LỖ HỔNG PHÁP LÝ NHÌN TỪ CÂU CHUYỆN JETSTAR

NGUYỄN MAI PHƯƠNG – Chuyên viên tư vấn cao cấp – Công ty luật EPLegal

Thời điểm Jetstar Pacific buộc phải gỡ bỏ tất cả các biểu tượng Jetstar không còn bao lâu, nhưng những tranh cãi vẫn chưa có hồi kết. Vậy thực sự mắc mớ của câu chuyện này ở đâu? Các hãng hàng không nước ngoài có khả năng và tư cách thế nào trong chiến lược định vị thị trường tại Việt Nam? Có thể trả lời câu hỏi này nhìn từ khía cạnh pháp lý.

Lối tắt để thâm nhập thị trường

Theo Luật Hàng không dân đụng, các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia vào thị trường dịch vụ vận chuyển hàng không trên các đường bay nội địa một cách hợp pháp bằng cách hợp tác với các pháp nhân hoặc cá nhân Việt Nam dưới hình thức thành lập công ty liên doanh. Tuy nhiên, phần vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 49% vốn điều lệ của công ty liên doanh và phần vốn góp của từng nhà đầu tư nước ngoài không được quá 30%. Theo quy định này, tập đoàn Qantas (Úc) và hãng hàng không AirAsia (Malaysia) đã mua lại cổ phần của hai hãng hàng không nội địa để chuyển thành hai công ty liên doanh tương ứng là Jetstar Pacific Airlines (JPA) và VietJet AirAsia (VJA). Vì vậy, căn cứ theo Luật nói trên và được sự chấp thuận của Bộ Giao thông Vận tải (MOT), tỷ lệ sở hữu của phía nước ngoài trong JPA (27%) và VJA (30%) là hoàn toàn hợp lệ.

Tuy nhiên, tính hợp pháp của việc các liên doanh này cung cấp các chuyến bay nội địa vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Vì chưa có một định nghĩa chính thức cho khái niệm “hãng hàng không nội địa” trong pháp luật về hàng không dân dụng nên tạm thời khái niệm “công ty trong nước” hay “doanh nghiệp Việt Nam” sẽ được sử dụng ở đây. Theo Điều 2 của Quyết định 88/2009/QĐ – TTg ban hành quy chế về góp vốn và mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện cổ phần hóa hoặc được chuyển đổi sang các hình thức khác, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Như vậy, một công ty trong nước không được định nghĩa dựa trên tỷ lệ sở hữu của phía nước ngoài mà bởi quyền tài phán mà doanh nghiệp đó chịu ràng buộc. Nếu xét theo khía cạnh này thì cả JPA và VJA đều được xem là doanh nghiệp trong nước. Mặc dù các quy định của pháp luật cho phép thành lập công ty liên doanh trong ngành hàng không dân dụng, nhưng vẫn chưa điều chỉnh rõ ràng về khả năng và điều kiện để các liên doanh này khai thác các đường bay nội địa cũng như một định nghĩa cụ thể cho khái niệm “hãng hàng không nội địa”. Do đó, việc thành lập công ty liên doanh có thể mang lại nhiều rủi ro cho nhà đầu tư nước ngoài vì chưa xác định được khả năng cung cấp các chuyển bay nội địa của các công ty liên doanh này.

(more…)

CẦN ĐIỀU CHỈNH LẠI CÁC KHÁI NIỆM “ĐẦU TƯ” VÀ “VỐN ĐẦU TƯ”

VŨ QUANG VIỆT

1. Thế nào là đầu tư?

Đầu tiên cũng nên giải thích cho rõ hơn thế nào là “đầu tư” theo quan điểm của quốc tế. Từ ngữ quốc tế chính xác là gross capital formation, có thể dịch là “tích lũy tài sản cố định gộp”.

Thế nào là tích lũy tài sản cố định gộp? Đó là sự tăng/giảm về tài sản cố định (có thể là do đầu tư, có thể do người khác cho, có thể là giảm đi do đem bán) do kết quả của quá trình sản xuất. Việc giảm do tai nạn cháy nhà, phá hủy để xây mới không được tính vào đây vì đây là các hành động không nằm trong diện giao dịch trong sản xuất.

Gọi là “gộp” vì chưa tính phần mất mát vì tuổi thọ giảm và vì năng suất giảm của tài sản cố định theo thời gian cũng như sự lạc hậu của tài sản. Phần mất mát này có thể gọi tạm là khấu hao tài sản cố định, nhưng về mặt kinh tế nó hoàn toàn khác ý niệm dùng trong hạch toán doanh nghiệp vì nó phải phản ảnh sự mất mát liên quan đến tuổi thọ và năng suất, do đó phải được các nhà thống kê tính toán.

 

(more…)

BÁO CÁO SỐ 316/BC-UBTVQH12 NGÀY 21 THÁNG 04 NĂM 2010 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ ÁN LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Kính thưa:
Các vị đại biểu Quốc hội,

Dự án Luật thuế nhà, đất đã được Quốc hội khóa 12 cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6. Sau kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo Cơ quan thẩm tra, Cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, lấy ý kiến nhân dân để hoàn chỉnh Dự án Luật.

Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật này như sau:

I. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Về sự cần thiết ban hành, phạm vi áp dụng và tên gọi của luật

Theo quy định của Dự thảo luật thì Luật thuế nhà, đất được ban hành để áp dụng thuế đối với hai loại đối tượng là: (1) nhà ở và (2) đất phi nông nghiệp.

Nhiều ý kiến tán thành về sự cần thiết ban hành luật. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị chưa ban hành luật tại thời điểm hiện nay. Cần khảo sát, đánh giá và cân nhắc tính hợp lý của việc ban hành.

Dưới đây, UBTVQH xin báo cáo cụ thể về sự cần thiết ban hành luật đối với từng loại đối tượng (nhà và đất) như sau:

a. Về sự cần thiết ban hành luật thuế áp dụng đối với đất phi nông nghiệp

UBTVQH cho rằng, cần thiết ban hành luật thuế áp dụng đối với đất phi nông nghiệp với lý do sau:

Thứ nhất, Pháp lệnh thuế nhà, đất được UBTVQH thông qua ngày 3/7/1992, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1994, quy định về điều tiết nguồn thu đối với đất phi nông nghiệp. Pháp lệnh này bước đầu đặt cơ sở cho việc tăng cường quản lý, động viên đóng góp của người sử dụng đất vào NSNN, tăng cường nguồn lực cho ngân sách địa phương.

(more…)

BÁO CÁO SỐ 324/BC-UBTVQH12 NGÀY 17 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA Ủ̉Y BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

Kính gửi:
Các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XII đã xem xét, cho ý kiến về dự thảo Luật An toàn thực phẩm. Đa số ý kiến đại biểu tán thành với sự cần thiết ban hành và nội dung cơ bản của dự thảo Luật An toàn thực phẩm, báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đồng thời đóng góp nhiều ý kiến cho Dự thảo Luật. Sau kỳ họp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của các vị đại biểu Quốc hội về dự thảo Luật An toàn thực phẩm và gửi xin ý kiến các đoàn đại biểu Quốc hội; đồng thời tổ chức nhiều hội nghị để xin ý kiến của đại diện nhiều cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, chuyên gia trong và ngoài nước. Tại Phiên họp thứ 27 (tháng 1/2010) và Phiên họp thứ 30 (tháng 4/2010), Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật An toàn thực phẩm để chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 7.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật An toàn thực phẩm như sau:

I – VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

1. Về quản lý đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ

Có ý kiến đề nghị làm rõ Luật có quản lý an toàn thực phẩm đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ hay chỉ quy định đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp.

Về vấn đề này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, ở Việt Nam, việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ còn phổ biến, liên quan tới đời sống của 9,4 triệu hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản và người kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ. Vì vậy, để phù hợp với điều kiện thực tiễn và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, dự thảo Luật quy định theo hướng:

- Mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều phải bảo đảm an toàn thực phẩm, việc quản lý an toàn thực phẩm dựa trên tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, các quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành (Điều 3); Nhà nước có chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn; khuyến khích và có lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành nông nghiệp tốt (GAP) (Điều 4), quy định về quyền và nghĩa vụ của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Điều 7 và Điều 8 Chương II), quy định về điều kiện bảo đảm an toàn trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Chương IV).

(more…)

VIỆT NAM CẢM NHẬN MẶT TRÁI CỦA THƯƠNG MẠI TỰ DO

image TRẦN LÊ ANH

Với việc thực thi Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế của Việt Nam giờ đã hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu. Thương mại hàng hoá chiếm hơn 150% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2008, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tăng hơn ba lần, đạt gần 63 tỉ USD trong năm 2008. Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã đẩy xuất khẩu của Việt Nam xuống dưới 57 tỉ USD trong năm ngoái, nhưng nó được dự báo là sẽ phục hồi trở lại trong năm nay khi nhu cầu ở Mỹ và các thị trường xuất khẩu quan trọng khác tăng lên.

Mặc dù vậy, điều này không làm giảm bớt những lo ngại về thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam, khi mà con số này đã lên đến bằng 12,8% GDP trong năm 2008. Thâm hụt thương mại đều đặn không hẳn là tiêu cực, đặc biệt là khi nó đưa đến việc nhập khẩu máy móc và công nghệ để thúc đẩy tăng trưởng, trường hợp của Việt Nam là có vấn đề với những lý do sau:

Việt Nam nhập khẩu số lượng lớn nguyên liệu và phụ tùng để phục vụ cho guồng máy xuất khẩu, đặc biệt là cho các ngành công nghiệp may mặc và giày dép. Điều này chứng tỏ Việt Nam thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ cần thiết để thu lợi ích kinh tế lớn hơn từ xuất khẩu và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá. Sự lệ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu đầu vào cũng làm cho kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương bởi những thay đổi từ thị trường bên ngoài, bao gồm cả sự biến đổi nhanh chóng của giá cả hàng nguyên liệu.

Thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam với Trung Quốc kể từ năm 2001 là một nguyên nhân đặc biệt đáng quan tâm. Trong năm 2009, thâm hụt với Trung Quốc lớn hơn 11 tỷ USD, chiếm hơn 91% tổng thâm hụt thương mại của Việt Nam.
Thách thức từ hàng nhập khẩu Trung Quốc, vốn đã đe dọa sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước, có thể gia tăng khi Việt Nam tham gia vào tự do hóa thương mại hơn nữa thông qua Khu vực Thương mại Tự do Asean-Trung Quốc – điều này sẽ cho phép một tỷ lệ lớn hơn của hàng hóa Trung Quốc vào thị trường Việt Nam mà không phải chịu thuế nhập khẩu từ năm 2015.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: