LỐI THOÁT NÀO CHO THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM?

THS. VŨ THỊ THÙY LINH

Bất động sản (BĐS) là ngành sản xuất hàng hóa chiếm tỷ trọng vốn khá lớn trong nền kinh tế quốc dân và các hoạt động liên quan đến BĐS chiếm tới 30% tổng hoạt động của nền kinh tế. Giá trị tài sản là BĐS chiếm 70% tổng tài sản cố định, cũng có thể nói là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, là yếu tố đầu vào của mọi ngành sản xuất. Do đó chỉ cần một hiện tượng bất ổn của thị trường BĐS cũng gây ra hiệu ứng domino cho toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia và ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, chỉ trong thời gian ngắn từ 2007 đến đầu năm 2008 thị trường BĐS có quá nhiều bất ổn, khó có thể nhận định được các giai đoạn của chu kỳ để có những quyết định đầu tư và chính sách hợp lý. 

Vốn đầu tư đổ vào thị trường BĐS từ các nguồn: 

1. Nguồn vốn tín dụng của các NHTM, 

Năm 2007 là năm Việt Nam có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất trong hơn một thập kỷ qua, đứng thứ hai trong khu vực sau Trung Quốc, GDP đạt 461.189 tỷ đồng tăng 8,48%, tính thanh khoản của các NHTM cao, sự chuyển động nhanh và mạnh của giá BĐS, nên các NHTM đã nới lỏng chính sách cho vay đầu tư BĐS. Chỉ tính từ quý IV/2007 đến quý I/2008 đã có khoảng 2,6 tỷ USD được đưa vào nền kinh tế từ các ngân hàng cổ phần. Hầu như số vốn này đều phục vụ cho việc đầu cơ BĐS. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2008 dư nợ vốn vay đầu tư bất độn sản của các tổ chức tín dụng trong nước đạt khoảng trên 115 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,5% tổng dư nợ toàn bộ nền kinh tế. Trước tình hình này, Nhà nước thắt chặt tín dụng BĐS. Vào thời điểm này, giá vật liệu xây dựng tăng (đầu tháng 7/2008 giá bán lẻ sắt cây phi 18 của Vina Kyoei và Pomina chỉ ở mức 380 – 390 nghìn đ/cây thì giữa tháng tăng thêm 100 nghìn đ/cây hoặc thép cuộn tăng gần 3 nghìn đ/kg), khiến thị trường BĐS đóng băng cục bộ, khách hàng không có khả năng trả nợ, các NHTM phát mại nhà, đất, căn hộ… để thu hồi vốn. Đẩy thị trường BĐS vào tình trạng cung lớn hơn cầu. Tình huống xấu nhất có thể xảy ra: các đối tượng vay kinh doanh BĐS đã và đang gánh chịu giá trị ròng âm của BĐS, họ không có khả năng thanh toán nợ gốc và lãi. Hoạt động của các NHTM sẽ lao đao, nếu 9,5% số vốn đã cho vay BĐS trên tổng dư nợ trở thành nợ xấu. Đây là hiệu ứng xấu của thị trường tín dụng BĐS tác động trực tiếp đến nền kinh tế.

(more…)

QUẢN LÝ QUAN HỆ CỔ ĐÔNG Ở CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

LÊ ANH THI – Giám đốc tư vấn – phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Âu Việt

Chiến lược phát triển của công ty đại chúng, nhất là công ty niêm yết, phức tạp hơn hẳn các công ty khác. Do các công ty này phải giải quyết hài hòa động lực và lợi ích giữa ba đối tác chính trong công ty là ban lãnh đạo, cổ đông hiện hữu và nhà đầu tư (người cấp thêm vốn).

Với những công ty không phải là công ty đại chúng, chiến lược phát triển thường chỉ thuần túy xét đến yếu tố kinh doanh, tức là về thương hiệu, vị thế, năng lực, đối thủ cạnh tranh, triển vọng ngành… vì các công ty này hầu như chỉ có một người chủ duy nhất, do đó có thể quyết định mọi việc dễ dàng. Tuy nhiên, với công ty đại chúng, nhất là các công ty niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, thì tỷ lệ sở hữu trong công ty, triển vọng của công ty sẽ quyết định lợi ích và động lực của ba đối tác trên đối với chiến lược phát triển của công ty.

Ban lãnh đạo gồm những người trong hội đồng quản trị, ban kiểm soát và ban điều hành. Họ là những người lèo lái và điều hành công ty, nhưng ở những công ty niêm yết, nhất là những công ty có tính đại chúng cao, thì tỷ lệ sở hữu của họ thường không quá lớn. Cổ đông hiện hữu là những người cấp vốn trong quá khứ cho công ty. Nhà đầu tư là những người sẵn sàng hay không sẵn sàng bỏ thêm vốn vào công ty. Sự hài hòa về động lực và lợi ích của ba đối tác này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển công ty đại chúng.

Ban lãnh đạo sở hữu ít – e ngại về động lực phát triển. Khi ban lãnh đạo sở hữu ít cổ phần, họ thường ít có động lực để phát triển công ty, vì ý nghĩ làm “cho người khác hưởng”. Điều này xảy ra ở nhiều doanh nghiệp niêm yết có nguồn gốc là các công ty nhà nước. Nhiều công ty có tiềm năng nhưng lợi nhuận không tăng trưởng nhiều, chỉ số P/E (hệ số giá trên thu nhập của một cổ phiếu) thấp hơn rất nhiều so với trung bình ngành (phản ánh giá thấp hơn giá trị thực). Thông thường, ban lãnh đạo chỉ có động lực duy trì tỷ lệ cổ tức nhất định (khoảng 10-20%) cho cổ đông.

(more…)

TRANH CHẤP ĐẤT HƯƠNG HỎA TÍNH SAO?

KHẢI HÀ

Có ý kiến cho rằng với loại đất của chung họ tộc thì không nên chia thừa kế.

Năm 2007, bà A. huyện (Châu Thành, Long An) mất không để lại di chúc. Sáu người con của bà đã khởi kiện đòi phân chia di sản của mẹ để lại. Số di sản này gồm có gần 10.000 m2 đất lúa, đất vườn, đất thổ, trên đó có một căn nhà thờ và nhiều mồ mả của ông bà, dòng họ.

Giành đất để cúng giỗ

Theo người con trưởng, mặc dù đất đai do mẹ đứng tên nhưng đó là đất của thân tộc. Ông giành quyền quản lý, sử dụng số tài sản trên để làm nơi thờ cúng tổ tiên, đồng thời yêu cầu người em út kiếm nơi khác ở.

Người em gái út không đồng ý, viện lẽ có nhu cầu canh tác phần ruộng của mẹ để lại để lo việc cúng giỗ.

Sau đó, năm người em thống nhất đòi chia thừa kế di sản. Đối với nhà làm nhà thờ và các tài sản bên trong, họ xin được hưởng và giao lại phần của mình cho người em út để có nơi thờ cúng ông bà.

TAND huyện Châu Thành đã xử bác yêu cầu của người con trưởng. Theo tòa, không có cơ sở cho đó là đất của gia tộc (ngay cả khi trên đất có mồ mả). Bởi lẽ mảnh đất trên được cha mẹ ông trực tiếp quản lý, sử dụng từ trước đến nay. Khi mẹ ông được cấp chủ quyền mảnh đất trên cho đến khi bà mất, bản thân ông và thân tộc không khiếu nại.

Tòa này quyết định chia tài sản thành sáu phần đều nhau và cho phép năm người em hưởng phần đất có ngôi nhà thờ để người em út tiếp tục việc thờ cúng.

(more…)

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẦU TƯ: BẦU SỐ KIỆN CA SĨ

HOÀNG YẾN

Tòa bác yêu cầu bồi thường gần 60 triệu đồng của bầu sô vì không chứng minh được ca sĩ vi phạm hợp đồng.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử phúc thẩm một tranh chấp hợp đồng đầu tư khá lạ giữa bầu sô H. với nam ca sĩ T.

Đầu xuôi, đuôi không lọt

Theo đơn kiện, tháng 8-2004, bà H. ký hợp đồng độc quyền với nhóm ca NC gồm bốn thành viên, trong đó có ca sĩ T. (bà H. ký hợp đồng riêng với từng người). Đầu năm 2005, Album Vol 1 của nhóm ca được phát hành. Đến cuối năm, một người trong nhóm tự rút ra khi thời hạn hợp đồng vẫn còn. Bà H. và ba thành viên còn lại vẫn quyết định duy trì hoạt động.

Do điều kiện khó khăn, bà cho nhóm ca tạm nghỉ bốn tháng để chuẩn bị rồi đến tháng 6-2006 sẽ ký hợp đồng mới để thực hiện Album Vol 2. Thời gian nhóm ca tạm nghỉ, bà H. vẫn trả cho mỗi thành viên 500 ngàn đồng mỗi kỳ lương nửa tháng. Nhưng khi đến hạn ký hợp đồng mới, ca sĩ T. lại từ chối. Tiếp đó, hai thành viên còn lại của nhóm ca cũng dứt khoát không hợp tác nữa.

Bà H. đòi bồi thường thì ca sĩ T. không chịu và cũng không hề liên hệ với bà để biết tình hình hoạt động của nhóm. Vì thế, bà H. khởi kiện ra TAND quận 10 (TP.HCM), đòi ca sĩ T. phải trả tổng cộng gần 60 triệu đồng, gồm 50 triệu đồng tiền vi phạm hợp đồng, bốn triệu đồng tiền lương đã nhận khi tạm nghỉ cùng một số khoản vay lắt nhắt khác.

Ngược lại, ca sĩ T. nói sau khi một người trong nhóm ca rút ra, hoạt động của nhóm chỉ mang tính chất cầm chừng để chờ bà H. tìm người mới tái lập bộ tứ như cam kết ban đầu. Tuy nhiên, chờ mãi mà bà H. vẫn không tìm được người, nhóm ca không thể nhận các sô biểu diễn, thu nhập của anh em kém hẳn đi.

(more…)

TÍNH CẠNH TRANH CỦA NỀN PHÁP LUẬT

NGUYÊN LÂM

Tính cạnh tranh của nền pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trước hết, phụ thuộc vào những người làm ra luật, tức là Quốc hội và một phần nào đó là Chính phủ. Luật làm ra mà không dùng được, hoặc các nhà làm luật vì lý do nào đó tỏ ra chậm chạp thì dễ hiểu là cả hệ thống pháp luật mất tính cạnh tranh so với các hệ thống pháp luật khác. Mới đây, các nhà đầu tư đã cảnh báo dự thảo Luật đầu tư chung sẽ làm mất đi tính hấp dẫn của môi trường đầu tư VN, và các nhà đầu tư sẽ bỏ ra đi.

Ở đây, tính cạnh tranh của nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng xấu do tính cạnh tranh thấp của dự thảo Luật đầu tư chung. Ngược lại, Luật doanh nghiệp 1999 trước đây và Luật doanh nghiệp chung hiện nay là minh chứng cho tính cạnh tranh khá cao cần phải có của hệ thống pháp luật. Các bước sửa đổi của Luật doanh nghiệp cho thấy không phải cứ thay đổi là có tính cạnh tranh, là năng động.

Điều quan trọng là thay đổi theo cách thức nào. Mỗi bước sửa đổi của Luật doanh nghiệp đều lấy luật tiền nhiệm làm nền, trên cái nền đó mà nâng cao lên. Trước lúc sửa đổi, quá trình nghiên cứu, tham vấn rộng khắp và có thực chất đã được tiến hành.

Có thể nói Luật doanh nghiệp cạnh tranh được với các đạo luật cùng một lĩnh vực của các nước khác trong việc khuyến khích tinh thần kinh doanh. Tuy nhiên, tính cạnh tranh của Luật doanh nghiệp đã và đang bị đe dọa bởi những qui định trói buộc doanh nghiệp ở những văn bản pháp luật khác, nhất là các văn bản dưới luật.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: