NGHĨ VỀ VIỆC HỌC

VƯƠNG TRÍ NHÀN

Đầu năm 2006, một người Mỹ nói thẳng là thanh niên Việt Nam không có nhu cầu hiểu biết mà chỉ lo học lấy bằng để kiếm sống. Thoạt nghe tôi cũng bị sốc. Một xã hội mà lớp trẻ chỉ lo kiếm sống và không có nhu cầu hiểu biết thì xã hội đó phát triển làm sao được! Đến khi đọc lại thấy từ đầu thế kỷ XX, các nhà trí thức của mình cũng đã nói nhiều đến chuyện này. Từ kinh nghiệm bản thân mà suy, những bậc chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… đã lên án gay gắt lối học khoa cử. Khi nói vậy, cũng tức là các nhà tri thức đó đã khẳng định chúng ta chưa có một nền học như chúng ta mong muốn hoặc như lẽ ra phải có.

Đấy chính là điều khái quát mà trong lúc tỉnh táo và nhìn rộng ra thế giới, nhiều người dễ đồng tình. Tuy nhiên trong thực tế, những lời cảnh tỉnh đó ít được lắng nghe. Trong nhu cầu khẳng định dân tộc trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, lâu nay chúng ta bằng lòng với cái nhìn hời hợt, rồi xoay sang huyền thoại hóa lòng ham học, biến nó thành điều tự hào quá mức… Bởi vậy, nên trước một vài nhận xét của người ngoài, ta có bị sốc thì cũng dễ hiểu.

Kết quả là sự học theo đúng nghĩa của nó, cái học của một cộng đồng bao giờ cũng dẫn tới hai kết quả: Một là dân tộc đó, cộng đồng đó có một kho tàng kiến thức phong phú, do phát triền theo quy luật chung của tư duy nên dễ hòa hợp với kiến thức chung của nhân loại; hai là ở đó hình thành một lớp người ưu tú mang tên tầng lớp tri thức. Cả hai phương diện này ở ta đều yếu kém.

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT SAU GẦN HAI MƯƠI NĂM ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

TS. HOÀNG MINH THẢO – Học viện Chính trị quân sự

I. Vì sao Việt Nam đa dạng hoá hình thức sở hữu ?

Đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nước ta là tất yếu khách quan, xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây:

Trước hết, từ đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nền kinh tế chưa thể đơn nhất hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Nhận thức tính khách quan của sự tồn tại các loại hình sở hữu trong thời kỳ quá độ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: "… phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao, với sự đa dạng về hình thức sở hữu".

Hai là, từ sự phát triển không đều của lực lượng sản xuất giữa các vùng, ngành kinh tế ở nước ta hiện nay.

Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, lại trải qua chiến tranh lâu dài. Do đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất rất không đều nhau giữa các vùng, ngành kinh tế của đất nước ; giữa miền xuôi với miền ngược ; giữa thành thị với nông thôn sự phát triển của lực lượng sản xuất không đều nhau. Chính vì thế, đòi hỏi phải có các hình thức sở hữu tương ứng, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở từng vùng, miền và từng ngành kinh tế khác nhau. Điều đó cũng có nghĩa là, với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay, chưa thể đơn nhất hoá, mà đa dạng hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trở thành tất yếu khách quan.

Ba là, từ thực tiễn nước ta trước đây và hiện nay.

(more…)

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: BẢN ÁN CÓ TRƯỚC, XÉT XỬ SAU?

MINH QUANG – THÁI LINH

Trong một vụ kiện đòi tài sản, cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm (tòa án nhân dân – TAND – TP Hòa Bình và tỉnh Hòa Bình) đều ghi ngày sai, trước ngày vụ án thật sự được đưa ra xét xử.

Ngày 19-3-2008, TAND TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình thụ lý vụ kiện đòi tài sản do bà Trần Thị Soạn (trú tại Trung Cao, xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây) kiện ông Vũ Thái Sơn (tổ 15, phường Đồng Tiến, tỉnh Hòa Bình), yêu cầu trả nợ 100 triệu đồng.

Theo đơn khởi kiện của bà Soạn, trong quá trình làm ăn bà cho ông Sơn vay tiền nhiều lần, trong đó có một lần cho vay 200 triệu đồng và nhờ ông Lèo Văn Hói chuyển tiền. Ông Sơn cũng thừa nhận có nhận tiền vay bà Soạn qua ông Hói nhưng số tiền chỉ là 100 triệu đồng. Do đó, ông Sơn không đồng ý thanh toán thêm khoản nợ 100 triệu đồng như bà Soạn yêu cầu.

Trong hai ngày 29 và 30-9-2008, TAND TP Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình) mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ kiện trên, tuyên buộc ông Sơn phải trả cho bà Soạn 100 triệu đồng. Sau đó, ngày 26-11-2008, phiên tòa phúc thẩm do TAND tỉnh Hòa Bình mở cũng tuyên y án sơ thẩm.

Ngày xử án và ngày ghi trên bản án khác nhau

Tuy nhiên, trong vụ án này cả hai bản án của TAND TP Hòa Bình và TAND tỉnh Hòa Bình đều có vấn đề về ngày tháng. Cụ thể, bản án sơ thẩm số 11/2008/DSST của TAND TP Hòa Bình được chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Hoàng Viết Lực ký, ghi ngày 9-9-2008, trước ngày mở phiên tòa xét xử tới 20 ngày. Bản án phúc thẩm số 27/2008/DSPT của TAND tỉnh Hòa Bình, do chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Nguyễn Thị Thúy Oanh ký, ghi ngày 24-11-2008, trước ngày xét xử hai ngày. Cho rằng có dấu hiệu xét xử theo kiểu “án bỏ túi” nên bị đơn đã gửi đơn khiếu nại đến TAND tối cao.

(more…)

KHÁC BIỆT VÀ PHỨC TẬP SO VỚI CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

NGUYỄN VĂN TUẤN

Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) lại vừa ra qui định và tiêu chuẩn mới cho chức danh giáo sư và phó giáo sư. Qui định mới có phần hợp lí hơn so với các qui định trước, nhưng vẫn còn rất khác và phức tạp hơn so với các chuẩn mực ở nước ngoài.

Cách tính điểm bài báo khoa học. Theo qui định mới, “bài báo khoa học đặc biệt xuất sắc được đăng trên các tạp chí hàng đầu quốc tế và Việt Nam được nhiều người trích dẫn” có điểm tối đa là 2. Ở đây có hai vấn đề. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tập san khoa học (khoảng 108.000 tập san và con số vẫn gia tăng) với chất lượng thượng vàng hạ cám, dù chúng đều có danh xưng “quốc tế” đâu đó trong tên gọi. Để sàng lọc thật và giả, Viện Thông tin Khoa học (Mỹ) căn cứ vào một số tiêu chuẩn về hoạt động và thời gian lập nên một danh sách chỉ trên dưới 5000 tập san mà giới chuyên môn công nhận là “nghiêm chỉnh”. 
Viện Thông tin Khoa học còn phát triển một chỉ số để đánh giá chất lượng của một tập san, và chỉ số đó có tên là “hệ số ảnh hưởng” (impact factor, IF). Chỉ số IF dao động từ 0 đến 80 giữa các tập san. Nói chung, tập san có IF cao cũng là tập san có uy tín cao và ảnh hưởng lớn hơn các tập san có IF thấp. Nhưng IF còn tùy thuộc vào bộ môn khoa học, với những bộ môn thực nghiệm thường có IF cao hơn các bộ môn như xã hội học và toán học. Theo tôi biết, chưa một tập san khoa học nào của Việt Nam có chỉ số IF. 
Những vấn đề thực tế trên cho thấy không thể đánh giá một công trình đăng trên tập san Việt Nam bằng một công trình đăng trên một tập san quốc tế với IF trên 10. Tương tự, cũng không thể xem một bài báo trên một tập san ở Úc, Nhật, Hàn Quốc, hay Trung Quốc với chỉ số IF < 1 bằng một bài báo trên một tập san ở Mỹ với IF > 20, dù tất cả đều là “tập san quốc tế”.  Ngoài ra, cũng không thể đánh giá IF của tập san toán giống với một tập san ngành y học. Do đó, không nên cho điểm một bài báo khoa học một cách máy móc mà không xem đến tập san bài báo đó được công bố.

(more…)

CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TS. LÊ HỒNG TIỄN

Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương củng cố và phát triển doanh nghiệp nhà nước ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Nhưng có ý kiến cho rằng, doanh nghiệp nhà nước không thích hợp với cơ chế thị trường, kém hiệu quả, trở thành gánh nặng cho nền kinh tế quốc dân, nên tư nhân hóa càng sớm càng tốt. Vì lý do đó, ở đây cần làm rõ sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước.

Một thực tế khách quan là, hiện nay doanh nghiệp nhà nước đang tồn tại ở hầu hết các nước trên thế giới, không chỉ ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà cả ở những nước tư bản chủ nghĩa.

Sự tồn tại doanh nghiệp nhà nước ở nước ta cũng như ở các nước có chế độ chính trị và trình độ phát triển khác nhau là do nhiều nguyên nhân trong đó những nguyên nhân chủ yếu là:

1 – Do yêu cầu quản lý vĩ mô nền kinh tế.

Yêu cầu này bắt nguồn từ sự phát triển lực lượng sản xuất với trình độ xã hội hóa ngày càng cao. Điều này đòi hỏi phải có sự điều tiết vĩ mô từ một trung tâm quyền lực nhà nước. Và để thực hiện sự điều tiết này, Nhà nước không chỉ sử dụng các công cụ pháp luật, kế hoạch, chính sách kinh tế các lực lượng vật chất mà còn phải hình thành doanh nghiệp nhà nước.

(more…)

THỰC HIỆN QUYỀN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN: NHỮNG ĐIỀU NGƯỜI ĐƯỢC THI HÀNH ÁN CẦN BIẾT

LÊ THỊ KIM DUNG

Quyền yêu cầu thi hành án là quyền của đương sự (không chỉ người được thi hành án mà cả người phải thi hành án) yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Với việc Luật Thi hành án dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009, điều cần thiết đối với đương sự là nắm bắt được những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự về quyền yêu cầu thi hành án và cách thức thực hiện quyền yêu cầu thi hành án một cách đúng đắn và có hiệu quả. Đương nhiên, việc hiểu rõ và hiểu đúng quy định của pháp luật cũng đặt ra đối với cơ quan thi hành án dân sự để tiếp nhận và xử lý đúng các yêu cầu thi hành án của đương sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi thực hiện quyền này.

1. Những bản án, quyết định nào được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự?

Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền, phần lớn kết quả của những hoạt động đó là việc ban hành các văn bản. Văn bản có nhiều loại khác nhau, có bản án của Toà án, có quyết định của cơ quan công an, kiểm sát, có quyết định của cơ quan hành chính, có quyết định của cơ quan xét xử, có quyết định của cơ quan xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác nhau như đình chỉ xây dựng, buộc phải tháo dỡ công trình xây dựng, có bản án của Toà án nước ngoài, có bản án của Toà án hình sự về xử phạt tù dài hạn…Không phải mọi bản án, quyết định đều thuộc thẩm quyền tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự. Để yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án thì trước hết, phải nắm được quy định của pháp luật về những loại bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: