DỠ “RÀO CẢN” SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

image NHÓM CÁC TÁC GIẢ: PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA, PGS.TS. ĐẶNG VĂN THANH, LS. TRẦN HỮU HUỲNH, LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai: các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nước và xã hội phải gánh chịu, là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu tư thì ngày càng thấp.

Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật về đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản của Bộ luật Dân sự) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”.

Xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết.

Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật Dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.

Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó.

(more…)

ÁP DỤNG ÁN LỆ: CÀNG CHẬM CHỄ LÀ CÀNG TỤT HẬU

LS. TRƯƠNG TRỌNG NGHĨA

Ý nghĩa và mục đích của pháp luật là tạo ra, bảo đảm công lý, mà hai thành tố của nó là lẽ phải và sự bình đẳng. Nhưng lịch sử đã chứng minh không phải pháp luật nào cũng tạo ra công lý.

Vì sao nên áp dụng án lệ?

Vậy khi nào pháp luật đồng nghĩa với công lý? Đó là khi pháp luật được đặt ra và áp dụng một cách: công bằng, nhất quánxác đáng hay thỏa đáng.

Khi một nền pháp luật tạo ra và bảo đảm được ba giá trị đó thì xã hội sẽ có công lý. Khi xã hội có công lý thì người dân sẽ được an toàn bởi các quan hệ xã hội sẽ trở nên “có thể tiên liệu” và ổn định.

Từ nhận thức ấy, có một nguyên tắc mà đến nay đã trở thành tiêu chí chung ở hầu hết các nước: Trong cùng một quốc gia, không thể xử những vụ án giống nhau bằng những bản án khác nhau.

Nguyên tắc này được công nhận cả ở các nước thông luật (hệ thống luật Anh-Mỹ -Common Law)và dân luật (hệ thống luật La Mã hay luật lục địa) bởi dù theo hệ luật nào thì cái đích phải đến của tố tụng cũng là những vụ án có tình tiết tương tự thì phải được xét xử bằng những bản án tương tự.

Nguyên tắc này làm cho án lệ trở nên cần thiết. Cần lưu ý rằng giá trị của án lệ nằm ở phần tinh túy nhất của nó: Phần luận cứ, tức là những quan điểm, nguyên tắc, lý lẽ mà dựa vào đó các thẩm phán đưa ra phán quyết.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: