DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ: NHIỀU QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN

NGUYÊN NHUNG

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự (BLDS) đang trong quá trình soạn thảo, lấy ý kiến của các ban, ngành, cơ quan chức năng. Trong cuộc họp Ban Soạn thảo lần 2 vừa qua, một số nội dung quan trọng đã được các đại biểu tập trung thảo luận nhưng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.

Nhiều ý kiến cho rằng, phạm vi sửa đổi của Dự Luật không chỉ bó hẹp trong 2 nội dung: sở hữu tài sản và hợp đồng, mà cần sửa đổi toàn diện những quy định của Bộ Luật Dân sự hiện không còn phù hợp. Nếu chọn phương án này cần thực hiện bài bản, công phu hơn theo hướng Bộ Luật Dân sự là luật chung điều chỉnh các quan hệ xã hội. Theo đó, BLDS chỉ quy định những vấn đề cơ bản mang tính phổ biến và chung nhất, những vấn đề cụ thể phát sinh trong các lĩnh vực sẽ do các luật khác quy định. Quán triệt quan điểm này, BLDS sẽ không lấn sân các luật chuyên ngành và vẫn giữ vai trò đạo luật gốc trong việc điều chỉnh các quan hệ liên quan; hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính của Nhà nước vào các quan hệ dân sự, tôn trọng và phát huy sự tự thoả thuận, tự quyết định và chịu trách nhiệm của các chủ thể. Quán triệt quan điểm này, Dự thảo Luật sẽ được xây dựng theo hướng Nhà nước cần tôn trọng các giao dịch hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và tạo điều kiện về mặt thủ tục hành chính để các giao dịch đó được thực hiện nhanh nhất, thuận lợi nhất… Trong trường hợp sửa đổi toàn diện phải xây dựng BLDS hiện đại, có tính đến luật pháp các nước khác, nhất là những nước có nét tương đồng với Việt Nam.

(more…)

VĂN HOÁ KINH DOANH VIỆT NAM

DƯƠNG THỊ LIỄU & NGUYỄN VÂN HÀ

Xây dựng văn hóa kinh doanh (VHKD) là mục tiêu nhưng lại là thách thức lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần nhận thức rõ những hạn chế, bất cập trong VHKD Việt Nam, từ đó tìm ra hướng đi cho doanh nghiệp, doanh nhân để có thể tích cực, chủ động trong hội nhập, đảm bảo xây dựng nền VHKD Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững nền kinh tế đất nước trong thời gian tới.

NHỮNG BẤT CẬP CỦA VHKD VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP

Thực tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay, không ít doanh nghiệp Việt Nam đã trưởng thành, trụ vững và phát triển mạnh mẽ, mà nguyên nhân sâu xa chính là do các doanh nghiệp này đã và đang coi trọng xây dựng VHKD cho mình. Tuy nhiên, hiện còn không ít doanh nhân chưa nhận thức được vai trò, động lực của VHKD trong hội nhập nên trong quá trình kinh doanh đã bộc lộ những bất cập, ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực cạnh tranh, làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Dưới đây là một số bất cập chính của VHKD Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

Cung cách làm ăn nhỏ lẻ, thói quen tùy tiện, thiếu chuyên nghiệp, thiếu sáng tạo

Các doanh nghiệp Việt Nam vốn bị kém thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế do cung cách làm ăn manh mún, chạy theo lợi nhuận trước mắt mà ít nghĩ đến cục diện chung. Việc liên kết để đáp ứng những đơn đặt hàng lớn chỉ thuận lợi trong những bước đầu, sau đó, các doanh nghiệp thường tìm cách xé lẻ, giành riêng hợp đồng cho mình để rồi dẫn đến tình trạng luôn nghi kỵ, đối phó lẫn nhau và sẵn sàng giành giật quyền lợi riêng cho công ty mình mà không nghĩ đến cục diện chung. Nhiều doanh nghiệp không có khả năng tổ chức thực thi sản xuất và kinh doanh ở quy mô lớn cho cùng loại sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường.

(more…)

PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG VÀ NGUYÊN TẮC KHI GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

THS. NGUYỄN THỊ GIANG & NGUYỄN MAI HẠNH

Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng vai trò quan trọng và là tất yếu đối với đời sống xã hội. Song, việc chuyển giao các lợi ích này không phải tự nhiên thiết lập mà chỉ được hình thành khi có hành vi có ý chí của của chủ thể, như C. Mác đã từng nói: "Tự chúng, hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó"[1].

Theo đó, chỉ khi có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành và được gọi là hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của xã hội, của việc giao lưu, buôn bán, hợp tác kinh tế, thương mại, đã dẫn đến việc hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể khác nhau như hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động… Theo đó, hợp đồng theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể.

Trong pháp luật tư sản, chế định hợp đồng tồn tại trong lĩnh vực công pháp và tư pháp, song đặc biệt phát triển trong lĩnh vực tư pháp. Điều 1101 Bộ luật Dân sự Napoleon quy định, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó.[2] Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý, khoa học của khái niệm này, tại Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp hiện hành cũng đưa ra định nghĩa tương tự như vậy về hợp đồng.[3]

Trước hết, theo PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, thì cần phải phân biệt hai loại hợp đồng là hợp đồng hành chính và hợp đồng dân sự. Bởi hai loại hợp đồng phải tuân theo chế độ pháp lý khác nhau và khi có tranh chấp xảy ra cũng được giải quyết ở hai loại toà án khác nhau. Cơ sở để phân biệt hai loại hợp đồng này là có hay không có sự bình đẳng giữa các chủ thể pháp luật. Cụ thể, trong hợp đồng dân sự, các chủ thể luôn có quan hệ bình đẳng; còn trong hợp đồng hành chính một bên luôn là pháp nhân công quyền tham gia vì lợi chung, còn bên kia có thể là pháp nhân công hoặc tư hoặc là cá nhân và vì lợi ích của mình, vì thế vấn đề bình đẳng giữa các chủ thể khó có thể đạt được.[4]

(more…)

MỘT SỐ LỖI THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA, ĐÀM PHÁN, KÝ KẾT HỢP ĐỒNG

LG. TRẦN MINH SƠN

Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí rất quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bởi vì, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường, đều liên quan đến hợp đồng. Chính vì lẽ đó mà các chế định về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chiếm một vị trí nòng cốt với hơn 300 điều trên tổng số 777 điều. Mục đích của pháp luật về hợp đồng là nhằm bảo vệ quyền tự do ý chí của các bên. Quyền tự do ý chí này chỉ bị hạn chế bởi một số ngoại lệ nhằm bảo vệ trật tự công hoặc nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba.

Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật kinh doanh bảo hiểm…, tuy nhiên, Bộ luật dân sự được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm. Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật Dân sự, tuỳ vào tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vưc đó, ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật Thương mại, hợp đồng bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm … Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự được coi là các quy định chung còn các quy định về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng.

Pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay, tuy có một số hạn chế nhất định đang được các nhà làm luật tiếp tục sửa đổi, bổ sung để bắt kịp với thực tiễn xã hội nhưng nhìn chung được xem là khá tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ hiện nay. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung các chế định về hợp đồng đã phần nào quán triệt, thể chế hoá các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước, cụ thể hoá các quyền về kinh tế, dân sự của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và đáp ứng được các yêu cầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng đã thể hiện quan điểm tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được toàn quyền quyết định về đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức hợp đồng, nội dung của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm.

(more…)

BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ Ở DOANH NGHIỆP: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KINH TẾ HỌC

TẠ DOÃN TRỊNH

Theo Adam B. Jaffe, lợi ích do tri thức tạo ra từ hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) được các doanh nghiệp nắm giữ thông qua các phương thức sau1: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT); tận dụng thời gian đi trước dẫn đầu và cơ hội tích luỹ kinh nghiệm; nắm giữ những tài sản hay năng lực chuyên dụng. Trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ tập trung vào phương thức bảo hộ quyền SHTT, đặc biệt xem xét ý nghĩa kinh tế của việc bảo hộ sáng chế, một sản phẩm đầu ra quan trọng trong hoạt động R&D của doanh nghiệp và cũng là sản phẩm có tác động to lớn đến phát triển kinh tế thông qua hiệu ứng lan toả của mình.

1. Tại sao phải bảo hộ quyền SHTT?

Trước hết, hãy cùng nhau trả lời cho câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra khi doanh nghiệp sở hữu một ý tưởng có tiềm năng khai thác thương mại trên thị trường?

Thông thường, để hiện thực hoá ý tưởng trong thực tiễn và tiếp đó là chuỗi hoạt động sản xuất – tiếp thị – bán sản phẩm trên thị trường, các doanh nghiệp cần một sự đầu tư nhất định. Trong trường hợp thiếu vốn đầu tư, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức: Đi tìm nhà đầu tư hay tìm người chấp nhận chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng (mua đứt) quyền sở hữu sáng chế.

Từ đây sẽ xuất hiện tình thế khó xử cho doanh nghiệp: Bộc lộ sáng chế hay không bộc lộ nếu không tồn tại khả năng bảo hộ độc quyền cho sáng chế này. Tình thế khó xử này xuất phát từ bản chất bên trong của tri thức KH&CN, loại hàng hoá tiêu dùng công ích tạo ra hiệu ứng lan toả. Cụ thể là, trong quá trình thương thảo mua bán, nhà đầu tư hoặc người mua bất kỳ sẽ không sẵn lòng hứng chịu rủi ro nếu không được biết các thông tin đủ chi tiết về sáng chế để ước tính giá trị của sáng chế đó. Do vậy, nếu không bộc lộ, nhà đầu tư hay người mua bất kỳ sẽ khó có thể đánh giá hay nhận biết được đúng giá trị của sáng chế. Còn trong trường hợp bộc lộ hoàn toàn bản chất của sáng chế để thu hút đầu tư, sẽ xảy ra khả năng doanh nghiệp không thể kiểm soát được sáng chế do mình tạo ra.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: