THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ VIỆT NAM THỜI HẬU KHỦNG HOẢNG

DƯƠNG THỊ NGÂN – Investconsult

Tới cuối năm 2008 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra đã tạo ra những hệ lụy sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực … Tác động của khủng hoảng kinh tế lên thị trường dịch vụ pháp lý của Việt Nam như thế nào, cơ hội ra sao trong thời kỳ hậu khủng hoảng là một vấn đề được nhiều nhà tư vấn pháp lý quan tâm.

Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 bắt đầu từ lĩnh vực tài chính khi một số ngân hàng của nền kinh tế lớn nhất thế giới – Hoa Kỳ tuyên bố không còn khả năng thanh toán và phải cần đến sự hỗ trợ từ phía ngân sách nhà nước và quỹ dự trữ quốc gia. Nói đến khủng hoảng kinh tế người ta thường nghĩ ngay tới sự mất cân bằng trong nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát cao, hay sự đóng băng trong nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Nhưng thực tế tác động của cuộc khủng hoảng này như thế nào lên ngành nghề tư vấn pháp lý không thể chỉ xem xét trong xu hướng chung. Để có được những nhận định sát với thực tế đang diễn ra, chúng ta cần xem xét thực trạng, tiềm năng của đội ngũ chuyên gia ( tổ chức và cá nhân) trong lĩnh vực tư vấn pháp lý
Tính đến thời điểm hiện nay, trong cả nước đã thành lập 62 Đoàn luật sư, với hơn 5.300 luật sư có thẻ hành nghề chính thức, hơn 2000 luật sư tập sự hoạt động trong gần 1.500 tổ chức hành nghề luật sư.
Theo số liệu thống kê trong 4 năm (2005-2008), các luật sư đã tham gia tố tụng 30.000 vụ việc về dân sự, gần 2.000 vụ việc về kinh tế, 800 vụ việc về lao động, 1.000 vụ việc về hành chính; gần 90.000 vụ việc về tư vấn pháp luật; 25.000 vụ việc về dịch vụ pháp lý khác. Năm 2008, 46,3% doanh nghiệp được hỏi có bộ phận phụ trách về pháp lý, trong đó chủ yếu là các tập đoàn kinh tế lớn; khoảng 47,27% doanh nghiệp từng thuê luật sư. Dự kiến đến năm 2010, nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư của các doanh nghiệp sẽ tăng lên 67,5% (tăng 1,43 lần so với năm 2008), năm 2015, tỷ lệ này là 85% và năm 2020 là 94%. Những nỗ lực cho sự phát triển và sự khẳng định vị thế của các nhà tư vấn pháp lý Việt Nam đã phần nào có kết quả khi Luật Luật sư 2006 ra đời tạo ra một khung pháp lý khá đầy đủ, thông thoáng, tạo sự an tâm về môi trường đầu tư cho các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nước ngoài khi bước chân vào thị trường Việt Nam. Người ta dự báo trong tương lai xu hướng sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý có sự gia tăng đáng kể.

(more…)

THẾ CHẤP NHÀ Ở TƯƠNG LAI – MẬP MỜ GIỮA SAI VÀ ĐÚNG!

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Giao dịch bảo đảm làm cho kẻ muốn vi phạm cam kết phải nhụt chí, chùn tay, còn người bị vi phạm khỏi lo thất thoát, thua thiệt. Giao dịch này để bảo đảm cho những nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai, là loại giao dịch “xây” trước để “dùng” sau, chứ không bao giờ là ngược lại.

Có 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm, bao gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp. Trong biện pháp thế chấp, có giao dịch thế chấp tài sản hình thành trong tương lai. Đối với biện pháp bảo đảm này, trước hết là sự tiềm ẩn lớn về rủi ro tài chính. Nếu nghĩa vụ thanh toán phát sinh ngay sau khi ký hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, thì sẽ chẳng lấy đâu ra tài sản để xử lý, phát mại nhằm hoàn thành nghĩa vụ dân sự. Giao dịch bảo đảm này chỉ thực sự có ý nghĩa sau khi tài sản đã hình thành xong, thậm chí còn phải có đầy đủ giấy tờ công nhận quyền sở hữu.

Tuy nhiên, sự bất cập từ những quy định của pháp luật về chấp nhà ở hình thành trong tương lai mới là điều thật sự lo ngại. Do các biện pháp bảo đảm là những quan hệ dân sự, nên nhìn chung, ý chí của các bên quyết định hiệu lực của giao dịch bảo đảm. Riêng với biện pháp thế chấp bất động sản, trong đó có thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, thì thủ tục pháp lý lại đóng vai trò “sống còn” đối với hiệu lực của giao dịch bảo đảm. Dù là giao dịch hợp pháp, do các bên hoàn toàn tự nguyện thực hiện, nhưng chỉ cần mắc mứu một chút về thủ tục pháp lý, thì rất có thể bị vô hiệu và đưa đến những hậu quả nghiêm trọng. Vụ việc thế chấp 47 căn biệt thự hình thành trong tương lai thuộc Dự án khu biệt thự kinh doanh tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội là một tình huống điển hình.

“khi áp dụng những quy định rất rõ ràng của Bộ luật Dân sự vào việc thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai, thì dường như lại là một “nhiệm vụ bất khả thi.”

(more…)

RÀNG BUỘC LỆCH CHUẨN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Cả hai bên đi thuê và làm thuê đều hy vọng Bộ luật Lao động sửa đổi sẽ có được những thay đổi dứt khoát, mạnh mẽ. Tuy nhiên Dự thảo Bộ luật Lao động chuẩn bị trình Quốc hội thông qua vẫn giữ lại nhiều quy định vướng mắc, bất cập, thậm chí còn thụt lùi so với Bộ luật Lao động hiện hành.

Những ràng buộc vô lý

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận tự nguyện của hai bên, thể hiện kết quả thuận mua, vừa bán hàng hóa sức lao động. Tuy nhiên, Dự thảo lại đưa ra quy định mới là, người sử dụng lao động không được yêu cầu thử việc đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ (Điều 34). Như vậy, khác nào bắt người thuê lao động làm việc vài tháng cứ phải nhắm mắt nhận bừa bất kể ai?

Dự thảo quy định, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc (Điều 38). Quy định mốc 3 ngày này là vô nghĩa, vì chẳng ràng buộc được điều gì. Trong trường hợp này, bên đề nghị có quyền đưa ra lúc nào cũng được, còn nghĩa vụ về thời gian phải là của bên tiếp nhận. Do vậy, cần phải quy định ngược lại là, bên nhận được yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng phải trả lời bên kia trong thời hạn 3 ngày.

Theo Bộ luật hiện hành, thì người lao động làm việc theo loại hợp đồng không xác định thời hạn có thể chấm dứt hợp đồng không cần lý do, miễn là báo trước 45 ngày. Còn theo Dự thảo này thì trong mọi trường hợp, người lao động chỉ được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong 7 trường hợp, khi có những lý do thật là chính đáng như “bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động” hay “bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thế tiếp tục thực hiện hợp đồng” (Điều 44) và kèm theo điều kiện phải báo trước một số ngày nhất định (Điều 45). Như vậy, thì đồng nghĩa với việc người lao động làm việc theo bất kỳ loại hợp đồng nào cũng đều bị “trói” chặt, không được quyền rời bỏ nơi này để đến nơi khác dù tốt hơn về nghề nghiệp, thu nhập, điều kiện làm việc,… Ngược lại, thì phía người sử dụng lao động cũng vẫn tiếp tục bị trói chân, trói tay trong việc luân chuyển, thay thế, đào thải lao động như những quy định chặt chẽ lâu nay. Những quy định này là trái ngược với đòi hỏi tự do cạnh tranh lao động trong nền kinh tế thị trường. Một mặt, nó làm cho người lao động bị hạn chế quyền đổi mới chỗ làm, mặt khác làm cho chính các doanh nghiệp cũng sẽ mất cơ hội tuyền dụng, sàng lọc được lao động phù hợp. Nguy cơ hiện hữu là đại đa số các trường hợp đổi việc đều bị rơi vào tình trạng trái pháp luật và phải bồi thường. Nếu cứ giữ nguyên quy định này, thì không có gì khó hiểu khi pháp luật lao động vẫn sẽ là lĩnh vực bị vi phạm nhiều nhất trong tương lai.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 521 other followers

%d bloggers like this: