VIỆT NAM TRONG THẾ GIỚI CỦA THẬP KỶ THỨ HAI THẾ KỶ 21

NGUYỄN TRUNG

Kính dâng Tổ quốc nhân dịp 1000 năm Thăng Long

Như tựa của nó, bài viết này chỉ nêu lên những vấn đề chính Việt Nam sẽ phải đối mặt trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI. Với suy nghĩ cho rằng cần làm rõ được những vấn đề đặt ra trước khi suy nghĩ về các giải pháp, bài này không đề cập tới, mà xin dành việc bàn về các giải pháp cho các dịp khác. Với tất cả tinh thần trách nhiệm của mình, người viết bài này đưa ra cách nhìn riêng về một số vấn đề, để ai quan tâm thì tham khảo. Vì hiểu biết và điều kiện làm việc rất giới hạn, những ý kiến trong bài chắc chắn có nhiều thiếu sót, mong được bổ khuyết.

I. Vấn đề đặt ra

Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghi nhận. Cần nhận định dứt khoát như vậy để gỡ bỏ mọi rào cản, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Cần nhận định dứt khoát như vậy trước khi tìm hiểu những vấn đề đặt ra cho Việt Nam phía trước trên con đường phát triển của mình.

Mặt khác, cũng phải tỉnh táo nhìn nhận, so với chính ta trước kia, những thành tựu đạt được trong 25 năm qua là rất to lớn; nhưng nếu so với chặng đường 25 năm đầu tiên trên con đường trở thành NIC (nước mới công nghiệp hóa) của Hàn Quốc, Đài Loan.., nước ta phát triển như thế là chậm, so với những thách thức hiện tại và phía trước nước ta phải đối mặt lại càng chậm. Nên có cái nhìn nhiều chiều như vậy để định liệu công việc của mình, và nhờ đó có thể “đỡ” rơi vào bệnh “mẹ hát con khen hay”!

Việt Nam bước vào thập kỷ 2020 đúng vào lúc kinh tế thế giới – trước hết là những nền kinh tế lớn mà đầu tàu là kinh tế Mỹ – đang tìm cách ra khỏi cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống hiện nay để tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới. Trong khi đó Trung Quốc đang dấn bước vào thập kỷ 2020 với mọi nỗ lực quyết liệt nhất để đi nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường vào giữa thế kỷ này; giới nghiên cứu trên thế giới hầu như có cùng nhận định: Thập kỷ 2010 đánh dấu bước ngoặt mang tính thời đại của Trung Quốc trên đường đi tới siêu cường, thập kỷ 2020 hiện tượng Trung Quốc sẽ còn nóng bỏng hơn nữa trên trường quốc tế.[1]

(more…)

BÀN VỀ ỦY QUYỀN VÀ ỦY QUYỀN LẠI

BÙI NGỌC HỒNG – Luật sư thành viên Công ty Luật Indochine Counsel

Gần đây, trong buổi tọa đàm, góp ý Dự thảo 1.6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS) do Bộ Tư pháp tổ chức, nhiều ý kiến đã yêu cầu sửa đổi lại quy định về ủy quyền và ủy quyền lại đối với pháp nhân. Bài này chia sẻ một số trao đổi từ góc độ thực tiễn vận dụng các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này, gồm việc ủy quyền lại trong nội bộ pháp nhân và ủy quyền lại của pháp nhân cho một pháp nhân khác.

Quy định của pháp luật đối với đại diện và ủy quyền

Về đại diện, BLDS quy định về đại diện dưới nhiều góc độ. Đối với pháp nhân, Điều 91 BLDS quy định đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Pháp nhân là một tổ chức, để ra quyết định, tổ chức đó phải thông qua một người cụ thể được pháp luật quy định có quyền đại diện, hành xử nhân danh cả tổ chức. Khi người đó không trực tiếp thực thi quyền đại diện, mà giao lại quyền đó cho một người khác, ta có đại diện theo ủy quyền của pháp nhân.
Việc ủy quyền lại, theo Điều 143 và Điều 583 BLDS, việc pháp nhân được ủy quyền ủy quyền lại cho người thứ ba là có thể, tuy nhiên phải đáp ứng các điều kiện nhất định.
Thứ nhất, việc ủy quyền lại phải được bên ủy quyền (ban đầu) đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Thứ hai, hình thức hợp đồng ủy quyền lại phù hợp với hình thức của hợp đồng ủy quyền ban đầu.
Thứ ba, phạm vi ủy quyền lại không vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu.Vì bản chất của ủy quyền không làm thay đổi chủ thể trong giao dịch, từ quy định của Điều 586 BLDS có thể hiểu rằng ngay cả khi ủy quyền lại, bên ủy quyền ban đầu vẫn phải chịu trách nhiệm về cam kết do bên được ủy quyền thực hiện trong phạm vi ủy quyền (kể cả việc “thực hiện” thông qua con đường ủy quyền lại).

(more…)

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 144/2010/TTLT-BTC-BTP NGÀY 22 THÁNG 09 NĂM 2010 HƯỚNG DẪN VỀ CHẾ ĐỘ THU, NỘP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Căn cứ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí; Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06/3/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị định 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Thông tư này quy định việc thu, nộp, quản lý sử dụng phí thi hành án dân sự.

2. Người được thi hành án khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định của tòa án thì phải nộp phí thi hành án, kể cả trường hợp người được thi hành án không phải là người đã nộp đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp các bên đương sự tự nguyện thi hành án với nhau mà không yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành thì không phải nộp phí thi hành án.

3. Người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án đối với các khoản tiền, tài sản nhận được thuộc các trường hợp quy định tại Điều 34 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009.

Điều 2. Mức phí thi hành án dân sự

1. Mức thu phí thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ. Trường hợp người được thi hành án không có đơn yêu cầu thi hành án, nhưng được nhận tiền, tài sản thì vẫn chịu phí thi hành án theo mức quy định nhưng tối đa không quá 200 triệu đồng/01 vụ việc.

(more…)

BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỊNH HỘI THẨM NHÂN DÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY[1]

THS. CAO VIỆT THĂNG – Phó trưởng phòng Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật – Viện Nhà nước và Pháp luật

Trong hệ thống pháp luật tố tụng hiện nay ở nước ta, chế định hội thẩm nhân dân là một trong những chế định bắt buộc, có tính quyết định đến các bản án sơ thẩm trong hoạt động tư pháp. Bởi vì, hầu hết bản án sơ thẩm đều yêu cầu phải có sự tham gia của số lượng tối thiểu 2/3 thành viên của Hội đồng xét xử là các hội thẩm nhân dân. Cùng với số lượng đó là tính quyết định của hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử đối với bản án sơ thẩm.

Thực tế hiệu quả hoạt động của các hội thẩm ở nước ta hiện nay là chưa đạt yêu cầu về mặt pháp lý cũng như về mặt xã hội. Điều này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là 2 vấn đề lớn đó là: nhận thức về vai trò của hội thẩm trong Hội đồng xét xử các vụ án sơ thẩm và trách nhiệm của hội thẩm trong các phiên toà sơ thẩm.

1. Nhận thức về vai trò của hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử

1.1. Một số vấn đề lý luận về sự tham gia của hội thẩm nhân dân trong phiên toà xét xử sơ thẩm

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 [2], Bộ luật tố Hình sự [3] và Bộ luật Tố tụng Dân sự[4], việc tham gia của hội thẩm nhân dân là một trong những yêu cầu bắt buộc trong quá trình xét xử sơ thẩm các vụ án. Từ quy định như vậy, có thể thấy vai trò của hội thẩm nhân dân là hết sức quan trọng trong việc xét xử sơ thẩm các vụ án ở nước ta.

Và để đi tìm lời giải cho câu hỏi là: Vì sao phải sử dụng tới 2 hội thẩm nhân dân mà chỉ cần 1 thẩm phán trong phiên toà sơ thẩm(?), tác giả đã tìm hiểu và so sánh chế định này trong hệ thống pháp luật của nhiều nước khác nhau và thấy rằng việc đưa hội thẩm nhân dân (có nơi tổ chức theo mô hình bồi thẩm đoàn) vào Hội đồng xét xử sơ thẩm chính là việc đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử. Họ lập luận rằng, pháp luật chỉ là những khuôn mẫu chung khá cứng nhắc được xây dựng trên sự đồng thuận theo tỷ lệ mà xã hội chấp nhận được chứ đó không phải là đồng thuận tuyệt đối, cho nên pháp luật cũng không phải là một giá trị tuyệt đối đúng để có thể áp dụng chung cho mọi trường hợp. Thứ hai, pháp luật cũng chỉ là một loại quy phạm xã hội có giá trị áp dụng cao nhất chứ không phải là toàn bộ các quy phạm xã hội và có thể thay thế các quy phạm xã hội khác trong đời sống hàng ngày. Do đó, cần có những tiếng nói từ thực tiễn xã hội trong việc đưa ra các phán quyết có tính quyết định đối với một quan hệ xã hội nào đó.

(more…)

DOANH NGHIỆP VÀ SỰ PHÂN BIỆT VAI TRÒ

image TÔ VĂN TRƯỜNG

Mặc dù doanh nghiệp nhà nước luôn được nuông chiều, chăm bẵm, ưu ái nhưng lại chậm lớn, ỷ lại, trong khi doanh nghiệp tư nhân thiệt thòi đủ điều lại biết vượt khó, ngày càng vươn lên, thành đạt.

Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế xã hội bền vững đều phải quan tâm đến cơ cấu kinh tế xã hội, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên, nhân lực. Trong quá trình phát triển, cải cách cơ cấu kinh tế xã hội là nỗ lực của toàn xã hội, trong đó Chính phủ đóng vai trò trung tâm. Trong xã hội, người ta vẫn ví von các doanh nghiệp nhà nước là con đẻ, còn doanh nghiệp tư nhân như con nuôi. Éo le thay, mặc dù con đẻ luôn được nuông chiều, chăm bẵm, ưu ái nhưng lại chậm lớn, ỷ lại, trong khi con nuôi thiệt thòi đủ điều lại biết vượt khó, ngày càng vươn lên, thành đạt.

Về mục tiêu phát triển, thực tế cho thấy do các suy luận chủ quan ban đầu dẫn tới việc cho rằng phải có các doanh nghiệp nhà nước lớn làm nền tảng chủ đạo hay đối trọng, cân bằng với các thế lực kinh tế “ngoại quốc”. Nhà nước, tập trung, ra sức tài trợ vốn, ưu ái sử dụng tài nguyên đất đai, khoáng sản, cơ chế chính sách cho doanh nghiệp nhà nước nhưng tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong các thành phần kinh tế, tạo công ăn việc làm cũng ít nhất. Không ít người có năng lực nhưng làm việc trong môi trường thiếu động lực phát triển đã ảnh hưởng đến tư duy suy nghĩ và tư duy hành động.

Thực tế cho thấy, vai trò làm chủ của Nhà nước tại hầu hết các doanh nghiệp nhà nước chưa được luật hoá, thiếu vắng các cơ chế giám sát, kiểm tra rõ ràng, minh bạch, không theo kịp các diễn biến kinh tế xã hội cho nên nhiều doanh nghiệp gây thất thoát lớn tài sản công. Môi trường nhà nước thực sự là “chùm khế ngọt” là nơi, một số người có thể giàu to, đến người nước ngoài cũng phải ngạc nhiên, lắc đầu “khâm phục”! Các thống kê cho thấy, thậm chí thu nhập bình quân ở khu vực nhà nước vẫn cao hơn khu vực tư nhân trong khi chỉ số ICOR lại cao một cách đáng ngại khoảng 8 – 14 ở khu vực nhà nước so với khoảng 3 – 5 ở khu vực tư nhân. Điều này, cho thấy các ưu ái cho doanh nghiệp nhà nước thực sự không phát huy tác dụng, chỉ cổ vũ chút ít cho đồng lương bình quân mà hiệu quả tổng quan về tiêu chí tạo công ăn, việc làm mới, hiệu quả an sinh xã hội thấp, thu hút rất nhiều nguồn lực quốc gia về đất đai, khoáng sản, con người nhưng lại lập trình sẵn cho quá trình lãng phí, tham nhũng, tư lợi, đã và đang diễn ra với các tài sản công “cha chung không ai khóc”!

(more…)

BẤT NGỜ VỚI VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH

MẠNH QUÂN

Riêng về thuế, theo tính toán của ông Nguyễn Quang A, số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của khối DNNN hiện chỉ chiếm khoảng 7% tổng thu ngân sách, là con số quá thấp so với những đặc quyền của khu vực kinh tế này được hưởng. Hơn nữa, những DNNN hiện có đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn như tập đoàn Dầu khí, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam… thì thực chất, thu nhập của các tập đoàn này chủ yếu dựa trên việc moi tài nguyên của đất nước lên bán. Đó không thể coi như một thành tích của doanh nghiệp. Cũng giống như các khoản thuế VAT mà Sabeco, Habeco thu tiền khi bán bia, thực chất là doanh nghiệp đi thu hộ, nộp vào ngân sách.

Theo bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000), số lượng doanh nghiệp tư nhân đã chiếm tỷ lệ ngang với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế nhiều nhất Việt Nam (V-1000) do công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam thực hiện, được công bố hôm qua (23.9) đã gợi lên rất nhiều suy nghĩ về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới. Bởi vì, bất ngờ trong bảng xếp hạng này là số lượng doanh nghiệp tư nhân đã vươn lên chiếm tỷ lệ (khoảng 33%) ngang bằng với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) về đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp (tính cho ba năm: 2007 – 2009)…

10 doanh nghiệp đứng đầu trong V-1000:

1. Công ty Thông tin di động (MobiFone)
2. Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel)
3. Tổng công ty khí Việt Nam – Công ty TNHH MTV
4. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
5. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam)
6. Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam
7. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)
8. Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)
9. Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam
10. Công ty TNHH liên doanh Phú Mỹ Hưng

(more…)

SỨ MỆNH CỦA MỘT BỘ LUẬT

TƯ GIANG

Khi bộ luật Doanh nghiệp nhà nước chính thức kết thúc sứ mệnh vào ngày 1.7 vừa qua, nó đã không nhận được sự chú ý đầy đủ mà nó xứng đáng có được.

Báo chí và dư luận trong một tháng gần đây xung quanh cột mốc này hướng đến sự chuyển đổi thành công của phần lớn khối doanh nghiệp nhà nước thành mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên để cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, thay vì nhìn nhận lại bộ luật này.

Được ban hành đúng 15 năm trước đây, luật Doanh nghiệp nhà nước đã trở thành khuôn khổ pháp lý then chốt giúp định dạng nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập kỷ trước đây: đó là một mô hình kinh tế mà quốc doanh chiếm vị trí trấn áp.

Các doanh nghiệp của các nhà tư sản dân tộc về cơ bản đã được quốc hữu hoá trong các phong trào công tư hợp doanh ở miền Bắc sau năm 1954 và cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam sau 1975.

Các xí nghiệp quốc doanh được hình thành từ các phong trào đó, hay được Nhà nước lập ra chỉ hoạt động theo các quy định của Chính phủ trong suốt một giai đoạn dài trước năm 1995.

Và khi bộ luật với nhiều ưu đãi và đặc quyền này được ban hành 15 năm trước, nó đã chính thức xác nhận và củng cố vị trí độc tôn của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế, như khu vực này vẫn thể hiện trong suốt nhiều thập kỷ trước.

Tuy nhiên, tác động của bộ luật này đã giảm dần cùng các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiều điều khoản của nó đã trở nên vô giá trị với các doanh nghiệp nhà nước khi một bộ luật khác mang tính lịch sử là luật Doanh nghiệp sửa đổi có hiệu lực thi hành từ giữa năm 2006.

Với việc chuyển đổi thành công của 1.500 doanh nghiệp nhà nước cuối cùng thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên vào đúng ngày 1.7 vừa qua, luật Doanh nghiệp nhà nước đã chấm dứt hiệu lực hoàn toàn.

(more…)

MỘT SỐ YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ VƯỚNG MẮC NỘI TẠI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 DẪN TỚI CẦN THIẾT SỬA ĐỔI CƠ BẢN BỘ LUẬT NÀY

NGUYỄN HỒNG HẢI – Vụ Pháp luật dân sự và kinh tế, Bộ Tư pháp

1. Yêu cầu sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005 xét trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam và yêu cầu hội nhập quốc tế

Trong 5 năm thi hành Bộ luật dân sự năm 2005, Nhà nước Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh chính sách xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khởi xướng từ năm 1986. Sau gần ba thập kỷ chuyển đổi, Việt Nam đã hình thành những điều kiện cần thiết để tiến tới một nền kinh tế thị trường đầy đủ hơn. Việc thừa nhận sở hữu tư nhân và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển; việc cải thiện quyền tự do giao dịch, lao động; tự do tiền tệ; tự do đầu tư; việc giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và được phép chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển đổi, cho hoặc tặng, góp vốn để kinh doanh; việc nỗ lực hình thành đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế (thị trường lao động, thị trường đất đai – bất động sản, thị trường vật tư – hàng hoá, thị trường tài chính – tiền tệ; thị trường khoa học – công nghệ)…, cũng như việc nỗ lực cải cách thể chế kinh tế, làm cho thể chế kinh tế của chúng ta ngày càng phù hợp hơn với thế giới.[1]&[2]

Song song với những nỗ lực trên, Việt Nam cũng không ngừng mở rộng quan hệ ra thế giới và đã đạt được nhiều thành quả trong trong lĩnh vực thương mại quốc tế và các lĩnh vực luật tư khác. Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, tham gia ngày càng sâu rộng vào Diễn đàn APEC, các tổ chức khu vực… tham gia các hiệp định thương mại song phương, đa phương AFTA, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ… với những cam kết quốc tế trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và sở hữu theo cơ chế kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, để xây dựng một nền kinh tế thị trường đầy đủ, Việt Nam còn nhiều việc phải thực hiện, trong đó có yêu cầu bảo đảm các yếu tố cơ bản của thể chế pháp lý cho nền kinh tế thị trường: (1) Hệ thống pháp luật về tài sản, sở hữu, quyền của chủ thể không phải là chủ sở hữu, giao dịch được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể luật tư, Nhà nước không áp đặt quyền lực để can thiệp vào quan hệ giữa các chủ thể, họ có quyền tự quyết; (2) Chủ thể luật tư được tự do thể hiện ý chí trong giao dịch và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi tham gia giao dịch (không phụ thuộc chủ thể là nhà nước, tổ chức, cá nhân); (3) Các cơ chế, phương pháp, thủ tục bảo đảm thực thi quyền của chủ thể luật tư phải dựa trên nguyên tắc tính tuyệt đối của quyền sở hữu, tự do về tư cách chủ thể, tự do thỏa thuận và lý lẽ công bằng; (4) Sự hiện diện và thể hiện vai trò của Nhà nước trong đời sống xã hội dân sự, trong thị trường, mức độ tự do hóa mà Nhà nước cho phép và hiệu quả hoạt động của thị trường; cam kết tôn trọng và bảo đảm của Nhà nước về sở hữu và quyền tự do giao dịch…

(more…)

CÓ NÊN XỬ THEO ÁN LỆ?

VI TRẦN – THANH TÙNG

BÀI 1. ÁN LỆ, NHỮNG ĐIỀU CHƯA BIẾT

Trong dự án Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, mới đây TAND Tối cao đã đề xuất cho phép được xét xử theo án lệ nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tán thành.

Để hiểu thế nào là án lệ và tác động của nó, Pháp Luật TP.HCM xin giới thiệu loạt bài với phân tích của nhiều chuyên gia pháp lý. Theo nhiều chuyên gia luật học, án lệ là đường lối áp dụng luật pháp của các tòa án về một vấn đề pháp lý đã trở thành tiền lệ để các thẩm phán theo đó xét xử trong những trường hợp tương tự về sau.

Án lệ là gì?

Nói nôm na, xử theo án lệ là việc tòa cấp dưới vận dụng các phán quyết có từ trước của tòa cấp trên để đưa ra một phán quyết mới tương tự trong một vụ việc tương tự.

Ở nước ngoài, khái niệm án lệ còn được gọi là tiền lệ pháp. Theo đó, những bản án, quyết định giải quyết vụ việc trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó. Tiền lệ pháp ở nước ngoài còn là quá trình làm luật của tòa trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới khi xét xử.

Án lệ ở Việt Nam

Ở chế độ cũ trước năm 1975, Bộ Tư pháp đã xuất bản án lệ theo định kỳ ba tháng. Ấn phẩm đăng tải những trích dẫn về quan điểm hay định hướng xét xử trong các bản án của Tối cao pháp viện, Tòa hành chính, Tòa thượng thẩm… Những bản án này là căn cứ pháp lý để xét xử cho những tranh chấp tương tự về sau.

Sau giải phóng, giữa năm 2005, TAND Tối cao đã công bố toàn bộ các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao từ năm 2000 đến 2004. 103 quyết định về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động được tập hợp đầy đủ trong một tập hơn 400 trang.

(more…)

CÔNG HỮU ĐẤT ĐAI VÀ NGUY CƠ THAM NHŨNG

GS.TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

Công nhận sở hữu đất đai thuộc nhiều thành phần kinh tế theo quy định của pháp luật là việc cần làm ngay. Đây là việc tạo được động lực cho đầu tư, giảm tham nhũng trong quản lý đất đai, tăng hiệu quả sử dụng đất và tạo điều kiện tốt cho hội nhập kinh tế quốc tế.

Cơ chế tạo tham nhũng

Đất đai là một yếu tố đặc biệt, không do lao động của con người tạo ra, có nguồn cung cố định và không bị hao hụt diện tích trong quá trình sử dụng. Chế độ sở hữu phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo lập được công bằng về quyền hưởng dụng đất đai.

Chế độ công hữu về đất đai ở nước ta hiện nay dưới dạng sở hữu toàn dân đã bị biến đổi ở một số điểm (đã nêu trong phần trước: Công hữu đất đai không hợp với thời quá độ) cho phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều điểm nữa đang tạo nguy cơ lớn về tham nhũng trong quản lý đất đai, đó chính là nguồn gốc làm mất động lực và mất công bằng trong sử dụng đất.

Pháp luật hiện hành có quy định 3 cơ chế để nhà đầu tư có đất: một là nhà đầu tư tự thỏa thuận với người đang sử dụng đất; hai là Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch để chủ động quỹ đất cho nhu cầu phát triển; ba là Nhà nước thu hồi đất theo dự án đầu tư của chủ đầu tư đã được chấp thuận.

Pháp luật hiện hành cũng có 3 cơ chế để Nhà nước cung đất cho các dự án đầu tư: một là đấu giá quyền sử dụng đất; hai là đấu thầu dự án có sử dụng đất; ba là giao đất, cho thuê đất trực tiếp cho nhà đầu tư đã được chỉ định.

Cơ chế thì phong phú như vậy nhưng trên thực tế thì chủ yếu vẫn chỉ áp dụng một cơ chế Nhà nước quyết định thu hồi đất của người đang sử dụng để giao hoặc cho thuê trực tiếp cho nhà đầu tư đã được chỉ định, với giá đất để tính bồi thường và giá đất để nhà đầu tư phải trả cho Nhà nước đều do cơ quan có thẩm quyền giao đất tự quyết định, với tình trạng thiếu công khai, minh bạch về thông tin trong toàn bộ quá trình thực hiện.

(more…)

CÔNG HỮU ĐẤT ĐAI KHÔNG HỢP THỜI VỚI QUÁ ĐỘ

GS.TSKH. ĐẶNG HÙNG VÕ

PHẦN 1. Bài học "cưỡng bức" hiện tại

Trong những ngày đầu ĐỔI MỚI, Đảng và Nhà nước đã ban hành một quyết định dũng cảm, mang tính bản lề tạo nên thành công, đó là chính sách giao đất sản xuất nông nghiệp do các hợp tác xã nông nghiệp đang sử dụng cho hộ gia đình để sử dụng ổn định lâu dài. Chính sách này đã đưa nước ta từ tình trạng thiếu lương thực trở thành một trong 3 nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Như trên biểu đồ về giá trị sản xuất nông nghiệp dưới đây, có thể thấy từ năm 1991 trở đi mức tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp khá đều đặn với khoảng hơn 5 nghìn tỷ đồng tăng thêm mỗi năm (theo giá so sánh năm 1994).

alt

Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá so sánh 1994 (tỷ đồng) sau ĐỔI MỚI (1990-2009)

Để có được quyết định quan trọng này, cũng phải trải qua một quá trình nhận thức nhất định và cũng đã có cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh phải chịu thiệt thòi như Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc. Từ thực tiễn, ai cũng thấy được tổng sản lượng canh tác của các hộ gia đình trên 5% diện tích ruộng được hợp tác xã giao cho sử dụng riêng còn cao hơn sản lượng canh tác trên 95% diện tích ruộng do hợp tác xã tổ chức sử dụng chung.

(more…)

Ý TƯỞNG VỀ CHẾ ĐỊNH QUYỀN HƯỞNG DỤNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Vật quyền từ xưa tới nay trên thế giới vẫn được xem là phạm vi truyền thống của luật tài sản. Thế nhưng, vật quyền lại ít được nhắc đến tên trong các văn bản pháp luật Việt Nam và ngay cả trong các giáo trình dạy luật dân sự, mặc dù nội dung của nó đã xuất hiện không ít (tuy chưa đầy đủ) trong Bộ luật Dân sự 2005 và trong một số đạo luật khác.

Hiện nay Ban soạn thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005 đang quyết tâm xác định các vật quyền tồn tại một cách khách quan để đưa vào Bộ luật sửa đổi này. Mặc dù đây là một việc làm hết sức cần thiết và đầy ý nghĩa, khi chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường mà ở đó luôn luôn đòi hỏi sự rõ ràng về tài sản, tuy nhiên không phải là dễ, khi mà nhận thức chung về vật quyền ở nước ta hiện nay còn chưa bắt kịp với nhận thức chung của các luật gia ở các nước khác về vấn đề này. Vì vậy, sự lược giải về các vật quyền có ý nghĩa thiết thực trước khi nói một cách đơn giản nhất về quyền hưởng dụng- một vật quyền lớn nhất mà không nền tài phán nào không chú ý tới nó.

1. Lược giải về các vật quyền và xác định vị trí của quyền hưởng dụng

Con người sống không thể thiếu sự đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần. Nguồn đầu tiên, cơ bản và quan trọng để đáp ứng các nhu cầu này là các vật thể vật chất hay các vật chất liệu. Ví dụ nhà để ở, quần áo để mặc, xe cộ để đi lại, ruộng để cày cấy, lúa gạo để ăn, bút để viết, mực để in ấn, máy ảnh để chụp hình…Đối với các vật thể vật chất này, người ta có một số nhận xét đơn giản sau đây mà đã kéo theo các hệ quả về việc thiết lập các quy chế pháp lý.

Nhận xét thứ nhất, để các vật thể vật chất này có thể đáp ứng nhu cầu sống của ai đó (người có nó) thì người này cần ngăn cản hay loại trừ người khác từ việc tiếp cận tới vật thể vật chất đó, đến việc quản lý và khai thác nó… Pháp luật đã hỗ trợ cho người nắm giữ hay tạo lập vật thể vật chất (mà pháp luật cho rằng họ nắm giữ hay tạo lập hợp pháp) ngăn cản hay loại trừ tất cả những người khác bằng cách xây dựng chế định quyền sở hữu để cho người này thống trị đối với vật thể vật chất. Như vậy, quyền sở hữu là quyền thống trị của một người đối với vật thể vật chất của mình và loại trừ tất cả những người khác, nên được gọi là vật quyền hay quyền đối vật.

(more…)

BÌNH LUẬN VỤ VIỆC VỀ TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN

TỪ THẢO – Cố vấn cao cấp Công ty Tư vấn Nam An Luật.

Diễn biến sự việc

Ngày 23/10/2004, Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) công ty cổ phần (CTCP) Bạch Đằng thành lập, bầu ra Hội đồng quản trị (HĐQT) 5 người gồm ông Phúc, ông Lâm và các bà Phương, Hiền, Oanh. Các thành viên HĐQT đều là cổ đông sáng lập của Công ty. Ngày 2/11/2004, ông Phúc – Chủ tịch HĐQT đã đứng ra bán 17.602 cổ phần, bán cho người ngoài doanh nghiệp là ông Cường với giá hơn 3,363 tỷ đồng. Bà Hiền, kế toán trưởng cũng đã chuyển nhượng 1.000 cổ phần trong tổng số 1.353 cổ phần của mình cho người khác.

Việc mua bán cổ phần này bị các cổ đông phát giác và đề nghị tổ chức Đại hội cổ đông thường niên. Tuy nhiên, ông Phúc và một số thành viên HĐQT Công ty Bạch Đằng đã không tiến hành đại hội theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Theo điều 16, khoản 2 điều lệ Công ty, ĐHCĐ thường niên do chủ tịch HĐQT triệu tập vào quý I hàng năm, nhưng đến hết quý II/2005, ông Phúc vẫn không triệu tập.

Ngày 4/5/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần liên tục sáu tháng đã gửi đơn đề nghị HĐQT triệu tập Đại hội cổ đông bất thường. Ngày 13/5/2005, HĐQT do bà Phó Chủ tịch HĐQT đại diện đã có thông báo không triệu tập họp ĐHĐCĐ. Ngày 17/6/2005, nhóm cổ đông nắm giữ 52,41% cổ phần đã đứng ra triệu tập Đại hội cổ đông bất thường vào ngày 2/7/2005.

Tại đại hội, các cổ đông tham dự đã bỏ phiếu bãi miễn 3 thành viên HĐQT, trong đó có ông Phúc, bà Hiền. Do đó, ông Quang – Chủ tịch HĐQT (mới) – đồng thời là cổ đông trong nhóm cổ đông 53,04% (nhóm cổ đông đã tham dự cuộc họp ngày 2/7/2005), đã kiện ra toà án yêu cầu: Công nhận kết quả Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 2/7/2005 là hợp pháp. Buộc các thành viên HĐQT bị bãi miễn, các thành viên Giám đốc điều hành bị bãi miễn phải bàn giao quyền, nghĩa vụ quản trị, điều hành, kiểm soát Công ty cho HĐQT, giám đốc mới.

Tuy vậy, bên bị kiện lại đề nghị hủy bỏ toàn bộ nội dung ĐHĐCĐ bất thường ngày 2/7/2005 vì cho rằng đây là hoạt động bất hợp pháp.

Bình luận tình huống

Luật áp dụng. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Diễn biến tranh chấp trong nội bộ CTCP nêu trên diễn ra trong thời gian từ năm 2004 đến 2005, do vậy Luật áp dụng để giải quyết tình huống này là Luật doanh nghiệp 1999 (Luật Doanh nghiệp 1999 chấm dứt hiệu lực từ 1/7/2006 và được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2005).

(more…)

AI THỰC HIỆN QUYỀN CHỦ SỞ HỮU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC?

QUANG MINH

Vấn đề quản lý có hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được đặt ra từ nhiều năm nay, nhưng đến nay, sau hai thập kỷ cải cách DNNN, vẫn chưa tìm ra các giải pháp hữu hiệu.

Khoảng trống pháp lý

Đến thời điểm này, khi Luật DNNN đã hết hiệu lực, các DNNN không kịp cổ phần hóa trước ngày 1-7-2010 (ngày Luật DNNN hết hiệu lực) thì chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP.

Tuy nhiên, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tại các công ty mới chuyển đổi này lại chưa có quy định pháp lý nào điều chỉnh, vì Nghị định 132/2005/NĐ-CP hướng dẫn về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DNNN vẫn chưa có văn bản thay thế.

Khoảng trống pháp lý này đang khiến các DNNN, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty lớn, không biết phải thực hiện theo quy định nào trong khi chờ Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo nghị định sửa đổi Nghị định 132 để trình Chính phủ ban hành.

Tuần trước, như một giải pháp tình thế, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã ký ban hành Văn bản 1626, tạm thời quy định các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu áp dụng các quy định về tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước tại Nghị định 25/2010. Đối với các tổng công ty 91, áp dụng các quy định tại Nghị định 132/2005, Nghị định 86/2006 và Nghị định 25/2010. Còn các tập đoàn kinh tế nhà nước thì áp dụng các quy định tại Nghị định 101/2009…

Thực tế hoạt động của các DNNN trong thời gian qua, theo các quy định này, cũng đã chứng tỏ việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DNNN có nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn và không mang lại hiệu quả trong việc quản lý vốn nhà nước tại DNNN.

(more…)

CÁC NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU, CHUẨN BỊ CHO VIỆC SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 CỦA VIỆT NAM

GS. MORISHIMA AIKYO – Thành viên Ban nghiên cứu chung của JICA về Bộ Luật Dân sự Việt Nam, Giáo sư danh dự Đại học Nagoya

I. Luật Dân sự là là ngành luật tư qui đinh quan hệ dân sự bình đẳng (luật nguyên tắc)

(1) Xã hội thị dân chỉ xã hội trao đổi hàng hóa mang tính kinh tế, nghĩa là xã hội kinh tế thị trường, về mặt lịch sử đó là xã hội mà cá nhân được giải phóng khỏi những bó buộc về nhân thân của chế độ phong kiến và tất cả các các nhân được tự do về chính trị và tự do về kinh tế.

Xã hội xã hội chủ nghĩa về mặt lịch sử được xác lập từ xã hội thị dân (hoặc để giải phóng nông dân và người lao động khỏi sự bó buộc về nhân thân mang tính phong kiến), và nó tập trung quyền lực chính trị vào chính quyền trung ương và không chấp nhận quan hệ giao dịch thị trường tự do, mà phải thông qua nền kinh tế kế hoạch. Do đó, xã hội với nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thuần nhất không phải là xã hội thị dân như vừa đề cập ở trên.

Việt Nam là nước đang chuyển dịch từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường, và do chưa có sự hình dung rõ ràng về xã hội thị dân mà mình định hướng đến là gì nên khi xây dựng Luật Dân sự (dưới đây viết tắt là LDS) là luật của nền kinh tế thị trường, sẽ gặp phải những vấn đề như xây dựng như thế nào các chế định pháp lý về quyền sở hữu, sự an toàn của giao dịch, tự do giao kết hợp đồng là những khái niệm mang tính nền tảng của trao đổi hàng hóa, và là những khái niệm không đặt ra trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tôi sẽ trình bày chi tiết đối với từng vấn đề cụ thể trong phần sau.

(2) LDS là luật điều chỉnh quan hệ bình đẳng giữa các công dân. Trong xã hội thị dân, như tôi đã đề cập ở trên, hoạt động kinh tế tự do giữa các cá nhân là nền tảng của xã hội. Do đó, vai trò của nhà nước và pháp luật là bảo đảm cho các hoạt động kinh tế tự do của tư nhân. “Nhà nước cảnh sát” → ”Nhà nước phúc lợi”.

(more…)

TÂM LÝ NGƯỜI VIỆT VÀ VĂN HOÁ PHÁP LÝ VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính- Nhà nước

Bất cứ một nền văn minh lớn nào cũng có những bộ luật lớn để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giúp cho xã hội đó phát triển, đồng thời cũng tạo ra niềm tự hào cho con người xây dựng nên những nền văn minh đó. Điều đó chứng tỏ rằng pháp luật vừa là công cụ để điều chỉnh xã hội văn minh, vừa là phẩm của xã hội văn minh.

Cái hay cái tốt của pháp luật có lẽ không phải bàn cãi nhưng thái độ của con người trong việc sử dụng pháp luật và cách hình thành nên một nền văn hoá pháp lý thì lại cần có sự nghiên cứu một cách đầy đủ để tìm ra sự khác biệt giữa các nền văn minh ấy từ nhiều nguyên nhân như tập quán sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt, quá trình giao lưu, tiếp nhận hay hoà nhập các yếu tố ngoại lai… đồng thời chỉ ra những nguyên nhân góp phần làm hình thành nên tâm lý của một dân tộc, một quốc gia. Tâm lý con người của một dân tộc, một quốc gia là một yếu tố cực kỳ quan trọng tham gia vào việc hình thành nên đời sống văn hóa pháp lý. Trải qua mấy nghìn năm tồn tại và phát triển, dân tộc Việt nam đã tạo cho mình những sắc thái văn hóa đặc sắc riêng biệt, trong đó có sắc thái của văn hoá pháp lý. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp. Nó cần được đánh giá ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ để tìm ra những cái hay, cái dở qua đó để xây dựng một nền văn hoá pháp lý phù hợp với điều kiện mới. Bài viết này muốn nói tới yếu tố tâm lý người Việt trong quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý của dân tộc Việt nam với những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong điều kiện hội nhập và phát triển.

1. Tâm lý người Việt và văn hoá pháp lý ở Việt nam

Nếu văn hoá pháp lý là những giá trị tốt đẹp mà pháp luật tạo ra từ quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển của con người và được chọn lọc qua thời gian thì ở Việt nam, văn hoá pháp lý gắn liền với với quá trình hình thành, phát triển và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống mang đặc sắc Việt nam. Trong quá trình hội nhập và phát triển, văn hoá nói chung và văn hoá pháp lý nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để chúng ta hoà nhập mà không bị hoà tan, vừa bảo tồn được các giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hoá thế giới để hình thành một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII đã xác định: “Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương… biên thành nguồn nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển” . Sự hình thành của các yếu tố văn hoá, trong đó có văn hoá pháp lý ra trong thời gian rất dài và phức tạp với cả những yếu tố khách quan và chủ quan.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 797 other followers

%d bloggers like this: