VIỆC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC VÀ NHẬT BẢN

TRẦN THỊ THU THỦY

1. Trung Quốc về Bồi thường thiệt hại

Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung Quốc được quy định trong Luật bồi thường Nhà nước – một chế định pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại. Hiện nay nhà nước Trung Quốc thừa nhận và chịu trách nhiệm bồi thường đối với hành vi vi phạm pháp luật do cơ quan nhà nước và nhân viên cơ quan nhà nước gây ra tổn hại thực tế cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác. Đây là một loại trách nhiệm pháp luật đặc thù được thể  hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, đặc điểm nổi bật của bồi thường nhà nước là nhà nước thừa nhận trách nhiệm pháp luật và chi trả tiền bồi thường. Trong trường hợp nhân viên cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật gây tổn hại cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác thì nhân viên đó không trực tiếp bồi thường cho người bị tổn hại mà nhà nước sẽ đứng ra gánh vác trách nhiệm bồi thường cho người bị hại đó. Đặc điểm này không giống với bồi thường dân sự mà ở đó thực hiện nguyên tắc “người nào vi phạm, người đó phải bồi thường”.

Nhà nước thừa nhận trách nhiệm và cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực thi nghĩa vụ bồi thường. Đặc điểm nổi bật của bồi thường nhà nước là nhà nước thừa nhận trách nhiệm pháp luật và chi trả tiền bồi thường. Trong trường hợp nhân viên cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật gây tổn hại cho công dân, pháp nhân hay tổ chức khác thì nhân viên đó không trực tiếp bồi thường cho người bị hại đó. Đặc điểm này không giống với bồi thường dân sự mà ở đó thực hiện nguyên tắc “người nào vi phạm, người đó phải bồi thường”.

(more…)

QUYỀN MIỄN TRỪ QUỐC GIA TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM

THS. BÀNH QUỐC TUẤN – Khoa Kinh tế , ĐHQG TP. Hồ Chí Minh

Tư pháp quốc tế là một lĩnh vực pháp luật có hệ thống chủ thể riêng của mình bao gồm thể nhân, pháp nhân và quốc gia. Trong đó, quốc gia được xác định là chủ thể đặc biệt của Tư pháp quốc tế. Vấn đề là khi quốc gia tham gia vào các mối quan hệ này, quyền và nghĩa vụ chủ thể của quốc gia hay nói cách khác, quy chế pháp lý của quốc gia được xác định như thế nào. Đối với Việt Nam, khi mà Tư pháp quốc tế chưa phát triển cả về lý luận lẫn thực tiễn, thì việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển cả về lý luận lẫn quy định của pháp luật về quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần đưa Tư pháp quốc tế Việt Nam tiến gần hơn các chuẩn mực pháp lý chung của thế giới.

1. Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư pháp quốc tế

Nhìn chung, Tư pháp quốc tế (TPQT) phần lớn các quốc gia đều thừa nhận tư cách chủ thể đặc biệt của quốc gia khi tham gia vào mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi tham gia vào quan hệ TPQT, quốc gia được hưởng các quyền miễn trừ trong đó quan trọng nhất là quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ đối với tài sản của quốc gia, gọi chung là quyền miễn trừ của quốc gia. Quyền miễn trừ của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận rải rác trong các điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Brussels về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền nhà nước ngày 14/4/1926, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự,… Đặc biệt, các nội dung này được quy định một cách cụ thể và tập trung tại Công ước của Liên hiệp quốc (LHQ) về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia. Các quyền này cũng được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia.

Quyền miễn trừ của quốc gia trong TPQT gồm quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia.

Quyền miễn trừ tư pháp

Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Các tranh chấp liên quan đến quốc gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này. Điều 5 và Điều 6 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo những quy định của Công ước. Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác trong một vụ kiện tại tòa án nước mình.

(more…)

NHỮNG RỦI RO TỪ VIỆC CẦM CỐ THẺ TIẾT KIỆM

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC

Việc cho vay trên cơ sở cầm cố bằng thẻ tiết kiệm không phải bao giờ cũng an toàn 100%. Tuy nhiên, nếu nhận diện sai rủi ro đối với biện pháp bảo đảm tiền vay này, thì sẽ tự chuốc thêm sự rắc rối không cần thiết và đánh mất những cơ hội kinh doanh an toàn, hiệu quả.

Những rủi ro có thể?

Tạp chí Ngân hàng số 21 tháng 11-2008 có đăng bài “Nhận cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm do ngân hàng phát hành phải chăng rất an toàn” của tác giả Đỗ Thế Mãi. Tác giả đã đưa ra hai tình huống rủi ro trong trường hợp ngân hàng cho vay và nhận tài sản bảo đảm là thẻ tiết kiệm do chính ngân hàng mình phát hành, đó là: Rủi ro về thứ tự ưu tiên thanh toán và Rủi ro về hợp đồng thế chấp vô hiệu.

Đối với loại Rủi ro về thứ tự ưu tiên thanh toán, tác giả cho rằng: “Ngân hàng nhận cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm do chính mình phát hành có thể không thu được đồng nào từ việc xử lý sổ tiết kiệm khi phải xử lý sổ tiết kiệm của khách hàng để thu nợ do không đăng ký giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm”.

Đối với loại Rủi ro về hợp đồng thế chấp vô hiệu, tác giả cho rằng: “Do nhận thức việc cầm cố/thế chấp sổ tiết kiệm là không có rủi ro, vì vậy một số ngân hàng ký kết một hợp đồng thế chấp sổ tiết kiệm để đảm bảo chung cho nhiều hợp đồng tín dụng khác nhau đã không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng thế chấp nói trên. Như vậy, đối chiếu với quy định của pháp luật giao dịch bảo đảm hiện hành, hợp đồng thế chấp trên đã bị vô hiệu. Dù hậu quả là như thế nào, ngân hàng có thu được nợ hay không thì việc ký một hợp đồng thế chấp mà hợp đồng đó lại vô hiệu là điều không ai muốn, và tất nhiên, lúc này rủi ro vẫn thuộc về ngân hàng”.

Ý kiến trên đã gây ra sự hoài nghi, lo lắng cho các ngân hàng. Liệu từ trước đến nay, tất cả các ngân hàng đều làm sai pháp luật và các hợp đồng bảo đảm bằng thẻ tiết kiệm sẽ bị vô hiệu?

Những rủi ro không có thật

Theo tôi, hoàn toàn không có hậu quả vô hiệu và rủi ro về bảo đảm tiền vay trong trường hợp nhận bảo đảm bằng thẻ tiết kiệm nói trên.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: