XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

THS. LÊ VIỆT LONG – Thanh tra, Bộ Công Thương

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trở nên đặc biệt quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong quan hệ kinh tế quốc tế. Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hàng giả ngày càng được quan tâm hơn. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tình trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục có những giải pháp mạnh mẽ và có hiệu quả hơn.

1. Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ

Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5 năm (2002-2007), lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát hiện 1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả. Ngoài ra mỗi năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện hàng ngàn vụ sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong năm 2006, thanh tra chuyên ngành văn hoá – thông tin tiến hành kiểm tra 20.414 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 5.647 cơ sở vi phạm; đã cảnh cáo 519 cơ sở; đình chỉ hoạt động của 289 cơ sở; tạm giữ giấy phép kinh doanh của 160 cơ sở; chuyển xử lý hình sự 09 trường hợp; xử phạt hành chính 10.891.780.000 đồng. Thanh tra chuyên ngành khoa học và công nghệ tiến hành thanh tra, kiểm tra 1.536 cơ sở về chấp hành các quy định sở hữu công nghiệp, xâm phạm quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và cạnh tranh không lành mạnh đã phát hiện 107 cơ sở sai phạm, buộc tiêu huỷ và loại bỏ các yếu tố vi phạm khỏi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và phạt tiền 224.900.000 đồng. Thanh tra Bộ Văn hoá – Thông tin tiến hành kiểm tra và phát hiện nhiều cơ sở kinh doanh máy tính lắp đặt, xây dựng các trang Web, cung cấp cho khách hàng các phần mềm Windows, Micrrosoft office, Vietkey… vi phạm pháp luật về bản quyền[1].

Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay được thực hiện bằng nhiều phương thức, thủ đoạn mới như áp dụng công nghệ cao, sử dụng các thiết bị hiện đại để sản xuất hàng hoá làm cho người tiêu dùng và cơ quan quản lý thị trường khó phát hiện thật /giả. Các hành vi vi phạm này ngày càng nguy hiểm hơn ở tính chất vi phạm, có tổ chức chặt chẽ không những trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn mở rộng đối với tổ chức và cá nhân nước ngoài. Ví dụ như, hàng năm sản lượng nước mắm Phú Quốc chỉ đạt tối đa 15 triệu lít, nhưng có tới hàng trăm triệu lít nước mắm mang tên Phú Quốc tung ra thị trường[2]. Hoặc Công ty Unilever Việt Nam có thời điểm bị thiệt hại do hàng nhái, hàng giả và buôn lậu lên tới hàng chục triệu USD, trong đó đã xác định được 90% hàng giả theo các nhãn hàng của Unilever là có xuất xứ từ nước ngoài[3].

CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

TS. NGUYỄN THỊ KIM THANH – Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng – NHNN

Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2010 đã xác định mục tiêu tổng quát của năm 2010 là “nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010”.

Trong đó, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) góp phần thực hiện thành công các mục tiêu trên là không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh sức ép gia tăng lạm phát như hiện nay.

Nhìn lại năm 2009, khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam đứng trước một năm đầy khó khăn và thách thức. Trên cơ sở bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ cùng với sự nỗ lực của toàn ngành, hoạt động ngân hàng năm 2009 đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Trong đó, nổi bật là việc triển khai kịp thời cơ chế hỗ trợ lãi suất, điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong năm 2009 đã có sự ổn định tương đối so với năm 2008. Tuy nhiên, trên thực tế, những biến động và căng thẳng trên thị trường tiền tệ vẫn còn tồn tại, ở một số thời điểm, đã có những ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và tâm lý của người dân trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với hoạt động của ngành Ngân hàng trong năm 2010. Một trong những vấn đề của năm 2009, mặc dù đã có những giải đáp cụ thể về chính sách điều hành, song, trong những tháng đầu năm 2010, vẫn nổi lên những vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN, đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động có được thực hiện hay không đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách lãi suất hiện nay

Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) của các  nước trên thế giới cũng nhưNHNN Việt Nam là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia – thông qua việc kiểm soát lạm phát. Trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó.

(more…)

TRÁCH NHIỆM NGHIÊM NGẶT VÀ MIỄN, GIẢM TRÁCH NHIỆM TRONG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM

THS. PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH – Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh

Dự thảo Luật Bảo vệ người tiêu dùng (Dự thảo Luật BVNTD) đang được xây dựng. Một trong những điểm mới và quan trọng của Dự thảo là các quy định về trách nhiệm sản phẩm (TNSP), trong đó có trách nhiệm nghiêm ngặt (TNNN). Bài viết bàn về trách nhiệm dựa trên yếu tố lỗi và TNNN, phân tích lý do Việt Nam nên áp dụng TNNN. Đồng thời, tác giả cũng bàn về các trường hợp miễn, giảm TNSP trong Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (Luật CLSPHH) và Dự thảo Luật BVNTD. Từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện Dự thảo trên cơ sở so sánh với Chỉ thị 85/374/EEC ngày 25/7/1985 của Cộng đồng châu Âu (Chỉ thị) về sự tương đồng trong luật, điều lệ, và những quy định hành chính của các quốc gia thành viên liên quan đến trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật và Luật BVNTD năm 1987 của Anh1.

1. Trách nhiệm dựa trên lỗi và trách nhiệm nghiêm ngặt

1.1. Trách nhiệm dựa trên lỗi

Thông thường, lỗi được xem là cơ sở thứ tư và cũng là cơ sở cuối cùng để yêu cầu bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng. Yếu tố lỗi được xem là tình trạng nhận thức có thể là cố ý, vô ý, hay ác ý2.

Yếu tố lỗi yêu cầu phải được chứng minh nhằm giảm tải cho Tòa án và kích thích chính sách “laissez faire policy”; tức là “mỗi cá nhân nên chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình, với sự tác động chút ít từ phía Nhà nước nếu có thể”3. Ngoài ra, nó còn nhằm thúc đẩy việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, chuyển gánh nặng chịu thiệt hại từ người phải chịu thiệt hại sang người phải BTTH, làm cho tiền BTTH dễ tính toán hơn. Yếu tố lỗi còn cho phép người gây ra thiệt hại yêu cầu được miễn hay giảm trách nhiệm do người bị thiệt hại có lỗi4. Những quan điểm trên đây dường như là có lý, nhưng liệu rằng, chỉ có thông qua yếu tố lỗi người ta mới đạt được những mục đích nói trên?

Trên thực tế có nhiều ý kiến không ủng hộ yêu cầu về lỗi5. Người ta cho rằng lỗi có thể dẫn đến những phân biệt không công bằng; đó là những người cùng gánh chịu thiệt hại về sức khỏe như nhau, nhưng lại được bồi thường khác nhau khi lỗi của người bị thiệt hại được chứng minh. Theo chúng tôi, ý kiến cho rằng lỗi có thể dẫn đến những phân biệt không công bằng là không chính xác. Việc xác định lỗi của người bị thiệt hại tức là xác định mức độ đóng góp của các bên trong việc gây ra thiệt hại. Thông qua việc xác định mức độ lỗi, Tòa án cũng dễ dàng hơn trong việc ấn định mức BTTH. Vì vậy, việc xác định mức độ lỗi của các bên sẽ bảo đảm sự công bằng cho cả người bị thiệt hại và người gây ra thiệt hại.

(more…)

THAY LÃI SUẤT CƠ BẢN BẰNG LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH

TS. LÊ HỒNG GIANG

Hầu hết các sách giáo khoa kinh tế vĩ mô đều định nghĩa chính sách tiền tệ là những quyết định của ngân hàng trung ương liên quan đến thay đổi tổng lượng tiền hay tổng phương tiện thanh toán lưu thông trong nền kinh tế. Một thực tế là hiện nay không còn ngân hàng trung ương nào kiểm soát trực tiếp số lượng tiền lưu thông nữa mà họ cố gắng lái mặt bằng lãi suất trên thị trường dao động trong một khoảng nhất định. Chính sách tiền tệ hiện đại gần như tương đương với chính sách lãi suất. Người ta nói đến các chính sách thắt chặt và nới lỏng tiền tệ tương đương với tăng và giảm lãi suất.

Ở các nước phát triển, lãi suất mà các ngân hàng trung ương cố gắng tác động là lãi suất rất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, thường là cho vay qua đêm như ở Mỹ hay dài lắm là ba tháng như trường hợp Thuỵ Sỹ. Ngân hàng trung ương không bao giờ can thiệp trực tiếp vào lãi suất huy động hoặc cho vay giữa ngân hàng thương mại và khách hàng của họ. Ở những nước này, một uỷ ban chính sách tiền tệ thuộc ngân hàng trung ương (nhưng các thành viên có thể từ giới doanh nghiệp và giới hàn lâm bên ngoài) ra quyết định lãi suất trong các cuộc họp định kỳ, thường là hàng tháng. Mỗi ngân hàng trung ương gọi lãi suất mục tiêu này với một tên gọi khác nhau, ví dụ ở Mỹ là Fed Funds Rate, ở Úc là Cash Rate, ở Anh là Bank Rate. Tên gọi chung trong tiếng Anh cho các loại lãi suất mục tiêu này là “policy rate”, nếu dịch sát sẽ là “lãi suất chính sách”. Còn ở Việt Nam, các loại lãi suất mục tiêu này, vì lý do nào đó, được dịch và xuất hiện trên báo chí dưới cái tên “lãi suất cơ bản”.

Thông thường, sau khi quyết định lãi suất mục tiêu ngân hàng trung ương sẽ can thiệp vào thị trường liên ngân hàng thông qua “hoạt động thị trường mở”, nghĩa là mua hoặc bán trái phiếu chính phủ để lái mặt bằng lãi suất trên thị trường này về gần với mục tiêu. Bên cạnh “hoạt động thị trường mở”, nhiều ngân hàng trung ương còn sử dụng một số công cụ bổ sung để tăng tính hiệu quả của chính sách tiền tệ như mua bán repo, trả lãi suất cho dự trữ bắt buộc, phát hành trái phiếu ngân hàng trung ương, hay cho vay tái cấp vốn trực tiếp cho các ngân hàng thương mại. Những công cụ này đều đi kèm với các lãi suất mục tiêu tương ứng có quan hệ mật thiết với “lãi suất chính sách”. Mỗi khi hội đồng tiền tệ của ngân hàng trung ương thay đổi “lãi suất chính sách”, các loại lãi suất này cũng được thay đổi theo một tỷ lệ tương đối cố định. Bởi vậy giới doanh nghiệp và báo chí hầu như chỉ quan tâm đến “lãi suất chính sách”.

(more…)

VIỆT NAM SAU 2 NĂM GIA NHẬP WTO

PHẠM GIA KHIÊM – Chủ tịch Ủy ban quốc gia Hợp tác kinh tế quốc tế

Việt Nam sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới Phó Thủ tướng, Chủ tịch UBQG-HTKTQT Phạm Gia Khiêm Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11-1-2007 là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Những thành tựu đạt được trong hai năm qua cho thấy, việc Việt Nam tham gia vào WTO là phù hợp với thực tế khách quan và xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trên thế giới hiện nay.

Trên tinh thần chủ động hội nhập, cùng với việc tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Thỏa thuận ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc,… thực hiện các thỏa thuận song phương như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật Bản, tham gia các diễn đàn hợp tác kinh tế liên khu vực ASEM, APEC, Việt Nam đã thật sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Ngay sau khi gia nhập WTO, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế. Ngày 5-2-2007, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/T.Ư về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO”. Theo đó, Chính phủ, các bộ, ngànhvà địa phương cũng đã ban hành các Chương trình hành động theo các định hướng lớn của Ðảng.

Ðể thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh chính sách thương mại theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn, ban hành nhiều luật và các văn bản dưới luật để thực hiện các cam kết đa phương, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong quá trình hội nhập.
Mặc dù thời gian hai năm chưa đủ để có thể đánh giá toàn diện những tác động kinh tế – xã hội của việc gia nhập WTO, nhưng chúng ta cũng có thể thấy một số kết quả tích cực như sau:

(more…)

QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT; ĐĂNG KÝ BIẾN ĐỘNG VỀ SỬ DỤNG ĐẤT, SỞ HỮU TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT CHO CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Ban hành kèm theo Quyết định số 18/2010/QĐ-UBND ngày 10 tháng 5 năm 2010

của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội)

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định này quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các tổ chức trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Các tổ chức, gồm:

a) Tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chínhtrị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế – xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ.

b) Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo.

c) Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.

d) Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư.

2. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng; cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước khác có liên quan.

(more…)

THẾ NÀO LÀ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG?

HUY NAM

Không đơn giản chỉ là loại “hơn trăm cổ đông, trên mười tỉ bạc”, công ty có năm ba cổ đông vẫn có thể là anh đại chúng. Đại chúng là một khuôn khổ được luật chế định, là tình trạng pháp lý mà doanh nghiệp chạm đến hay rơi vào theo ước lệ sau khi tiến hành một bước đi nào đó. Để có thể hiểu rõ về công ty đại chúng ta sẽ bắt đầu từ công ty nội bộ.

Thế nào là công ty nội bộ? Công ty nội bộ (private company hay privately held corporation) thường là dạng công ty nhỏ, sở hữu bởi một số ít người, không được gọi vốn rộng rãi, không có giao dịch chứng khoán, ít bị áp lực giám sát, yêu cầu minh bạch theo thủ tục (về sổ sách, báo cáo) không cao, loại được khả năng bị thâu tóm, và một số đặc điểm khác tùy theo luật mỗi nước.

Nhìn chung số cổ đông được giới hạn dưới 50.Ở Mỹ, loại công ty nội bộ điển hình có tình trạng pháp lý gọi là “S Corporation”. Theo luật thuế thu nhập của Mỹ, S Corporation không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp, toàn bộ lợi nhuận công ty và cổ tức được đưa về cho cổ đông khai thuế (nghĩa là không bị đánh thuế hai lần).

Để được xem là S Corporation, công ty phải đáp ứng một số yêu cầu bắt buộc. Theo đó, công ty chỉ được phát hành một loại cổ phần duy nhất, số cổ đông không vượt quá 100 người. Cổ đông phải là người phàm xác thịt (không phải là tổ chức) và phải là công dân Mỹ, đây chính là công ty 100% vốn trong nước vậy.

Công ty nội bộ thường là loại có địa bàn hoạt động hẹp, hiện diện theo địa phương, được tổ chức theo đặc điểm ngành nghề và không (hay chưa) có nhu cầu huy động vốn lớn. Ở Anh và nhiều nước theo hệ luật của Anh loại này có vốn thành lập nhỏ, chỉ cần một bảng Anh vốn cổ phần ban đầu là đủ.

(more…)

MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN – CẦN CHẾ TÀI ĐỦ MẠNH

HÀ AN

Sự phát triển của kinh tế thị trường làm xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ môi giới, với hình thức, quy mô hoạt động ngày càng rộng rãi và được công nhận là nghề trong xã hội. Trong đó phải kể đến nghề môi giới bất động sản.

Môi giới bất động sản được hiểu là hoạt động của bên thứ 3 (cá nhân hoặc tổ chức) với mục đích giới thiệu, giải quyết những vấn đề liên quan giữa các bên: bên bán, cho thuê với bên mua, bên thuê trong giao dịch như mua, bán, cho thuê, cho thuê lại bất động sản… với khoản phí theo hợp đồng môi giới.

Như vậy, bản thân bên môi giới phải là người chủ động trong các giao dịch liên quan đến bất động sản: họ làm nhiệm vụ kết nối giữa bên bán, cho thuê với bên mua, cần thuê từ việc gặp gỡ, trao đổi, thương thảo cho đến khi kết thúc giao dịch.

Trước khi hoạt động môi giới diễn ra thì bên môi giới phải tiếp xúc với khách hàng của mình để nắm được nhu cầu của khách hàng và khả năng tài chính thực sự của họ. Đây là khâu cần thiết trong bất kỳ hoạt động môi giới nào. Bằng kinh nghiệm, khả năng phân tích, phán đoán hoặc sự nhạy cảm nghề nghiệp bên môi giới có thể xác định được độ khả thi của kết quả môi giới đến đâu giúp cả 3 bên (bên môi giới, bên bán, cho thuê và bên mua, thuê) tiết kiệm được thời gian, cũng như các khoản chi phí không cần thiết khác…

Để trở thành nhà môi giới thành công, có thương hiệu, uy tín lớn, ngoài sự am hiểu về kiến thức pháp luật liên quan đến bất động sản như: Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Xây dựng, các dự án quy hoạch, kiến thức phong thủy… thì họ cần phải chứng tỏ cho khách hàng biết khả năng nhạy bén thị trường của mình cũng như sự hiểu biết kiến thức thông qua việc tư vấn cho khách hàng (bên mua, bên thuê) các khoản vay tín dụng có hỗ trợ lãi suất từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng… Đây là điều mà bất kỳ khách hàng nào khi tham gia giao dịch cũng mong muốn có được từ các nhà môi giới và tạo ra điểm khác biệt giữa môi giới bất động sản chuyên nghiệp và các loại hình môi giới khác. Chính nhà môi giới là người cung cấp thông tin về pháp luật, chính sách của Nhà nước một cách đầy đủ và trung thực cho khách hàng từ việc dự án quy hoạch xây dựng như thế nào cho đến những những chính sách pháp luật mới thay đổi ảnh hưởng đến thị trường bất động sản ra sao? Sự linh hoạt nhạy bén cùng với sự trung thực của nhà môi giới sẽ tạo nên uy tín, thương hiệu cũng như sự tin cậy từ phía khách hàng. Tực tế thời gian qua một số nhà môi giới đã làm rất tốt, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh bất động sản ở nước ta sôi động hơn. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số yếu kém cần phải thay đổi.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: