CÁC YẾU TỐ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Dẫn nhập

Do yêu cầu công tác, tác giả cùng với các học viên sau đại học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu nhiều bản hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN) đã và đang được thực hiện, điều đáng nói là trong số đó có khá nhiều hợp đồng CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam mang lại hiệu quả kinh tế không cao đối với bên nhận chuyển giao – là các doanh nghiệp Việt Nam, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, nhưng một trong những nguyên nhân đó là các bên tham gia hợp đồng CGCN không tính đến hoặc không thể lường trước được hợp đồng CGCN đã bị các yếu tố của quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) tác động như thế nào.

Đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến các yếu tố của quyền SHCN trong lĩnh vực CGCN, ví dụ cuốn Cẩm nang chuyển giao công nghệ của Bộ KH&CN phối hợp với Trung tâm CGCN Châu Á – Thái Bình Dương do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành năm 2005, cuốn Các phương pháp thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ của Đoàn Văn Trường do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật phát hành năm 2007, cuốn Valuation and Princing of Technology – Based Intellectual Property của Richard Razgaitis do John Wiley & Sons, Inc. xuất bản năm 2003 (cuốn này chưa được dịch sang tiếng Việt)… Để đảm bảo tính mới của nghiên cứu, trong bài viết này chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề mà các tác giả trên chưa đề cập.

Giới hạn của thuật ngữ CGCN trong bài viết này không bao hàm chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ, mà chỉ đề cập đến chuyển giao quyền sử dụng công nghệ. Mặt khác, bài viết này chỉ giới hạn xem xét công nghệ được chuyển giao có gắn với yếu tố SHCN, bao gồm công nghệ được bảo hộ dưới dạng cấp Bằng độc quyền sáng chế và công nghệ được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh, trong đó chỉ đề cập đến “phần mềm” của công nghệ phần vô hình mà không đề cập đến “phần cứng” trang thiết bị đi kèm công nghệ như là phần hữu hình của công nghệ.

Để tiện theo dõi, chúng tôi xin quy ước: bên CGCN là A; bên nhận CGCN từ A là B, B1, B2… bên nhận CGCN từ B là C, C1, C2… (trong trường hợp này bên CGCN lại là B). Thuật ngữ “License” dùng để chỉ hợp đồng CGCN.

(more…)

BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRƯỚC VIỆC TĂNG GIÁ NHƯ THẾ NÀO?

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Khác với Việt nam, Luật Cạnh tranh (gồm Luật chống độc quyền và Luật chống cạnh tranh không lành mạnh) ở các nước phát triển luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh, điều tiết kinh tế và gần đây cũng trở thành công cụ sắc bén bảo vệ trực tiếp người tiêu dùng trong tư cách là một thành phần tham gia hoạt động cạnh tranh trên thị trường.

Vì vậy, phán quyết vào ngày 10/12/2008 (KVR 2/08) của Tòa án Tối cao CHLB Đức (BGH) về việc công ty khí đốt của thành phố Uelzen tăng giá bán khí đốt đã ngay lập tức được chính phủ của hàng loạt nước thành viên Liên minh Châu Âu (EU) đặc biệt chú ý. Phán quyết đưa ra những nhận định làm cơ sở cho việc xác định: a) thẩm quyền và trách nhiệm can thiệp của Nhà nước vào việc tăng giá bán lẻ; b) quyền tự chủ về giá cả của doanh nghiệp Nhà nước; c) vị trí thống lĩnh thị trường của một doanh nghiệp dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng và d) khi nào quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng bị vi phạm hay nói một cách khác, khi nào môi trường tự do cạnh tranh bị làm sai lệch?

Công ty cung cấp khí đốt của thành phố Uelzen (công ty U) là một công ty Nhà nước (Ở Đức và tất cả các nước Tây Âu, tuyệt đại đa số các công ty hoạt động trong lĩnh vực cung cấp điện, nước, khí đốt, sửa ấm, bưu điện, giao thông công cộng, là những công ty Nhà nước). Do giá nhập khẩu khí đốt tăng mạnh, công ty U đã nhiều lần tăng giá bán lẻ trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2005 đến tháng 03 năm 2006. Theo đơn khiếu nại của một người tiêu dùng mua khí đốt để sưởi ấm, cục chống độc quyền (CĐQ) tiểu bang đã tiến hành điều tra và đi đến kết luận công ty U thật sự đã lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để tăng giá một cách quá đáng. Nên đã ra quyết định buộc công ty U trả lại cho mọi người đã mua khí đốt khoản tiền tăng giá quá đáng là từ 0,3 đến 0,5 xu (cent) cho một mét khối.

Công ty U khởi kiện yêu cầu Tòa án tiểu bang hủy quyết định của cục CĐQ. Theo công ty U, một mặt quyền tự do quyết định giá cả của doanh nghiệp là bất khả xâm phạm đã được chính BGH xác nhận bằng phán quyết số VIII ZR 138/07; mặt khác nếu người tiêu dùng không muốn mua khí đốt vì giá cao, họ vẫn có thể lựa chọn chuyển sang sử dụng các nguồn năng lượng khác như điện, dầu diesel, điện mặt trời hay sưởi ấm bằng nước nóng. Cạnh tranh ở đây cần được hiểu là cạnh tranh trong thị trường cung cấp năng lượng chung gồm điện, dầu, khí, năng lượng tái sinh…Như vậy người tiêu dùng vẫn có quyền tự do lựa chọn, họ hoàn toàn không bị ép buộc phải chấp nhận giá của công ty U. Tòa án tiểu bang đồng ý với lập luận của công ty U, đồng thời nhận định công ty U-dù là doanh nghiệp Nhà nước và có thị phần hơn 33% – vẫn không có vị trí thống lĩnh thị trường vì người tiêu dùng có thể lựa chọn sử dụng các dạng năng lượng khác. Môi trường cạnh tranh vẫn không bị làm sai lệch. Do không có vị trí thống lĩnh thị trường nên-trên nguyên tắc- việc tăng giá của công ty U không phải chịu sự kiểm soát của cục CĐQ. Vì thế, Tòa án đã hủy quyết định của cục CĐQ.

(more…)

VỀ CÁCH TÍNH LÃI SUẤT TRONG CÁC HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Tác giả viết bài này vào thời điểm BLDS năm 1995 còn hiệu lực. Một số thông tin không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Song có nhiều thông tin còn hữu ích cho việc nghiên cứu chế định Hợp đồng vay tài sản trong BLDS năm 2005 và trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLDS này.

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Các Toà án thường phải giải quyết rất nhiều vụ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản mà trong đó, lãi suất là một trong những vấn đề vướng mắc hay xảy ra. Tuy đã có một số văn bản hướng dẫn, giải thích của các cơ quan pháp luật, nhưng vẫn chưa giải đáp được rõ ràng và chính xác một số quy định về lãi suất. Nguyên nhân là do các quy định liên quan đến lãi suất còn quá phức tạp, không đồng bộ, thiếu cụ thể và thường xuyên thay đổi. Bài viết này xin nêu ra một số vấn đề về mức lãi suất tương ứng, về lãi suất cho vay trong hạn và về lãi suất cho vay quá hạn trong các hợp đồng vay tài sản.

1- Về mức lãi suất tương ứng trong hợp đồng vay tài sản

Điểm thứ 19, phần III, Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 của TANDTC đã giải thích về mức lãi suất tương ứng trong hợp đồng vay tài sản như sau: Tuy hướng dẫn tại điểm a và b, khoản 4, mục I, Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản” không nêu cụ thể, nhưng trong ví dụ theo điểm này đã hướng dẫn cách tính cụ thể là: Khi tính lãi phải áp dụng mức lãi suất tương ứng (mức lãi suất cho vay cùng loại) của Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng (thời điểm vay), được ghi trên hợp đồng tín dụng hay khế ước vay tiền.

Tuy nhiên, trong ví dụ đó đưa ra một trường hợp cho vay, mà thời điểm xác định việc trả nợ tính từ ngày vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 8 tháng nhưng lại áp dụng “mức lãi phải trả là mức lãi suất nợ quá hạn của loại vay trung hạn vì thời gian phải trả lãi quá 6 tháng”. Thực ra, trong trường hợp trên, thời hạn cho vay chưa quá 12 tháng, thì phải áp dụng “mức lãi suất tương ứng” là lãi suất ngắn hạn mới đúng. Như vậy, khái niệm “mức lãi suất tương ứng” hay mức lãi suất cho vay cùng loại được hướng dẫn trong Thông tư liên tịch 01/TTLT nói trên vừa không cụ thể, vừa không chính xác. Cho đến Công văn giải đáp số 16/1999/KHXX nói trên cũng vẫn chưa thực sự làm rõ được “mức lãi suất tương ứng của Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xác lập hợp đồng (thời điểm vay)” là mức lãi suất nào. Cụ thể, nếu trong một vụ tranh chấp mà thời hạn tính lãi là 8 tháng, thì áp dụng mức lãi suất tương đương của loại cho vay ngắn hạn hay trung-dài hạn?

(more…)

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: KHÓ ĐẢM BẢO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA NGƯỜI THẮNG KIỆN

PHẠM DÂN

Những năm gần đây, tình trạng tranh chấp đất trong nội bộ nhân dân gia tăng. Ở một địa phương, theo thống kê chưa đầy đủ, trong tổng số vụ hòa giải không thành, các bên đương sự phải khởi kiện ra tòa án vì tranh chấp đất đai chiếm hơn 50% tổng số vụ tranh chấp dân sự. Điều đáng quan tâm là những vụ tranh chấp này thường diễn ra khá gay gắt từ phiên sơ thẩm, kháng cáo rồi đến phúc thẩm; án đã có hiệu lực pháp luật nhưng người bị tòa án bác yêu cầu vẫn không chịu thi hành, tiếp tục gửi đơn đề nghị xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm; hoặc quay trở lại khởi kiện theo thủ tục hành chính, làm cho tình hình trở nên phức tạp.

Khi giải quyết tranh chấp, tòa án chấp nhận yêu cầu đồng nghĩa với việc ghi nhận tính pháp lý về quyền sử dụng đất cho người thắng kiện và ngược lại. Thế nhưng, khi đất đã được giao, người thắng kiện không dễ gì thực hiện được các quyền của người sử dụng đất. Cụ thể là, khi tiến hành sửa chữa nhà cửa hoặc xây dựng công trình cơ bản thường gặp phải sự chống đối quyết liệt của người vừa thua kiện. Mặc dù vụ việc đã được tòa án xét xử bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, nhưng khi bên thua kiện có hành vi cản trở thì người thắng kiện phải khởi kiện một vụ án dân sự khác, với nội dung “yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”. Tất nhiên, việc điều tra, xét xử vụ kiện này cũng dựa trên kết quả bản án, quyết định mà Tòa án đã xét xử trước đó, buộc đối tượng phải chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất. Những bản án này thường mang hình thức: điều tra, xét xử để đưa ra một bản án, nhưng thực chất chỉ để khẳng định lại một lần nữa tính hợp pháp của người có quyền sử dụng thửa đất đó. Bản án xét xử tranh chấp quyền sử dụng đất bác yêu cầu của bên nào thì bản án sau cũng sẽ buộc bên đó “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”.

Tổ chức thi hành, cưỡng chế buộc “chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất” thực chất là áp dụng điều 119 luật Thi hành án dân sự về “cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định”. Tuy nhiên, gặp phải các trường hợp này, cơ quan thi hành án rất lúng túng, không biết tổ chức thi hành theo phương thức nào. Bản án tuyên “buộc chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất”, nhưng khi nào buộc và buộc một người khi nào phải chấm dứthành vi cản trở? Những thuật ngữ pháp lý này khó xác định nội hàm, do đó đã làm nảy sinh một số vướng mắc, dễ bị lạm dụng hoặc thực hiện một cách tùy tiện.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 521 other followers

%d bloggers like this: