VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

GS.TS. NGUYỄN THỊ CÀNH – THS. TRẦN HÙNG SƠN

Bài viết này giới thiệu tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại VN (bao gồm quá trình hoàn thiện khung pháp luật và thu hút đầu tư FDI), vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế thông qua các chỉ số như tăng vốn đầu tư xã hội, gia tăng sản lượng sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng việc làm và nguồn thu ngân sách quốc gia, và đặc biệt đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Phương pháp phân tích gồm mô tả thống kê mối quan hệ giữa nguồn vốn FDI và các kết quả phát triển kinh tế, và sử dụng mô hình kinh tế lượng để đo lường tác động của nguồn vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế. Nguồn số liệu sử dụng trong phân tích là số liệu thứ cấp lấy từ các báo cáo, trang Web cuả Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn 1988-2008.

1. Đôi nét về cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại VN

Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đại hội VI Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản VN năm 1986, nhiều chính sách kinh tế được thay đổi. Việc hình thành các văn bản pháp lý đã thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng. Luật đầu tư nước ngoài tại VN được ban hành vào năm 1987 là một trong những đạo luật khởi đầu cho thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường pháp lý thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào VN. Kể từ khi ban hành năm 1987 đến nay, Luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, VN ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006) thay thế Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Luật đầu tư ra đời nhằm cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư. Luật đầu tư đã cải thiện môi trường đầu tư bằng việc đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Luật đầu tư năm 2005 đã thể hiện việc phân cấp mạnh cho các địa phương cụ thể là tăng quyền hạn cho Ủy ban Nhân dân (UBNN) tỉnh và Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao về cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch, hoặc chưa có quy hoạch, những dự án còn lại sẽ do UBND cấp tỉnh và Ban quản lý tự quyết định và cấp giấy phép đầu tư.

(more…)

TÍNH TOÁN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương

Một trong những vấn đề khó khăn và hay gây tranh cãi trong các tranh chấp, đó là việc tính toán số tiền bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm. Để đòi bồi thường thành công, các bên cần phải lưu ý tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản.

Tranh chấp giữa một Cty Pháp (người mua) và một Cty Italia (người bán). Do hàng hóa người bán giao không phù hợp với hợp đồng, người mua hủy hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên tranh cãi về số tiền bồi thường. Tranh chấp được xét xử tại Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes (Pháp), bản án ngày 27/05/2008. Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (cụ thể là các điều 25, 35, 47, 49, 75 và 77) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Diễn biến tranh chấp

Cty Pháp đã ký với Cty Italia một số hợp đồng mua miếng lót ngực để sản xuất áo bơi với tổng số lượng là 17.600 đôi. Hàng hóa được giao đến cho một Cty Tunisie để gia công. Trong quá trình gia công, người mua phát hiện ra các miếng lót ngực không phù hợp với yêu cầu về chất lượng đã được quy định trong hợp đồng và trả lại hàng. Ngày 3/11/2003, người bán Italia đề nghị sẽ sửa chữa hàng hóa và sẽ giao hàng hóa phù hợp trong thời gian 5 tuần. Tuy vậy, người bán đã không thực hiện được việc sửa chữa hàng hóa trong thời gian nói trên. Ngày 11/12/2003, người mua tuyên bố hủy hợp đồng và đòi người bán bồi thường 32.490 eur, bao gồm 2 khoản sau:

1. Chi phí sản xuất lô áo bơi tại Tunisie từ miếng lót ngực không đạt chất lượng: 16.290 eur (1800 áo x chi phí 9,05 eur/áo)

2. Thiệt hại (do chênh lệch giá) khi mua miếng lót ngực để thay thế. Cty người mua, vào tháng 12/2003 đã phải đặt hàng mua gấp 16.200 đôi miếng lót ngực từ một nhà cung cấp T khác và vì mua gấp cũng như không có vị thế đàm phán nên phải chấp nhận mức giá cao hơn 1 eur so với mức giá trong hợp đồng, dẫn đến thiệt hại là 16.200 eur.

Người bán phản đối các khoản bồi thường nói trên và cho rằng các khoản này là không hợp lý.

(more…)

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG GIẢI QUYẾT LY HÔN: “TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN TRẦM TRỌNG” – KHÓ ĐỊNH LƯỢNG

HOÀNG YẾN

Mỗi ngày, các trung tâm tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình tiếp không ít người đến than khổ vì tòa không cho ly hôn.

Theo luật, muốn được giải quyết ly hôn thì tình trạng hôn nhân của họ phải trầm trọng. Tuy nhiên, thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng thì ngay chính các thẩm phán cũng còn đang mơ hồ…

Năm 2005, chị NTK từ Hải Phòng vào TP.HCM làm việc rồi kết hôn với anh NTV. Đáng buồn là cuộc sống giữa chị và gia đình chồng sau khi cưới đã không thể hòa hợp. Cha mẹ chồng luôn có lời lẽ chê bai, xúc phạm chị ăn bám nhà họ dù chị vẫn có công việc ổn định.

Muốn chia tay mà không được

Để tránh đụng chạm, nhiều lần chị K. đề nghị chồng ở riêng nhưng anh không đồng ý vì anh là con trai một. Anh lại rất được gia đình cưng chiều, có vợ rồi nhưng vẫn quen thói ỷ lại, không chịu giúp đỡ vợ bất cứ việc gì. Ngày yêu nhau, chị nghĩ sau khi cưới anh sẽ thay đổi nhưng giờ chị biết là không thể. Tệ hơn, khi anh thấy cảnh vợ và gia đình mình bất đồng, anh không chủ động cùng vợ tháo gỡ mà còn thường xuyên rong chơi, nhậu nhẹt, nhậu say về lại đánh đập chị. Gia đình chồng thấy thế cũng không hề can thiệp, có lần chị bị thương nặng, chỉ có hàng xóm đưa vào bệnh viện.

Kể trong tủi hờn, chị bảo chỉ vì thương con, yêu anh mà chị mới ráng chung sống đến giờ. Nay nhận thấy tình cảm dành cho chồng đã hết, chị không muốn tiếp tục sống những tháng ngày đen tối thêm nữa nên đã nhiều lần đề nghị chồng ký vào đơn xin ly hôn nhưng anh không chịu. Chị đơn phương nộp đơn ra TAND quận xin ly hôn. Tuy nhiên, tòa nhận định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị không trầm trọng, không cần thiết phải ly hôn nên bác đơn chị. Từ ngày tòa bác đơn, chồng chị không hề bày tỏ ý chí sẽ cải thiện tình hình để hàn gắn hôn nhân, vẫn thường thượng cẳng tay hạ cẳng chân với chị. Chị sống trong chuỗi ngày lo âu, không dám bỏ đi vì xót con thơ vừa hơn hai tuổi, còn tiếp tục nộp đơn ly hôn thì e tòa lại bác…

(more…)

CÁC QUI ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CẤM NHẬP KHẨU, CẤM LƯU THÔNG CÁC HÀNG HÓA ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG

1. Các Điều ước quốc tế về môi trường về cấm nhập khẩu và lưu thông hàng hoá.

Cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 140 Hiệp định quốc tế về môi trường và các công cụ quốc tế về lĩnh vực môi trường, trong số đó có khoảng 20 Hiệp định có các quy định liên quan đến thương mại quốc tế. Các biện pháp môi trường trong các hiệp định môi trường quốc tế được áp dụng đối với việc vận chuyển buôn bán, trao đổi, khai thác các sản phẩm có ảnh hưởng đến môi trường như chất thải độc hại, động vật hoang dã, các nguồn gen thực động vật, các chất phá huỷ tầng ô zôn…

Những Hiệp định môi trường quốc tế có thể được phân thành 3 nhóm chính:

- Các Hiệp định kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi toàn cầu, ví dụ như Công ước Viên bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ôzôn thực hiện Công ước trên và Hiệp định về thay đổi môi trường.

- Các Hiệp định bảo vệ các chủng loại bị đe doạ, các loài chim di trú, và các loại cá và động vật biển. Ví dụ như Hiệp định về thương mại quốc tế đối với những loài có nguy cơ bị diệt chủng (CITES) và Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi. Trong số các điều khoản của các Hiệp định này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loại động vật hoang dã và cá.

- Các Hiệp định về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm và các chất nguy hiểm. Ví dụ là Hiệp định Basel về Quản lý di chuyển và thải các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới, Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế.

Một số Công ước cụ thể:

- Công ước quốc tế về buôn bán các loại động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES);

- Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm;

- Công ước đa dạng hoá sinh học (CBD);

- Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn;

- Công ước An toàn sinh học;

- Công ước Quốc tế về Bảo vệ thực vật;

(more…)

CÔNG VĂN SỐ 1791/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 7 THÁNG 6 NĂM 2010 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ RÀ SOÁT, ĐIỀU CHỈNH PHÂN VÙNG ĐỊA BÀN ÁP DỤNG TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Kính gửi:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Thực hiện lộ trình thống nhất mức lương tối thiểu trong các loại hình doanh nghiệp theo Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2008 – 2012, Chính phủ đã quy định mức lương tối thiểu áp dụng đối với người lao động làm việc trong các loại hình doanh nghiệp theo 4 vùng. Việc phân chia mức lương tối thiểu theo vùng dựa trên các nhóm yếu tố phân biệt mức độ phát triển của các vùng về kinh tế, xã hội, thị trường lao động và khuyến khích ưu đãi đầu tư theo đề nghị của các địa phương. Hàng năm căn cứ vào sự thay đổi về kinh tế, xã hội và thị trường lao động của từng địa phương việc phân địa bàn áp dụng tiền lương tối thiểu vùng được điều chỉnh lại cho phù hợp. Để có căn cứ trình Chính phủ xem xét, quyết định việc phân vùng áp dụng tiền lương tối thiểu đối với các loại hình doanh nghiệp năm 2011, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện một số công việc như sau:

1. Rà soát, đánh giá việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng thuộc địa bàn quản lý: Căn cứ vào phân vùng áp dụng tiền lương tối thiểu hiện tại của địa phương theo quy định tại Nghị định số 97/2009/NĐ-CP, 98/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ và điều kiện về kinh tế, xã hội, mức độ phát triển thị trường lao động, tiền công trên thị trường có tính đến yếu tố đầu tư để rà soát, đánh giá việc áp dụng tiền lương tối thiểu vùng thuộc địa bàn quản lý của tỉnh, thành phố.

2. Trên cơ sở rà soát lại địa bàn áp dụng tiền lương tối thiểu vùng trong phạm vi quản lý của tỉnh, thành phố đề nghị điều chỉnh địa bàn áp dụng tiền lương tối thiểu phù hợp với thực tế của địa phương trên cơ sở:

(more…)

TRANH CHẤP SỞ HỮU GIA SÚC: GIÀNH NHAU CON TRÂU ĐỰC

ĐẮC LAM

Cùng thả rông con trâu trong rừng sâu, rồi một ngày hai bên bỗng kéo nhau ra tòa giành trâu.

TAND tỉnh Hà Tĩnh mới đây đã phải tạm dừng phiên xử để tòa “xem lại” con trâu rồi mới ra phán quyết cuối cùng. Trước đó, hai bên nguyên, bị đơn (cùng ở xã Hòa Hải, huyện Hương Khê) vẫn nhất mực bảo con trâu đực màu đen là của mình.

Ai cũng nói trâu của mình

Nguyên đơn kể vợ chồng ông có một đàn trâu gồm chín “anh chị em” thả rông trong rừng. Trong đàn trâu có con thứ chín sinh khoảng tháng 10-2005. Đầu, cổ, đuôi, mông trâu… thế nào thì ông không nhớ cụ thể vì ít có thời gian gần gũi. Ông chỉ nhớ được nó là trâu đực, xâu trẹo màu xanh bằng dây cước, lông màu đen. Con trâu này bị lạc khoảng đầu tháng 10-2009. Ông đã nhờ người tìm kiếm, sau đó thấy nó đang ăn cỏ trên một cánh đồng cùng với đàn trâu của vợ chồng bị đơn.

Tìm ra trâu, ông rất mừng, vội đến gặp phía bị đơn xin lại chú trâu lạc. Thế nhưng phía bị đơn lắc đầu không cho nhận lại trâu vì đó là trâu của họ chứ không phải trâu “nhặt được”.

Vợ chồng bị đơn trình bày nhà họ cũng có một đàn trâu gồm chín con, đều do một trâu mẹ sinh ra. Cả đàn cũng được thả rông trong rừng, thi thoảng gia đình mới vào thăm. Vào vụ làm đồng, vợ chồng ông mới lùa cả đàn về để cày bừa, chăm sóc.

Trong đó, con trâu đực đang bị nguyên đơn tranh chấp sinh vào khoảng tháng 7-2005. Lông màu đen, sừng dài khoảng 40 cm, có một xoáy mặt bên phải, hai xoáy trước hình xoáy chân tít, đuôi ngắn. Dưới cổ nó có hai khoang trắng, đã thay hai răng hến màu đen… Ngoài ra, gia đình ông làm dấu hình tròn trên đỉnh đầu trâu để khỏi lạc. Khi còn nhỏ, ở rông trong rừng, chú trâu này đã mắc bẫy dây thắng xe đạp ở chân phải phía sau nên để lại thẹo, bới lông lên là thấy.

(more…)

ĐA DẠNG HÓA ĐẦU TƯ CỦA TẬP ĐOÀN VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: NGUY CƠ LÃNG PHÍ NGUỒN LỰC QUỐC GIA

NGUYỄN MINH PHONG

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh truyền thống còn đầu tư tới 3.590 tỷ đồng sang các lĩnh vực khác như bất động sản, tài chính-ngân hàng…

Trong nền kinh tế hiện đại, đa dạng hóa đầu tư trở thành yêu cầu và xu hướng phát triển ngày càng đậm nét của các doanh nghiệp (DN) và tập đoàn kinh tế (TĐ) trên thế giới. Tuy nhiên, xu hướng này cũng có thể dẫn đến sự suy yếu hay sụp đổ của nhiều DN và TĐ, đặc biệt khi các hoạt động đầu tư này được tiến hành bằng vốn đi vay, trong khi thiếu cơ chế quy trách nhiệm và kiểm soát đầu tư hiệu quả …

Đầu tư ra ngoài lĩnh vực truyền thống

Thực tiễn cho thấy, việc hoạt động đa ngành nghề, lĩnh vực cũng có tính hai mặt của nó: Một mặt, nếu DN đi đúng hướng và đầu tư có hiệu quả thì điều này sẽ giúp nâng cao vị thế của DN và đạt được những mục tiêu mới; mặt khác, nếu “chệch hướng” hoặc đầu tư có tính đầu cơ, chụp giựt, khai thác các cơ hội độc quyền ngắn hạn, không hiệu quả, thì hoạt động này có thể làm suy sụp hình ảnh, thậm chí đánh mất thương hiệu, gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho DN nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Khi đa dạng hóa đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực mới mẻ, ít nhiều bản thân DN đánh mất đi lợi thế cạnh tranh vốn có của mình. DN rất dễ mắc sai lầm, thậm chí phải trả giá đắt do sự phân tán các nguồn lực, thiếu kỹ năng thẩm định công nghệ, thiếu các thông tin cập nhật, thiếu kinh nghiệm quản lý và phản ứng thị trường. Việc kiểm soát vốn vào hoạt động đa lĩnh vực là rất phức tạp, nếu làm không tốt thì sự thất thoát, lãng phí và khả năng đổ vỡ tài chính hoàn toàn có thể xảy ra. Đặc biệt, với khả năng tài chính có hạn của mình, việc đầu tư vốn dàn trải sẽ buộc DN phải tìm đến các nguồn vốn mới, với những điều khoản thương mại ngặt nghèo. Điều này rất dễ đưa họ sa vào chiếc bẫy nợ nần…

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: