GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI VÀ CƠ CHẾ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN

THS. BẠCH THỊ LỆ THOA -  Học viện Tư pháp

Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường, các tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về cổ phần, cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của công ty… Vậy, khi phát sinh tranh chấp thì doanh nghiệp cần tìm đến tổ chức nào để giải quyết một cách có hiệu quả, nhanh gọn, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp?

Hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam chủ yếu được xét xử thông qua hệ thống Toà án và Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên, một vấn đề nhận thấy rõ ràng là hệ thống Toà án đã trở nên quá tải, dẫn đến tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải quyết, do đó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong khi Toà kinh tế Hà Nội trong năm 2007 phải xử gần 9.000 vụ án, trong đó có khoảng 300 vụ án kinh tế và Toà kinh tế thành phố Hồ Chí Minh phải xử gần 42.000 vụ án các loại, trong đó có 1.000 vụ án kinh tế, thì VIAC cũng chỉ tiếp nhận khoảng 30 vụ (1). Tính trung bình mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0, 25 vụ một năm, trong khi mỗi thẩm phán Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xử trên 50 vụ một năm.

Theo thống kê năm 2007 về giải quyết các vụ tranh chấp về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động, thì Toà án các tỉnh đã thụ lý 108.060 vụ; đã xử lý được 80.773 vụ. Ngoài ra, có 1.280 vụ được kháng cáo lên Toà án nhân dân tối cao. Những con số này ngoài việc cho thấy sự phổ biến việc xử lý các tranh chấp bằng Toà án còn cho thấy phần nào sự quá tải của hệ thống Toà án (2).

(more…)

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, KHIẾU TỐ – NHÌN TỪ THỰC TẾ

THS. CVCC. NGUYỄN VĂN HIỆP – Vụ địa phương (phía Nam), Văn phòng Chính phủ

Năm 2006, Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh đón tiếp 5.391 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo (khiếu kiện) với 3.045 vụ, việc. Năm 2007 đón tiếp 7.170 lượt người với 3.173 vụ, việc. Năm 2008 tiếp 7.258 lượt người với 2.621 vụ, việc. Sang năm 2009, số vụ, việc khiếu kiện tuy có ít hơn những năm trước, nhưng diễn biến có chiều hướng phức tạp hơn, thậm chí đã có vụ, việc mang tính bạo động, quá khích, mang màu sắc chính trị và tôn giáo. Có vụ, việc căng thẳng đến mức vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép. Hầu như không ngày nào không có người đi khiếu kiện dai dẳng, bức bối.

Việc khiếu kiện đã làm ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương. Mặc dù công tác giải quyết khiếu kiện của công dân đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể các địa phương giải quyết tích cực, nhưng số việc giải quyết dứt điểm được còn ít, thậm chí nhiều nơi, việc cũ giải quyết chưa xong việc mới đã phát sinh. Hiện nay trên cả nước, các vụ việc khiếu kiện của công dân còn tồn đọng rất nhiều.

“Mở đường qua nhà một ông lãnh đạo, người ta phải uốn cong nó, để… bảo vệ ngôi nhà của người lãnh đạo. Thu đất của dân, đền bù 100.000 đồng /m2, đổ vài xe cát vào, bán vài triệu một mét. Làm thế dân không khiếu kiện mới lạ”.

(Phát biểu của Ông Vũ Đức Khiển, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội khóa XI tại Hội nghị Tổng kết Chỉ thị 09 của Ban Bí thư và chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo (tổ chức tại Hà Nội ngày 10/10/2005).

1. Nhận xét chung về tình hình khiếu kiện trong thời gian qua

Nhận xét đầu tiên, dễ thấy nhất là số công dân đến trụ sở tiếp dân khiếu kiện ngày càng tăng (năm 2006 tăng 34,3% so với năm 2005, năm 2007 tăng 33% so với năm 2006, năm 2008 tăng 2,1% so với năm 2007, tăng 34,6% so với năm 2006 và tăng 104,9% so với năm 2005). Khiếu kiện đông người năm 2007 tăng so với năm 2006, năm 2008 giảm không đáng kể so với năm 2007 và số đoàn khiếu kiện đông người vẫn rất nhiều (năm 2006 là 145 đoàn, năm 2007 là 171 đoàn, năm 2008 là 142 đoàn).

(more…)

ĐỂ QUỐC HỘI THỰC HIỆN ĐÚNG CHỨC NĂNG CƠ QUAN LẬP PHÁP

NGUYỄN SƠN

Nhân đọc bài viết của GS.TS. Nguyễn Vân Nam “Nghị định hướng dẫn quan trọng hơn luật” trên TBKTSG số 31-2009 vừa qua, tôi rất tâm đắc và có một số ý kiến chia sẻ liên quan hoạt động lập pháp ở nước ta hiện nay.

Tình trạng luật đã ban hành nhưng chưa được thực thi vì thiếu văn bản hướng dẫn (nghị định, thông tư…) là thực tế tồn tại trong quản lý nhà nước ở Việt Nam đã được nói đến nhiều nhưng không được cải thiện.

Việc luật phải đợi nghị định, thông tư không chỉ “vi phạm nguyên tắc nhà nước pháp quyền nói chung” như ý kiến của GS.TS. Nguyễn Vân Nam mà còn tạo nên một hệ thống văn bản thiếu minh bạch, không khoa học và rất phức tạp, cồng kềnh do phải dẫn chiếu từ văn bản nọ tới văn bản kia khi áp dụng.

Đây là một trong những lý do khiến pháp luật chậm đi vào cuộc sống. Để giải quyết tình trạng này, chức năng lập pháp phải thực sự do cơ quan có thẩm quyền này (tức là Quốc hội) đảm nhiệm. Tuy nhiên, vấn đề là phải làm thế nào trong thực tế hiện nay ở nước ta để Quốc hội đảm nhiệm được đúng và đủ thẩm quyền tối quan trọng này của mình.

Nguyên nhân của tình trạng luật chờ văn bản dưới luật trong thực tiễn lập pháp nước ta bắt nguồn từ hai lý do. Trước hết, đó là rơi rớt của tư duy và phương thức quản lý thiên về hành chính vốn tồn tại từ thời bao cấp. Các cơ quan quản lý dự thảo luật khung để Quốc hội thông qua. Sau đó Chính phủ ban hành nghị định (cũng do các bộ, ngành dự thảo trình lên) và các bộ, ngành ban hành tiếp thông tư hướng dẫn.

(more…)

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG: GIÁ GIAO DỊCH GIẤY TAY CAO HƠN HỢP ĐỒNG CÔNG CHỨNG, XỬ THEO HỢP ĐỒNG MỚI ĐÚNG LUẬT?

MAI MINH

Năm 2003, vợ chồng bà Trần Thị Ngọc Sương có mua căn nhà 552 Cách Mạng Tháng Tám, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương. Đến năm 2007, sau khi chồng bà đột ngột qua đời, bà phải đối mặt với khoản nợ lớn gần gấp ba lần số tiền mua căn nhà ban đầu.

Buộc phải trả số vàng chênh lệch

Theo hợp đồng mua bán nhà ở lập ngày 24-12-2003 giữa vợ chồng bà Sương với người bán (đã được Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Dương chứng nhận), giá mua bán căn nhà trên là 546 triệu đồng. Hợp đồng ghi rõ: “Giá này là giá cố định, không thay đổi trong trường hợp giá thị trường lên, xuống. Bên mua có trách nhiệm thanh toán một lần sau khi ký hợp đồng. Sau khi thanh toán đủ, bên mua được giao nhà đất”. Đầu năm 2004, vợ chồng bà Sương đã nhận nhà và làm xong thủ tục sang tên.

Mọi chuyện trôi qua yên ả cho đến tháng 3-2007, tức hơn ba năm sau thời điểm hai bên mua bán nhà. Bấy giờ, chủ nhà cũ đã khởi kiện bà Sương ra tòa, yêu cầu phải trả nợ 92,5 lượng vàng thay cho người chồng đã chết. Theo nguyên đơn, trước đây chồng bà Sương mua nhà trên với giá 300 lượng vàng và chỉ mới trả được hơn 200 lượng vàng. Để chứng minh, nguyên đơn đưa ra giấy viết tay lập ngày 18-12-2003 (trước ngày đi công chứng hợp đồng mua bán nhà). Giấy này không ghi tên người nhận tiền, chỉ ghi “Gửi cho thầy số vàng 207,5 lượng vàng, còn lại 92,5 lượng vàng”. Chủ nhà cũ khẳng định đó là giấy của chồng bà Sương xác nhận việc nợ tiền mua nhà.

“Theo hợp đồng, giá mua bán chỉ hơn 500 triệu đồng, tương đương 80 lượng vàng ở thời điểm giao dịch. Vậy con số 300 lượng vàng lấy đâu ra?” – Từ các thắc mắc này, bà Sương không đồng ý trả nợ.

(more…)

CÔNG VĂN SỐ 2838/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 7 THÁNG 8 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ VIỆC CHI TRẢ TRỢ CẤP THÔI VIỆC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Kính gửi: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Phước

Trả lời công văn số 575/SLĐTBXH-LĐTLBHXH ngày 21/7/2009 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Phước về chi trả trợ cấp thôi việc đối với người lao động trong doanh nghiệp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì người lao động làm việc ở nhiều công ty nhà nước do chuyển công tác trước ngày 01/01/1995, thì trợ cấp thôi việc được tính theo thời gian làm việc ở từng công ty nhà nước. Công ty nhà nước cuối cùng có trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động, kể cả phần trợ cấp thôi việc thuộc trách nhiệm chi trả của công ty nhà nước mà người lao động đã làm việc trước khi chuyển công tác trước ngày 01/01/1995, sau đó gửi thông báo để yêu cầu công ty trước đó hoàn trả số tiền đã được chi trả hộ.

Đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động của bà Nguyễn Thị Chiên với Công ty cổ phần Thủy điện Thác Mơ, đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Bình Phước căn cứ quy định nêu trên, diễn biến quá trình làm việc của bà Chiên để hướng dẫn cho Công ty cổ phần Thủy điện Thác Mơ và bà Chiên thực hiện theo quy định.

2. Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động thì Nhà nước khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho người lao động có những điều kiện thuận lợi hơn so với những quy định của pháp luật lao động. Vì vậy, về đề xuất Công ty cổ phần Thủy điện Thác Mơ chi trả phần trợ cấp thôi việc đối với thời gian bà Chiên làm việc ở những đơn vị khác trước khi chuyển đến công ty (trước tháng 5/1995) là do Công ty cổ phần Thủy điện Thác Mơ tự quyết định, thỏa thuận thống nhất với bà Chiên để thực hiện theo quy định pháp luật.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: