ÔNG CHỦ VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN CỦA DOANH NGHIỆP

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (DN) được ví như “cây nêu” của DN để bàn dân thiên hạ trông vào. Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của DN được pháp luật quan tâm tương đối kỹ càng, cụ thể.

Ai là người đại diện theo pháp luật của DN?

Người đại diện theo pháp luật của DN là người bị pháp luật “túm tóc”, giao phó những trách nhiệm cá nhân từ loại nhỏ nhất cho đến loại lớn nhất của DN.

Theo quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự (năm 2005), thì người đại diện của DN là người đứng đầu pháp nhân (tức là “thủ trưởng” của DN). Người đại diện theo pháp luật của DN phải được ghi nhận trong Điều lệ, đồng thời phải được ghi nhận trên Giấy chứng nhận ĐKKD của DN. Người đại diện theo pháp luật của DN có thể là Chủ tịch hoặc Giám đốc hay Tổng Giám đốc – Sau đây gọi chung là Giám đốc – (các điều 46, 67, 95 và 116, Luật DN năm 2005), cụ thể với từng loại DN là những người dưới đây:

- Đối với công ty TNHH 1 thành viên, là Chủ tịch HĐTV hay Chủ tịch Công ty hoặc Giám đốc;

- Đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, là Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc. Nếu Chủ tịch HĐTV là người đại diện theo pháp luật, thì các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó (khoản 4, Điều 49, Luật DN). Đối với công ty TNHH chỉ có 2 thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giữ, tạm giam, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật, thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV (khoản 2, Điều 12, Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05-9-2007 của Chính phủ Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN);

- Đối với công ty cổ phần, là Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc. Riêng khoản 3, Điều 9, Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐQT, Ban kiếm soát, Tổng giám đốc ngân hàng TMCP, ban hành kèm theo Quyết định số 1087/2001/QĐ-NHNN ngày 27-8-2001 của Thống đốc NHNN lại chốt cứng khác với luật là: “Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng TMCP và được ghi trong Điều lệ Ngân hàng TMCP”;

(more…)

VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA LUẬT ĐẦU TƯ

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Xét theo cội nguồn thì Luật Đầu tư là con đường được đắp ra để thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1987. Nếu chúng ta coi nó như thế thì Luật Đầu tư đầu tiên đã đặt ra ba loại xe (hợp tác kinh doanh, liên doanh, 100% vốn nước ngoài) để chạy trên con đường đó; rồi làm ba việc:

(i) xem xét mục đích đem tiền vào của nhà đầu tư nước ngoài và tính chất ích quốc lợi dân của việc ấy; (ii) bảo hộ vốn liếng của họ khi bỏ vào Việt Nam và đem về sau này; và (iii) dành cho họ các ưu đãi nhất định. Phương tiện để làm ba việc kia là dự án đầu tư. Chính quyền chấp thuận dự án thì nhà đầu tư sẽ lập ra cỗ xe để đi kiếm tiền. Đó là đầu tư dự án hay là đầu tư trực tiếp.

Nhà đầu tư nước ngoài có xe, thì doanh nhân trong nước cũng phải có. Do vậy, có Luật Công ty năm 1990.

Nhà đầu tư nước ngoài được hưởng ưu đãi, còn doanh nhân trong nước thì không ư? Vậy có Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994. Luật này chỉ làm công việc thứ ba của Luật Đầu tư thôi, nhưng nó cũng phải có phương tiện. Ấy là dự án đầu tư.

Đầu tư dự án buộc doanh nhân phải ngồi trong cỗ xe từ đầu cho đến khi giải thể. Tuy nhiên, có người nhiều tiền lại không muốn chôn chân, mà muốn lên hay xuống tùy tình trạng làm ra tiền của cỗ xe. Đó là đầu tư tài chính (foreign portfolio investment). Ta thuận miệng gọi đó là đầu tư gián tiếp. Bằng cách đầu tư tài chính, nhà đầu tư nước ngoài thoạt đầu mua của các doanh nghiệp trái phiếu chuyển đổi, sau đó mua chứng khoán của các công ty niêm yết và cổ phần của các công ty chưa niêm yết.

Luật Đầu tư được chỉnh sửa hai lần vào năm 1996 và 2000. Trong khi đó Luật Doanh nghiệp được mở rộng với bốn loại xe vào năm 2000 (công ty hợp danh, trách nhiệm hữu hạn một và hai thành viên cùng công ty cổ phần). Cùng với các sự thay đổi này, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Hải quan, Luật Đất đai cũng được sửa đổi nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng và các mức ưu đãi của Luật Đầu tư và Luật Khuyến khích được đưa chung vào. Trong khung cảnh ấy, Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời.

(more…)

NHỮNG KHÁI NIỆM MỜ

TÙNG LAM

Khi ra đời, Luật đầu tư và Luật Doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo ra làn sóng đầu tư nước ngoài mới vào Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật Đầu tư đã không như kỳ vọng và cho thấy nhiều khiếm khuyết cần suy nghĩ.

Luật Đầu tư được xây dựng trên một số khái niệm cơ bản, trong đó, có hai khái niệm quan trọng nhất là nhà đầu tư (NĐT) và dự án đầu tư. Nhưng hai khái niệm này không được luật xác định rõ ràng.

Nhà đầu tư là ai?

Luật Đầu tư định nghĩa NĐT là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nghĩa là gồm cả NĐT trong nước và NĐT nước ngoài. Tuy nhiên, do Luật Đầu tư và văn bản hướng dẫn thi hành cùng một lúc sử dụng tiêu chí kép để xác định NĐT (gồm quốc tịch và nguồn vốn của NĐT), do đó, rất khó để xác định thế nào là NĐT trong nước hoặc NĐT nước ngoài, hoặc Việt kiều là NĐT trong nước hay nước ngoài (1) .

Từ đây, phát sinh hàng loạt hệ lụy pháp lý về tư cách của các doanh nghiệp do NĐT nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. Doanh nghiệp do NĐT nước ngoài đầu tư sẽ được coi là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD) hay giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT)? Khi nào thì bị coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: khi bên nước ngoài chỉ nắm 1% vốn hay phải từ 49% hoặc 51% trở lên? Doanh nghiệp trong nước có phải đổi GCNĐKKD thành GCNĐT khi có vốn nước ngoài hay vẫn tồn tại song song cả hai loại giấy này?…

Thậm chí có sự nhầm lẫn trong tư cách của NĐT trong các biểu mẫu hồ sơ áp dụng cho đầu tư nước ngoài theo Quyết định 1088/2006/QĐ-BKH. Trong các mẫu đơn này, người ký đơn là NĐT. Yêu cầu NĐT ký tên trong các hồ sơ là trái với các quy định trong Luật Doanh nghiệp và nguyên tắc quản lý hành chính.

Theo Luật Doanh nghiệp, người ký đơn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chứ không phải là cổ đông, thành viên của doanh nghiệp (tức là NĐT). Về mặt pháp lý, NĐT và doanh nghiệp là hai thực thể pháp lý khác nhau, NĐT không thể đương nhiên đại diện cho doanh nghiệp trước cơ quan nhà nước Việt Nam.

(more…)

TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: HẾT TÌNH, ĐÒI LẠI TIỀN…

H. ANH

Vụ án hy hữu này vừa được tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đưa ra xét xử vào ngày 6/7. Dù biết rành rành số tiền kia là nguyên đơn hoàn toàn "tự nguyện" cho bị đơn trong thời gian "mặn nồng" nhưng do phía nguyên đơn cung cấp được các giấy tờ chứng minh đã chuyển tiền về cho bị đơn nên tòa án vẫn phải tuyên người này thắng kiện.

Theo đơn khởi kiện của ông Trương K. (52 tuổi, Việt kiều Mỹ), do có mối quan hệ thân tình nên ông đã thỏa thuận miệng cho bà Tr.Th.T. (31 tuổi, ngụ Bình Thuận) mượn tiền không có lãi để mua đất, xây nhà tại thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong (Bình Thuận). Theo đó, từ ngày 12/3/2008 đến 30/3/2009, ông K. đã 15 lần chuyển tiền về cho bà T. qua hệ thống ngân hàng do Công ty Kiều hối Đ.A. chuyển giao với tổng số tiền 30.100 USD.

Sau khi mua đất cất nhà, tháng 12/2008, bà T. đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà và đất mang tên bà T. cho ông K. để làm tin. Bà T. cam kết đến cuối tháng 5/2009 sẽ thanh toán. Tuy nhiên, khi đến hạn, bà T. không trả tiền mà còn không thừa nhận nợ. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu bà T. phải trả số tiền đã mượn cộng thêm lãi suất từ tháng 5/2009.

Tuy nhiên, bà T. lại trình bày: Bà và ông K. có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2006. Tiền ông K. gửi về là do ông này tự nguyện thỏa thuận miệng tặng trên cơ sở tình cảm. Đến tháng 5/2009, do hai bên không còn quan hệ tình cảm nên ông K. kiện đòi tiền. Vì vậy, bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K. Thụ lý vụ án, TAND tỉnh Bình Thuận đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành.

Dù biết lời khai của bà T. là sự thật (quan hệ với ông K. tình cảm, ông K. tự nguyện cho tiền), tuy nhiên do việc giao nhận tiền được thực hiện qua hệ thống dịch vụ ngân hàng (được nơi này ghi lại), thể hiện bà T. 15 lần đến ngân hàng ký nhận tiền từ tài khoản ông K. gửi về với tổng số tiền 30.100 USD, vì vậy xử sơ thẩm, TAND tỉnh Bình Thuận cho rằng, đủ cơ sở để xác định nguyên, bị đơn đã xác lập giao dịch dân sự trên cơ sở thỏa thuận miệng và bị đơn đã nhận số tiền do nguyên đơn chuyển từ nước ngoài về.

(more…)

BÀN VỀ KHÁI NIỆM GIAO DỊCH BẢO ĐẢM THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM – NHÌN TỪ GIÁC ĐỘ ĐỐI TƯỢNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

NGUYỄN QUANG HƯƠNG TRÀ – Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Có thể nói, vấn đề mà người có quyền trong các giao dịch dân sự quan tâm chính là khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của người có nghĩa vụ. Do đó, các quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ra đời trước hết là nhằm hướng đến mục tiêu bảo vệ bên có quyền trong sự ổn định và hài hoà các quan hệ dân sự. Ngoài ra, trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự còn có sự tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới quyết định cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng.

Điều này chứng tỏ, giao dịch bảo đảm ngoài vai trò bảo vệ bên có quyền còn giữ một vai trò quan trọng khác đối với đời sống kinh tế – xã hội của các quốc gia, đó là tăng cường đầu tư trong dân doanh thông qua việc mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng.

Thực tiễn cho thấy, một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng đó chính là thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Bởi lẽ, việc nắm bắt các thông tin này sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình phân tích, đánh giá mức độ rủi ro của các giao dịch bảo đảm mà tổ chức tín dụng dự định thiết lập, làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định tài trợ vốn đúng đắn. Điều này minh chứng rằng, tiếp cận và sử dụng thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản là nhu cầu mang tính tất yếu của các nhà đầu tư trong môi trường kinh doanh của nền tài chính hiện đại. Vấn đề đặt ra ở đây là, cơ chế nào hữu hiệu cho việc công khai và minh bạch hoá thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Trên thế giới hiện nay, có thể khẳng định rằng, cơ chế công khai hoá thông tin về tài sản bảo đảm được xem là phổ biến với tư cách là sản phẩm của nền tài chính hiện đại đó chính là đăng ký giao dịch bảo đảm. Hiển nhiên, việc đăng ký giao dịch bảo đảm (mà nhiều nước gọi là đăng ký các quyền lợi bảo đảm) chỉ thực sự mang lại ý nghĩa và tác dụng tích cực đối với hoạt động cấp tín dụng khi pháp luật thiết lập một khuôn khổ, trật tự hay nói theo một cách khác là cơ chế xác định thứ tự ưu tiên (trong đó bao gồm cả thứ tự ưu tiên thanh toán) khi xử lý tài sản bảo đảm; và một phạm vi thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được công khai hoá, phục vụ trực tiếp cho việc đánh giá mức độ rủi ro của các quyết định tài trợ. Thực tế cho thấy, cả hai vấn đề quan trọng này trong nhiều trường hợp lại phụ thuộc rất nhiều vào cách tiếp cận của pháp luật về giao dịch bảo đảm.

(more…)

NHỮNG BẤT CẬP TRONG THỰC THI LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

DƯƠNG VĂN THỊNH – Viện KSND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Sau 1 năm đi vào cuộc sống Luật thi hành án dân sự năm 2009 (Luật THADS năm 2009) đã góp phần không nhỏ trong công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, từ thực tiễn của công tác này đã nảy sinh những bất cập cần có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Kéo dài thời gian, chậm thi hành vì thiếu hướng dẫn

Điều 38 Luật THADS năm 2009 quy định: các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định rõ trong thời hạn bao nhiêu ngày, kể từ khi ra các quyết định về thi hành án thì cơ quan thi hành án (Cục; Chi cục Thi hành án) phải gửi các quyết định đó cho VKS. Do vậy, có trường hợp sau một thời gian dài kể từ khi ra quyết định (hoặc đến khi giao được quyết định cho đương sự) thì cơ quan thi hành án mới gửi quyết định cho VKS để thụ lý và kiểm sát việc thi hành. Từ đó dẫn tới việc cập nhật của VKS không kịp thời, số liệu thống kê giữa các ngành không được chính xác (ví dụ ra quyết định tháng 10 nhưng đến tháng 12 mới gửi cho VKS do đó VKS phải báo cáo vào số liệu tháng 12 – thuộc năm thống kê khác). Hơn nữa, việc không quy định rõ thời gian gửi các quyết định dẫn đến tình trạng VKS cũng không có căn cứ để kiến nghị hoặc kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án.

Ngoài ra, tại các Điều 30, 31 Luật THADS năm 2009, quy định về việc thi hành án theo đơn của người được thi hành án (hoặc người phải thi hành án) thì phải làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành, đồng thời phải cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án. Tuy nhiên, do hiện nay chưa có mẫu đơn áp dụng thống nhất, nên mỗi nơi có một loại mẫu đơn khác nhau, hoặc người có yêu cầu tự viết tay và nộp cho cơ quan thi hành án. Trong cả 2 trường hợp này, việc hướng dẫn người được thi hành án viết đơn mất rất nhiều thời gian do điền không đúng, không đủ thông tin cần thiết hoặc không đạt yêu cầu về pháp lý. Do đó người được thi hành án phải làm đi làm lại nhiều lần, gây phiền hà, bức xúc dẫn đến khiếu kiện và hậu quả tất yếu là vụ việc chậm được xử lý, tồn đọng.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: