QUẢN LÝ BẰNG PHÁP LUẬT NHƯ THẾ NÀO?

NGUYỄN ĐỨC LAM

Ở đời “lạt mềm buộc chặt”. Tưởng chừng như nghịch lý, nhưng pháp luật- thường được hình dung là nghiêm minh, cứng rắn- cũng không phải là ngoại lệ. Quản lý bằng pháp luật, cũng như quản lý nói chung, không phải là buộc diều vào cây sào tre, mà hãy như trẻ mục đồng, thả diều bay lượn, đón gió trên bầu trời khoáng đạt, rộng lớn… Muốn vậy, cần đưa cuộc sống vào luật và đưa luật vào cuộc sống; pháp luật khơi dòng lợi ích; pháp luật là cuộn dây diều, chứ không phải là cây sào tre; có pháp luật cho dân và pháp luật cho công quyền; cuối cùng, pháp luật phải gây được niềm tin nơi công lý.

Đưa cuộc sống vào luật để quản cuộc sống

Chúng ta hay kêu gọi đưa pháp luật vào cuộc sống, hay than phiền là luật chưa vào được cuộc sống. Nhưng điều không kém phần quan trọng là luật phải bắt nguồn từ cuộc sống, hỏi xem, người dân, xã hội có cần đến luật đó hay không, có nghĩa là đưa cuộc sống vào luật.

Làm luật thì phải nhắm vào các vấn đề xã hội đang phát sinh. Vấn đề nào quan trọng cần được xử lý trước, vấn đề nào ít quan trọng hơn xử lý sau. Không nên làm luật theo ý muốn chủ quan vì các nguồn lực của đất nước có thể bị tiêu tốn vào những việc chưa chắc đã cần thiết nhất. Ngoài ra, các vấn đề đã phát sinh thì sẽ không tự biến mất. Nếu không được xử lý đúng lúc, các chi phí để giải quyết chúng chỉ ngày càng tăng lên gấp bội. Nếu vấn đề phát sinh trong cuộc sống không được nhận thức rõ ràng, và chính sách đề ra để xử lý vấn đề đó cũng không rõ nốt, chúng ta sẽ có những dự thảo văn bản pháp luật nói tới tất cả mọi chuyện trên đời nhưng không giải quyết được chuyện nào cả. Tất cả đều đúng, tất cả đều cần thiết, thế nhưng triển khai những văn bản đó vào cuộc sống thì không thể làm được. Bởi vậy, làm luật không chỉ cần hợp pháp, mà còn cần cả hợp lý nữa, hay nói cách khác, quản lý bằng pháp luật có nghĩa là “quản” cho có “lý”.

(more…)

MỘT SỐ TÌNH HUỐNG VỀ PHÁP LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

FANCY88 – saga (Sưu tầm)

Nội dung sự việc 1:

Tàu được thuê khứ hồi theo mẫu hợp đồng ASBATANK VOY để chở dầu thô đến cảng đến và nhận dầu fuel để vận chuyển về cảng xuất phát. Trong hợp đồng các bên đã thoả thuận là thời gian bắt đầu làm hàng phải được tính ngay sau khi tàu trao TBSS hợp lệ.

Tại cảng đến, sau khi dỡ xong dầu thô, thuyền trưởng đã trao TBSS vào hồi 10h ngày 29/6 nhưng trong thực tế vào thời gian đó tàu vẫn chưa sẵn sàng xếp hàng vì các tăng chứa dầu vẫn còn chưa được tẩy rửa xong hoàn toàn.

8h 30 ngày 5/7 thuyền trưởng điện báo cho đại lý và người nhận hàng (đồng thời cũng là người phải xếp lô hàng mới) với nội dung sau: "Tàu đã thu gom tất cả những hàng còn sót lại trên tàu, sau khi đã làm vệ sinh tẩy rửa các tăng có thể chứa được 300m­­­3. Sẵn sàng giao tại bờ khi tàu vào cầu để bù vào số lượng đã báo thiếu như đã thoả thuận với các ông khi hoàn thành dỡ hàng".

Giữa hai bên xảy ra tranh chấp về việc tính thời gian bắt đầu làm hàng. Chủ tàu cho rằng thời gian làm hàng sẽ được tính từ khi trao TBSS còn người thuê không đồng ý vì khi ddó tàu chưa tẩy rưae xong lô hàng cũ. Tranh chấp được đưa ra trọng tài London.

Phán quyết của trọng tài:

- Tàu được coi là sẵn sàng xếp hàng để có thể trao được TBSS hợp lệ khi các tăng chứa dầu đã được tẩy rửa sạch sẽ, nước và cặn dầu thô đã được thu dọn vào các tăng chứa riêng.

- Thuyền trưởng đã trao TBSS vào ngày 29/6. Tuy nhiên, từ thời gian này trở đi, người xếp hàng cũng như đại lý đều biết rằng tàu đang neo đậu và tẩy rửa các tăng chứa dầu trước khi nhận lô hàng mới xếp xuống tàu theo hợp đồng đã dự kiến. Hơn nữa, vào ngày 5/7, thuyền trưởng lại gửi cho đại lý va người xếp hàng (cũng là người đã nhận lô dầu thô tàu dã chở tới trước đó) bức điện như đã trích dẫn ở trên. Với bức điện này, thuyền trưởng đã tự nhận là tàu chưa được tẩy rửa cho tới ngày 5/7.

(more…)

HƯỚNG TỚI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ: CÓ NÊN XỬ RÚT GỌN ÁN DÂN SỰ?

HOÀNG YẾN

Một khi vụ việc đã rõ như ban ngày, một mình thẩm phán cũng xử lý được, cần gì phải có thêm hai hội thẩm nhân dân cho cồng kềnh?

Thực tế đã xuất hiện ngày càng nhiều tranh chấp dân sự mà chứng cứ rõ ràng, các bên đương sự đều thừa nhận và mong muốn tòa giải quyết nhanh. Nhiều chuyên gia, thẩm phán cho rằng nên lược bỏ bớt thủ tục không cần thiết để đẩy nhanh tiến độ giải quyết án…

Một điều làm ngành tòa đang đau đầu là theo thời gian, lượng án dân sự ngày càng tăng. Đối với các đô thị lớn như TP.HCM, trung bình một thẩm phán một tháng phải giải quyết từ 10 vụ việc trở lên. Trong số đó cũng có không ít trường hợp tranh chấp đơn giản, các bên đều thừa nhận và mong tòa giải quyết nhanh.

Áp dụng với án đơn giản

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, một vụ tranh chấp đơn giản thì thời gian giải quyết ít nhất cũng phải vài tháng với rất nhiều khâu bắt buộc (lấy lời khai, đối chất, hòa giải, xác minh…). Vì vậy, đã có nhiều ý kiến cho rằng để đẩy nhanh tiến độ giải quyết án, pháp luật nên bổ sung thủ tục rút gọn cho tòa.

Theo luật gia Đặng Đình Thịnh, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật Hội Luật gia Việt Nam, việc này vừa giải quyết kịp thời quyền lợi chính đáng của người dân, vừa đỡ tốn thời gian, công sức của tòa và đương sự. Luật gia Thịnh đề xuất nên áp dụng thủ tục rút gọn với những vụ án chứng cứ rõ ràng, các bên nguyên, bị đều thừa nhận, không có yếu tố nước ngoài, không gặp vướng mắc, xung đột về pháp luật.

Một số thẩm phán tòa quận thì đề xuất ngoài tranh chấp có chứng cứ rõ ràng thì còn phải quy định giá trị tranh chấp ở mức nào mới được áp dụng thủ tục rút gọn. Đồng thời luật cũng cần quy định rõ thời gian tiến hành xử rút gọn cho một vụ án tối đa cho phép là bao lâu, có thể từ 20 ngày đến một tháng từ ngày tòa thụ lý…

(more…)

HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

GS.TS. VÕ THANH THU & TS. NGÔ THỊ NGỌC HUYỀN

1. Nhận thức về vai trò của hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp VN

Năm 2009 kỷ niệm 10 năm kể từ khi có cơ chế mang tính pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài, nhưng trước đó đã có hàng chục dự án của các nhà đầu tư VN ở nhiều nước, điều này chứng tỏ sức sống, sức hấp dẫn của hoạt động đầu tư này (chưa cần có thể chế chính thức đã tiến hành). Cho đến nay đã có gần 400 dự án đầu tư vào 44 nước ở khắp 5 châu lục địa bất chấp khủng hoảng kinh tế, hoạt động đầu tư ra nước ngoài vẫn gia tăng. Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ năm 2009 mỗi năm sẽ có 500 triệu USD chuyển ra khỏi VN để thực hiện các dự án ở nước ngoài.

Tuy nhiên sau 20 năm, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của VN còn mang tính tự phát của doanh nghiệp, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng: Số lượng và quy mô các dự án còn nhỏ so với các nước có điều kiện tương tự; nhiều doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn mà không có sự hỗ trợ từ các cấp có thẩm quyền. Ngoài nguyên nhân năng lực tài chính của bản thân doanh nghiệp có hạn, và đây không phải là nguyên nhân chính yếu (vì doanh nghiệp có thể đi vay hoặc lập công ty cổ phần), còn có nhiều nguyên nhân nằm ngoài doanh nghiệp. Nguyên nhân quan trọng nhất tác động toàn diện đến chiến lược, thể chế chính sách, thủ tục hành chính đối với  các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, đó là các cấp quản lý nhà nước có thẩm quyền, xã hội chưa coi trọng vai trò của đầu tư ra nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện trong nước còn thiếu nguồn lực tài chính, phải tăng cường kêu gọi vốn FDI để tham gia  xây dựng đất nước. Ủng hộ nhận định này về vai trò của hoạt động ĐTRNN, một số nhà kinh tế cho rằng các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài trong bối cảnh hiện nay vì chính lợi ích của nhà đầu tư hơn là lợi ích quốc gia cho nên việc xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ các nhà đầu tư VN ở nước ngoài không mang tính cấp thiết và cấp bách.

Theo chúng tôi nhận định về vai trò của hoạt động ĐTRNN như trên là chưa thỏa đáng, khiến cho việc hoàn thiện cơ chế chính sách cho loại hình đầu tư này diễn ra chậm. Theo nghiên cứu của chúng tôi: nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước đang phát triển vẫn khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài vì vai trò tích cực đối với nước xuất khẩu vốn và nhà đầu tư ở nước ngoài, cụ thể:

(more…)

HẬU CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

LG. CAO BÁ KHOÁT

Ngày 01 tháng 7 năm 2010 đã qua và câu chuyện về chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty TNHH một thành viên cũng không còn được bàn tán quá nhiều. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là chúng ta đã thành công, đã làm được những điều tưởng chừng như không thể. Bởi đây mới chỉ là một điểm dừng của con tàu doanh nghiệp Nhà nước trên con đường “hội nhập” vào sân chơi chung cùng các loại hình doanh nghiệp khác.

Liệu đã đúng với cam kết WTO?

Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam thì Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước mà can thiệp bình đẳng giống như các cổ đông, thành viên khác. Vậy, khi các doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên thì có thể coi là thực hiện đúng cam kết hay không? Thật khó có câu trả lời!

Thứ nhất, các công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi chỉ có chủ sở hữu (thành viên) duy nhất là Nhà nước nên câu chuyện bình đẳng giữa các thành viên, cổ đông trong công ty tất nhiên không cần bàn đến.

Thứ hai, về sự can thiệp của Nhà nước. Ta có thể lý luận rằng Nhà nước cũng chỉ đóng vai trò là chủ sở hữu của các công ty sau chuyển đổi, có quyền và nghĩa vụ giống như chủ sở hữu của những công ty TNHH một thành viên khác (theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005) có chăng chỉ khác nhau ở năng lực chịu trách nhiệm giữa tư nhân và Nhà nước. Tư nhân là hữu hạn còn Nhà nước là hữu hạn hay vô hạn xưa nay chưa ai định được vì công ty lỗ thì Nhà nước lại cấp vốn. Cứ thế tạo thành vòng luẩn quẩn và công ty Nhà nước theo đó chẳng thể nào phá sản.

Khung pháp lý nào cho các doanh nghiệp chưa chuyển đổi?

Tuy hiện nay chưa có con số thống kê chính thức còn bao nhiêu doanh nghiệp Nhà nước chưa kịp chuyển đổi sau ngày 1 tháng 7 năm 2010. Nhưng có không ít câu hỏi lớn đã đặt ra. Các doanh nghiệp này sẽ hoạt động theo luật nào? Phải giải thể, phá sản, chuyển đổi hay tiếp tục hoạt động với tư cách cũ?

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

TRẦN ANH ĐÀO

Bàn về ảnh hưởng của cổ phiếu ngân hàng đến sự phát triển của TTCK Việt Nam, tôi có một số ý kiến xung quanh các vấn đề chính sau: 

1. Quy mô ảnh hưởng của cổ phiếu ngân hàng đối với thị trường chứng khoán trong tương lai:

Nền kinh tế Việt Nam còn non trẻ, những doanh nghiệp có những đặc điểm thích hợp cho thị trường chứng khoán như có quy mô lớn, được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, có quá trình kinh doanh lâu dài, có cơ chế quản trị minh bạch … còn rất ít. Nhưng do đặc thù của ngành, các ngân hàng thương mại cổ phần và sắp tới đây là các ngân hàng quốc doanh được cổ phần hoá có đủ những yếu tố đó và là những doanh nghiệp lý tưởng nhất cho thị trường chứng khoán hiện tại cũng như tương lai những năm sắp đến. Theo một ước tính của Công ty Tư vấn Chứng khoán Quốc tế (ISC), vào năm 2010 giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết ước tính từ 60 đến 120 ngàn tỉ đồng, tăng gấp 5-10 lần hiện nay, trong đó 4 ngân hàng quốc doanh cổ phần hoá chiếm khoản 50 ngàn tỉ, các ngân hàng cổ phần chiếm 20 ngàn tỉ. Tức là cổ phiếu ngân hàng sẽ góp phần đến 60% giá trị thị trường chứng khoán. 

2. Việc tăng vốn quá nhanh của các ngân hàng cổ phần hiện nay liệu có hợp lý?

Trong vòng 2 năm trở lại đây, các ngân hàng dồn dập tăng vốn. Điển hình như Sacombank từ tháng 12/2003 đến tháng 3/2006, vốn điều lệ đã tăng 3,7 lần. Việc tăng vốn quá nhanh của các ngân hàng hiện nay là do các yếu tố:

- Thứ nhất là do yêu cầu về vốn điều lệ khi mở thêm chi nhánh và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn do Ngân hàng Nhà nước quy định.

- Thứ hai là các ngân hàng chạy đua mở rộng chi nhánh để đón đầu WTO và cạnh tranh lẫn nhau. 

- Thứ ba là tình hình thị trường chứng khoán thuận lợi khiến cho việc tăng vốn bằng cổ phiếu thưởng và phát hành thêm quyền mua cổ phiếu giá rẻ làm tăng giá trị cho cổ đông.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: