống trợ cấp không sử dụng dối với các nuớc chậm phát triển và có GDP bình quân dầu nguời duới 1000USD.

Theo Hiệp dịnh này, các biện pháp khuyến khích dầu tu (bao gồm uu dãi về thuế, hỗ trợ tài chính và các biện pháp hỗ trợ gián tiếp) sẽ bị coi là trợ cấp nếu nhu các hoạt dộng liên quan tới dóng góp tài chính của chính phủ hoặc của một co quan nhà nuớc không nhất quán với những hoạt dộng mang tính thuong mại mà các nhà dầu tu tu nhân có thể chấp nhận. Các biện pháp dó bao gồm giao vốn trực tiếp (cấp vốn, các khoản cho vay hoặc góp vốn của chính phủ), bảo lãnh các khoản vay, chính phủ miễn thuế các khoản thu dáng lẽ phải dóng, chính phủ cung ứng hàng hóa dịch vụ hay mua hàng với giá thấp hon giá thị truờng.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: