CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

TS. NGUYỄN ĐÌNH THÀNH

Tiếp cận vấn đề bảo đảm xă hội (an sinh xă hội) từ góc độ mô h́nh hoạt động kinh tế tổng thể của một quốc gia để xem xét quan hệ giữa chính sách xă hội và hệ thống bảo đảm xă hội ngay từ khi xác lập thể chế hoạt động kinh tế vĩ mô với những đặc trưng riêng của mỗi loại h́nh kinh tế thị trường. Điều đó giúp chúng ta đề ra những nhiệm vụ và mục tiêu của BHXH nói riêng và của hệ thống chính sách xă hội nói chung, thích ứng trong từng giai đoạn, gắn liền với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước.

Kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường được hiểu là một thể chế kinh tế với sự không tập trung (phân tán) về kế hoạch hoá và sự điều khiển quá tŕnh kinh tế được tiến hành theo sự điều phối của cơ chế giá cả. Trong nền kinh tế thị trường, phạm vi nhiệm vụ của Nhà nước ít nhất là phải tạo ra các điều kiện khung để khuyến khích đầy đủ được chức năng điều phối từ sự cạnh tranh, thi đua cũng như khuyến khích việc sẵn sàng cung cấp các loại hàng hoá công cộng không sinh lợi của kinh tế tư nhân. Đồng thời mỗi một đề án về các chính sách kinh tế như chính sách thời vận, chính sách cơ cấu và chính sách xă hội cần bổ sung thêm nhiệm vụ làm hạn chế tính tự trị của kế hoạch hoá cá nhân (Gabler Wirtschaftslexikon – 12. Auflage s.302). Người ta cũng có thể hiểu Kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mà trong đó các kế hoạch và tổ chức sản xuất kinh doanh của từng đối tượng kinh tế đều hoạt động dựa trên nền tảng của việc tự do tạo lập giá cả và được điều tiết theo giá cả. Đó là một nền kinh tế hàng hoá trao đổi và tự do cạnh tranh, thi đua là thực sự cần thiết. Sự cạnh tranh đầy đủ trong nền kinh tế thị trường không chỉ điều tiết nền kinh tế cả theo chiều dọc và chiều ngang mà c̣n thường xuyên điều chỉnh các diễn biến kinh tế và kích thích tính hiệu quả của nền kinh tế. Hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường được thể hiện ở động cơ sản xuất và năng xuất, ở mức thu nhập quốc dân và mức sống xă hội cao cũng như các khả năng cung ứng tốt các hàng hoá và dịch vụ.

Các chức năng trật tự, điều hành và điều phối cân bằng cần phải được đảm bảo nhằm chế ngự được tính độc quyền của sản xuất hàng hoá nhưng đồng thời cũng phải mang lại khả năng thịnh vượng chung cho toàn xă hội. Khái niệm về Kinh tế thị trường đến nay đă trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều góc độ nh́n nhận khác nhau. Nhưng dù sao th́ khi thiết lập các nguyên tắc hoạt động trong Luật kinh tế người ta cũng phải đảm bảo được tác động thực sự (thuần khiết) của sự cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, cũng đề cập đến những định mức chuẩn như thu hẹp tính độc quyền cá nhân, uốn nắn những lệch lạc, sai phạm hoặc ngăn cản sự cạnh tranh. Bên cạnh đó, Nhà nước với chính sách kinh tế của ḿnh cũng điều tiết và định hướng cho sự phát triển của hệ thống kinh tế thị trường. Tuy nhiên, các nguyên tắc này cũng không bảo hành cho các mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như đầy đủ việc làm, ổn định giá cả… Mặc dù nguyên tắc tự điều chỉnh nền kinh tế thông qua cạnh tranh là điều kiện rất cần thiết nhưng cũng cần phải được bổ sung trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô thông qua các biện pháp điều chỉnh tổng thể của Nhà nước.
Thực ra trên thế giới hiện nay có nhiều mô h́nh kinh tế thị trường khác nhau, điều đó phụ thuộc vào sự thích ứng của từng nước đối với điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, kinh tế xă hội cũng như tập quán dân tộc mà lựa chọn một mô h́nh kinh tế thích hợp. Sẽ không bao giờ có một mô h́nh kinh tế thị trường khuôn mẫu thích hợp cho tất cả các nước hoặc dù chỉ điển h́nh cho một nhóm nước cùng thực hiện. ở đây phải kể ra một số mô h́nh kinh tế thị trường tiêu biểu như: kinh tế thị trường xă hội của Cộng ḥa liên bang Đức, kinh tế thị trường tự do tương đối của Mỹ, mô h́nh của Nhà nước thịnh vượng trong nền kinh tế thị trường của Thụy Điển, kinh tế thị trường xă hội xă hội chủ nghĩa của Trung Quốc, kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước ở Việt Nam… Trong phạm vi bài viết chúng tôi không đưa ra những ư kiến phân tích sự khác biệt cũng như những ưu, nhược điểm của từng mô h́nh kinh tế thị trường. Tuy nhiên, điều cần xem xét chung là khi tiến hành nền kinh tế thị trường người ta phải biết chấp nhận cả những bất lợi do hậu quả của nền kinh tế thị trường mang lại cho xă hội và ở mỗi nước khác nhau đều có cách nh́n nhận và giải quyết vấn đề này một cách khác nhau. Cụ thể là vấn đề thời vận kinh tế nhất là lúc suy thoái, nạn lạm phát và nạn thất nghiệp. Điều đó có nghĩa là không có sự bảo hành trên con đường tiến hành kinh tế thị trường. Do vậy, phải có các biện pháp mang tính bị động nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế những hậu quả xấu xẩy ra đối với xă hội cũng như đối với các tầng lớp dân cư "yếu" hơn trong xă hội. Và điều này được nh́n nhận một cách đơn giản là những công cụ nhằm mục đích bảo đảm xă hội, ổn định xă hội trong mọi t́nh huống – đây là một trong những nhiệm vụ chính của chính sách xă hội.
Chúng ta có thể minh hoạ thêm về khái niệm kinh tế thị trường thông qua nền kinh tế thị trường xă hội của CHLB Đức và nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước ở Việt Nam để hiểu rơ thêm về bản chất nền kinh tế thị trường. ư tưởng xây dựng nền kinh tế thị trường xă hội được h́nh thành ở CHLB Đức từ những năm 50 (chính xác hơn là được xem xét đến từ sau chiến tranh thế giới thứ hai) trên cơ sở lựa chọn, khắc phục nhược điểm của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không thể kiểm tra được với nền kinh tế hành chính tập trung quan liêu. Nền kinh tế thị trường xă hội là khả năng của sự ḥa hợp giữa sự tự do về kinh tế với tư tưởng Nhà nước xă hội, tương tự như sự bảo đảm xă hội và sự b́nh đẳng cần đạt được. Trong nền kinh tế thị trường xă hội người ta luôn đặt ra mối quan hệ giữa thị trường và những người chịu trách nhiệm tích cực, các ông chủ doanh nghiệp và người lao động làm thuê, sự bảo đảm xă hội cũng như vai tṛ, trách nhiệm của Nhà nước. Điều đó được thể hiện ở chỗ: Sự tự do trên thị trường (cho các ông chủ doanh nghiệp) nối liền với sự bảo đảm xă hội xác định được (cho người lao động) trong đó nhiệm vụ của Nhà nước là xây dựng và thực hiện pháp luật theo hướng các chính sách tổng thể và chính sách quá tŕnh. Quá tŕnh hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường xă hội được đặt dưới sự cân nhắc về mặt xă hội. Diễn giải về từ "xă hội" thu hoạch được từ hệ thống "kinh tế thị trường xă hội" này là tất yếu v́ nó thực hiện trước hết cho sự phát triển kinh tế thông qua các khả năng, hiệu quả của nền kinh tế thị trường cạnh tranh có tổ chức, "Sự thịnh vượng cho tất cả" là có thể được và thứ hai là sự tự do kinh tế cho tất cả được tôn trọng. Con người trong hệ thống này một mặt là một cá nhân, sự tự do và đặc tính cá thể của nó được bảo vệ và khuyến khích. Mặt khác, về góc độ bản chất xă hội, con người được nối liền với nghĩa vụ và những ràng buộc của tự do trong xă hội.
Nguyên tắc cao nhất của nền kinh tế thị trường xă hội là sự nối liền tự do trên thị trường với đ̣i hỏi cân bằng xă hội theo phương thức: Sự quyết định tự do của các chủ thể kinh tế (ngân sách của cá nhân hoặc ngân sách doanh nghiệp) về thị trường được bảo đảm đảm mà ở đó sự cố gắng đạt được một cách đồng đều về bảo đảm xă hội và sự thịnh vượng chung toàn xă hội.
ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước đă thể hiện rơ sự phát triển của nền kinh tế thị trường nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh gắn liền sự phát triển của một xă hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều đó có nghĩa là sự tôn trọng, khuyến khích và sử dụng tối đa các đặc tính ưu việt của nền kinh tế thị trường có tổ chức, của các tổ chức kinh tế nhằm đáp ứng cho sự phát triển nhanh và mạnh nền kinh tế quốc dân. Và nhịp độ phát triển kinh tế này luôn được gắn chặt với sự phát triển con người và xă hội. V́ vậy, vai tṛ của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường mang đặc trưng riêng ở nước ta giữ vai tṛ hết sức quan trọng. Đặc điểm chung là nền kinh tế thị trường của nước ta được chuyển biến từ một nền kinh tế kế hoạch hóa hành chính tập trung. Trải qua 20 năm chuyển đổi, với sự điều chỉnh từng bước của Nhà nước đă không gây nên những biến động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xă hội cũng như đời sống của đại bộ phận người lao động và dân cư trong toàn xă hội. Trái lại, sự thành công của công cuộc chuyển đổi kinh tế đă mang lại bộ mặt mới cho đời sống xă hội cả nước. Thành công đó là do một mặt chúng ta từng bước áp dụng các yếu tố kinh tế thị trường vào từng ngành, từng khu vực; từng bước đa dạng hoá các thành phần kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh và b́nh đẳng của các thành phần kinh tế; chuyển đổi cơ cấu kinh tế; tạo ra các hành lang pháp lư cần thiết cho hoạt động thị trường đi đúng hướng, mặt khác Nhà nước ta rất coi trong công cụ điều tiết xă hội, sử dụng toàn diện các công cụ của chính sách xă hội như: xoá đói giảm nghèo, cho vay vốn ưu đăi để sản xuất kinh doanh; khuyến khích người lao động tự tạo việc làm và tăng thêm thu nhập; nâng cao chất lượng cung cấp cho các đối tượng hưởng ưu đăi xă hội; mở rộng diện đối tượng tham gia BHXH, đặc biệt là màng lưới BHYT; từng bước quan tâm đến vấn đề nhà ở cho mọi người dân…nhằm từng bước phấn đấu mang lại sự công bằng, b́nh đẳng cả về mặt chính trị, tinh thần lẫn đời sống kinh tế cho từng thành viên hay nhóm thành viên trong xă hội.

Chính sách xă hội

Không phải là không công bằng khi người ta không thể định nghĩa mang tính kỹ thuật về khái niệm "chính sách xă hội” nhằm thể hiện được chính xác ư nghĩa của nó. Chính sách xă hội là một khái niệm không mang tính hệ thống mà mang tính lịch sử. Nh́n chung, trong quá tŕnh lịch sử, trong sự chuyển đổi của các quan hệ về kinh tế và đời sống th́ các quan điểm về mục đích và nhiệm vụ của “chính sách xă hội” lại được thay đổi khác nhau. Mục đích của “chính sách xă hội” là nhằm để cải cách xă hội trong những thời điểm nhất định, cho một dân tộc nhất định trước những vấn đề nghiệt ngă hoặc nghiêm trọng của xă hội (Gabler Wirtschaftslexikon – 12. Auflage s. 1157).
Với cách giải thích như vây th́ chúng ta cũng dễ hiểu về chính sách ưu đăi người có công với cách mạng hiện nay cũng là bộ phân hết sức quan trọng của hệ thống chính sách xă hội, nó phản ánh giai đoạn lịch sử nước ta đă trải qua các cuộc chiến tranh giành lại độc lập, tư do và hiện nay chúng ta vẫn phải đang giải quyết những hậu quả của cuộc chiến tranh đó.
Đến nay, nếu theo phương thức định hướng tiếp cận vấn đề th́ “Chính sách xă hội” được hiểu là tất cả các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự xuất hiện những rủi ro xă hội, điều tiết cân bằng những rủi ro xă hội, bảo vệ và cải thiện mức thu nhâp, mức trợ cấp và mức sống của từng cá nhân riêng biệt hoặc từng nhóm người trong xă hội. Người ta cũng có thể hiểu :”Chính sách xă hội” theo đuổi các mục tiêu làm hạn chế các rủi ro xă hội, ngăn ngừa việc xẩy ra những hậu quả xấu cũng như ổn định và cải thiện cơ sở thu nhập, các khoản trợ cấp cũng như đời sống của các thành viên trong xă hội. Những biện pháp của “chính sách xă hội” sẽ được vận động dựa trên cơ sở các chính sách kinh tế của nền kinh tế thị trường (Sozialpolitik und Soziale Lage in Deutschland 3. Auflage s.21).
Các rủi ro xă hội thường mang lại một cách ngẫu nhiên trong đó cũng có nguyên nhân do hậu quả của vấn đề dân số trên phạm vi rộng lớn của quốc gia. Từ sự nghèo đói, bệnh tật, tai nạn, mất việc làm, không nhà ở đă dẫn đến trước hết làm mất cân đối một cách thường xuyên đối với những nhóm dân cư, làm ảnh hưởng xấu đến t́nh trạng việc làm, nghề nghiệp, sức khoẻ, gia đ́nh và thu nhập và từ đó gây hậu họa cho xă hội. Trong một tổ chức xă hội của nền kinh tế thị trường h́nh thành một cách đồng bộ các yếu tố kinh tế – xă hội mang tính điều kiện. Các yếu tố này tạo nên cấu trúc cơ bản của xă hôi, nó sẽ có tác động mạnh mẽ đến các nguyên nhân, đến tính tích cực của các tác động và sự phân chia các rủi ro trên phạm vi rộng lớn cũng như làm hạn chế các khả năng tạo ra sự không công bằng về sự phân chia cũng như sự không công bằng về đời sống.
Những nội dung của chính sách xă hội có thể bao gồm những lĩnh vực sau:

Chính sách xă hội của Nhà nước bao gồm:
1. Lĩnh vực đời sống lao động: Các chính sách trợ cấp xă hội như:
- Chính sách bảo vệ người lao động;
- Chính sách bảo hiểm xă hội;
- Chính sách thị trường lao động;
- Chính sách khuyến khích doanh nghiệp.
2. Lĩnh vực định hướng cho từng nhóm người riêng biệt:
- Chính sách xoá đói giảm nghèo;
- Chính sách đối với người có công với cách mạng;
- Chính sách gia đ́nh;
- Chính sách thanh niên;
- Chính sách trợ giúp người già;
- Chính sách khuyến khích người lao động trong khu vực nông nghiệp, lao động thủ công, người tự hành nghề.
3. Lĩnh vực khác:
- Chính sách giáo dục;
- Chính sách nhà ở.
4. Các chính sách xă hội khác, đặc biệt là lĩnh vực các chính sách quan trọng:
- Chính sách thi đua, cạnh tranh;
- Chính sách bảo vệ tiêu dùng;
- Chính sách môi trường;
- Chính sách ổn định, đặc biệt là chính sách b́nh ổn giá cả.
Chính sách xă hội của doanh nghiệp: ở các nước công nghiệp phát triển, người ta cũng rất coi trọng chính sách xă hội của từng doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp truyền thống lâu đời. ở các doanh nghiệp này, bên cạnh việc thực hiện đầy đủ các chính sách xă hội quốc gia họ c̣n bổ sung thêm nhiều quyền lợi cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp của ḿnh như: trợ cấp đào tạo và tuyển dụng con em họ sau này tiếp tục vào làm việc tại doanh nghiệp, tăng thêm tiền trợ cấp thôi việc, tăng thêm tiền hưu trí… từ quỹ phúc lợi của doanh nghiệp.
Nhận rơ tác động của các chính sách xă hội, đặc biệt là chính sách xă hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa, bên cạnh việc coi trọng các chính sách xă hội quốc gia, Nhà nước ta cũng tham gia các chính sách xă hội quốc tế và khu vực cần thiết. ở đây phải kể đến Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979 và kư kết Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990. Ngày 24/6/2004, Chủ tịch nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam đă kư lệnh số 14/2004/L/CTN công bố Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Sự can thiệp của chính sách xă hội trong nền kinh tế thị trường

Để hạn chế sự xuất hiện của các rủi ro xă hội cũng như điều tiết cân bằng hậu hoạ của các rủi ro. Chính sách xă hội sẽ can thiệp vào quá tŕnh kinh tế theo phương thức đa dạng. Tất nhiên các tác động của chính sách xă hội đến nền kinh tế thị trường luôn dẫn đến các mâu thuẫn và tranh chấp cơ bản v́ sự can thiệp của các chính sách xă hội một mặt được coi như là nguyên tắc chống đối lại cơ chế thị trường và theo cách tính toán lợi nhuận của các chủ doanh nghiệp th́ đó là các chi phí ngọai lai làm giảm bớt lợi nhuận. Nhưng mặt khác nó lại là các điều kiện cần thiết cho sự ổn định về kinh tế – xă hội và đồng thời đảm bảo cho các khả năng phát triển của toàn bộ hệ thống kinh tế.
Sự can thiệp của chính sách xă hội vào quá tŕnh kinh tế được thể hiện đầy đủ ở các mặt sau:
- Thông qua các quy định của luật pháp, nhất là các quy định về thị trường lao động và quan hệ lao động nhằm khuyến khích phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng trong phạm vi xă hội kiểm soát được, đồng thời ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt các hậu quả xấu của việc sản xuất kinh doanh gắn liền với quy mô của từng đơn vị kinh tế riêng (ví dụ như: điều kiện làm việc, tiền lương, lợi nhuận cho phép…).
- Thông qua việc chi trả bằng tiền nhằm điều tiết bổ sung cho việc phân phối lại thu nhập từ những đối tác tham gia vào thị trường cũng như hiệu quả của thị trường nhằm loại trừ sự nghèo đói, giúp đỡ vượt qua những rủi ro làm mất mát thu nhập trong quá tŕnh làm việc cũng như xem xét đến việc bảo đảm những nhu cầu thiết yếu.
- Thông qua các nguồn phúc lợi bằng hiện vật hoặc bằng tiền trong lĩnh vực sức khoẻ nói riêng và và lĩnh vực xă hội nói chung mà đảm bảo đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sống tối thiểu cho các thành viên trong xă hội và họ không phải chi trả cho những phúc lợi đó.
- Tổ chức tài chính cho các hoạt động của chính sách xă hội, đây được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước. Các nguồn thu từ thuế và từ đóng góp nghĩa vụ căn cứ vào thu nhập trong quá tŕnh hoạt động kinh tế.
Chính sách xă hội sẽ điều tiết việc phân phối lại trong nền sản xuất xă hội và can thiệp vào quá tŕnh kinh tế ngay từ khi h́nh thành, xuất hiện cũng như sử dụng các kết quả trong quá tŕnh phân phối đó. Mối quan hệ giữa sự sáng tạo các giá trị mới của nền kinh tế quốc dân với hệ thống chính sách xă hội không chỉ là tác động một chiều. Cả hai hệ thống này mang tính tác động tương hỗ lẫn nhau. Tác động của hệ thống bảo đảm xă hội (an sinh xă hội) sẽ đảm bảo đạt được các chuẩn mực về sản xuất, về thu nhập và về việc làm trong xă hội, trong khi đó th́ hệ thống cơ cấu kinh tế tác động ngược trở lại đến hệ thống chính sách xă hội. Khi đánh giá về tác động hai chiều này, tới nay vẫn c̣n nhiều ư kiến tranh luận trái ngược nhau: Một mặt người ta cho rằng: phát triển hệ thống bảo đảm xă hội theo sự tăng trưởng kinh tế và việc làm sẽ bị yếu đi và là những nguyên nhân riêng biệt gây thiệt hại cho sự tăng trưởng, làm hạn chế khả năng cạnh tranh quốc tế và khu vực, đồng thời kéo dài nạn thất nghiệp. Nhưng mặt khác người ta lại cho rằng Nhà nước sẽ bảo đảm về sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo việc làm, tạo ra những điều kiện không thể thiếu được trong việc kết nối giữa hiệu quả nền kinh tế thị trường với sự điều tiết công bằng xă hội, đồng thời nền kinh tế sẽ thường xuyên chịu gánh nặng khi bỏ qua việc kết hợp giữa các chính sách kinh tế và chính sách việc làm. Đây là "khoảng trống" để tùy theo đặc trưng của từng loại h́nh kinh tế thị trường, tùy giai đoạn kinh tế – xă hội nhất định cũng như tuỳ thuộc vào vai tṛ điều tiết của Nhà nước ở mỗi quốc gia riêng biệt mà đưa ra các chính sách nhất định hoặc biết coi trọng những chính sách nào. Đồng thời, đó cũng phản ánh đặc trưng của yếu tố xă hội thể hiện theo từng loại h́nh kinh tế thị trường.

SOURCE: TẠP CHÍ BẢO HIỂM XÃ HỘI SỐ 79 THÁNG 7 NĂM 2005

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 647 other followers

%d bloggers like this: