CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VÀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

LS. NGUYỄN TIẾN LẬP

Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.

Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..
Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.
Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.
Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sử hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”.

(more…)

BÀN THÊM VỀ QUYỀN ƯU TIÊN MUA CỔ PHẦN

TỪ THẢO – Cố vân Công ty Nam An Law

Cổ đông phổ thông được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần của từng cổ đông trong công ty. Cụ thể như sau:

+ Một là, quyền ưu tiên mua cổ phần mới chào bán của công ty chỉ đặt ra khi một CTCP kinh doanh có lợi nhuận và phát hành thêm cổ phần mới để gọi thêm vốn cổ phần, khi đó, cổ đông của công ty sẽ được ưu tiên mua số cổ phần công ty mới chào bán này.

+ Hai là, chỉ có những cổ đông hiện hữu tại thời điểm công ty cổ phần (CTCP) gọi thêm vốn cổ phần mới được hưởng quyền này.

+ Ba là, quyền ưu tiên mua cổ phần mới được đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, họ là những người đã gắn bó vơi công ty, và khi công ty kinh doanh có hiệu quả họ cũng phải là những người đầu tiên được hưởng lợi từ kết quả hoạt động kinh doanh này. Sự ưu tiên này thể hiện ở hai khía cạnh sau đây:

Ưu tiên về giá: Theo quy định tại Điều 87.1 Luật doanh nghiệp 2005, giá chào bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán… ngoại trừ một số trường hợp, trong đó có trường hợp cổ phần chào bán cho tất cả các cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty.

Như vậy, giá chào bán cổ phần cho các cổ đông hiện hữu có thể thấp hơn giá thị trường (dành cho mọi đối tượng khác trong xã hội). Nghĩa là để sở hữu một lượng cổ phần như nhau thì các cổ đông hiện hữu sẽ bỏ ra một số tiền nhỏ hơn so với những người khác phải mua theo giá thị trường, vì giá mua cổ phần chào bán của các cổ đông hiện hữu thấp hơn giá mua cổ phần (giá thị trường) của các chủ thể khác. Sự ưu tiên về giá mua cổ phần mới chào bán của cổ đông hiện hữu chính là ở điều này.

Ưu tiên về thứ tự mua cổ phần: theo đó số cổ phần mới chào bán sẽ phải bán cho những cổ đông hiện hữu trước, nghia là họ được ưu tiên mua trước, sau đó phần còn lại công ty mới có thể chào bán rộng rãi cho các nhà đầu tư khác.

(more…)

GIẢI QUYẾT KHỦNG HOẢNG TRONG QUAN HỆ CHUNG CƯ: CẦN CẢI CÁCH PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Các vụ tranh chấp giữa chủ căn hộ chung cư và chủ đầu tư nổ ra ngày càng nhiều, càng phức tạp, dai dẳng. Đáng chú ý là trong tất cả những cuộc đôi co ấy, chủ đầu tư luôn được cho là bên “gây chuyện” bằng cách cố ý đặt bên kia, các chủ căn hộ, vào tình thế phải chấp nhận giao kèo với những điều kiện không bình đẳng khiến người ta bức xúc, rồi phản ứng.

Nhà chức trách, về phần mình, cứ loay hoay không biết làm thế nào để giải quyết cho ổn thoả xung đột giữa các bên, dù ai cũng thấy tình trạng bị chèn ép rành rành của chủ căn hộ trong mối quan hệ với chủ đầu tư.

Khó khăn ở chỗ không thể tước “vũ khí” của chủ đầu tư; nói rõ hơn là không thể lấy đi những tài sản mà họ dùng làm vật khống chế đối với chủ căn hộ, chẳng hạn, nhà để xe, các thiết bị phục vụ sinh hoạt hàng ngày như hệ thống dẫn điện, nước, mạng internet,… Những thứ đó vốn là của họ, một cách hợp pháp, từ khi toà nhà chung cư được xây dựng.

Ở các nước tiên tiến cũng có chung cư, thậm chí nhiều hơn mình nhiều lần; nhưng xã hội không phải chứng kiến tình cảnh khủng hoảng trong quan hệ giữa các bên theo kịch bản đó. Từ rất sớm, người làm luật đã nhận thức rõ tính chất phức tạp của loại hình sở hữu chung này và đã chủ động mổ xẻ, phân tích, nhận dạng những điểm nóng tiềm tàng trong quan hệ sở hữu để có cách ngăn ngừa sự bộc phát các trận chiến pháp lý.

Đặc biệt, người ta nói rằng một bất động sản chỉ được gọi là chung cư một khi nó được “hộ hoá” toàn bộ, nghĩa là được phân chia toàn bộ thành các căn hộ. Mỗi căn hộ gồm có những phần tài sản thuộc sở hữu riêng biệt của chủ căn hộ và những phần tài sản mà chủ căn hộ có quyền sở hữu chung với các chủ căn hộ khác. Tất cả các yếu tố tạo thành bất động sản đều phải được xác định tính chất, chỉ có thể hoặc riêng của chủ căn hộ, hoặc chung của tất cả các chủ căn hộ.

(more…)

TRANH CHẤP TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG: CẦN XEM XÉT LẠI BẢN ÁN PHÚC THẨM DÂN SỰ SỐ 197 NGÀY 11/9/2010 CỦA TÒA PHÚC THẨM TANDTC TẠI TPHCM VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP NHÀ SỐ 526 AN DƯƠNG VƯƠNG, PHƯỜNG 9, QUẬN 5 TPHCM

HUY ANH

Từ những căn cứ xác thực, có tình, có lý, Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm xác định căn nhà số 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh thuộc sở hữu chung của vợ chồng ông Nguyễn Đức Anh – bà Lã Thị Bích Liên. Toà án xử phân chia cho mỗi người 1/2 căn nhà.
Thế nhưng Toà Phúc thẩm TANDTC lại lập luận vòng vo, thiếu tính thuyết phục để xét xử ngược lại hoàn toàn 180º theo đề nghị phi lý của bà Liên, cụ thể là: Xác định căn nhà nêu trên là tài sản riêng của bà Liên và “ghi nhận sự tự nguyện của bà Liên” trả lại tiền xây dựng nhà cho ông Trần Ngọc Trường- người được ông Nguyễn Đức Anh (chứ không phải bà Liên) nhờ đứng ra giám sát xây dựng và ứng tiền xây dựng nhà vào năm 1994 (?).

Ông Nguyễn Đức Anh và bà Lã Thị Bích Liên kết hôn với nhau từ năm 1976. Vợ chồng mua căn nhà 526 An Dương Vương, Phường 9, Quận 5, TP Hồ Chí Minh vào năm 1979 của ông Tiêu Mộc. Do lúc đó ông  Nguyễn Đức Anh không có hộ khẩu tại TP Hồ Chí Minh nên đã để bà Liên đứng tên trên giấy tờ với hình thức cùng với ông Tiêu Mộc lập giấy tờ “Tặng cho”. Căn nhà lúc đó là nhà trệt, nền xi-măng, mái nửa tôn, nửa ngói, tường mượn. Năm 1984, ông Nguyễn Đức Anh cùng 2 con sang Canada định cư và năm 1992 ông bảo lãnh cho bà Liên và các con còn lại sang Canada. Trước khi đi, bà Liên có làm tờ ủy quyền giao căn nhà cho bà Cao Thị Thanh Hồng quản lý, trên giấy này có ghi tên bà và chồng là ông Nguyễn Đức Anh đồng sở hữu căn nhà. Năm 1994, vợ chồng ông Nguyễn Đức Anh hợp đồng với Công ty Novina xây dựng lại nhà và nhờ ông Trần Ngọc Trường đứng ra giám sát việc xây dựng và ứng trước số tiền xây dựng nhà là 250.000.000đ. Bà Hồng đã xác nhận sự việc này và giao lại nhà cho ông Trường từ năm 1994. Xây xong nhà thì vợ chồng ông Anh bà Liên giao cho bà Lã Thị Bích Thơm (em gái bà Liên) trong coi căn nhà. Trong quá trình trông coi, bà Thơm có sửa chữa mặt tiền căn nhà, lắp đặt đồng hồ điện nước, điện thoại.

Đến nay, (sau khi ông Anh và bà Liên đã ly hôn), ông Nguyễn Đức Anh có đơn yêu cầu chia đôi căn nhà cho mỗi người 1/2. Nếu bà Liên lấy nhà thì hoàn tiền cho ông hoặc ngược lại, sau khi đã trừ các khoản tiền xây dựng, sửa chữa nhà trả ông Trường, bà Thơm và tiền trông coi nhà cho bà Hồng.

(more…)

VƯỚNG MẮC TỪ THỰC TIỄN: CHA MẸ VỊ THÀNH NIÊN ĐĂNG KÝ KHAI SINH CHO CON NHƯ THẾ NÀO?

THANH XUÂN

Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định khá chi tiết các thủ tục cần thiết trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những trường hợp phát sinh nhưng chưa được hướng dẫn giải quyết, khiến cơ quan đăng ký hộ tịch lúng túng.

Mất giấy chứng sinh, đăng ký khai sinh bằng giấy tờ nào?

Điều 15, Nghị định 158 về thủ tục đăng ký khai sinh quy định, người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ (nếu cha, mẹ của trẻ có đăng ký kết hôn). Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Như vậy Nghị định 158 chỉ quy định, trường hợp trẻ sinh trong cơ sở y tế thì khi đăng ký khai sinh thủ tục bắt buộc phải có giấy chứng sinh, không quy định các giấy tờ khác thay thế giấy chứng sinh. Tuy nhiên thực tế đã nảy sinh trường hợp không nằm trong quy định.

Ngày 9.6.2010, chị Đinh Thị Phúc đến UBND xã Tân Dương, huyện Lai Vung, Đồng Tháp đăng ký khai sinh cho con là Nguyễn Đinh Phú Quý sinh ngày 6.12.2009 tại Bệnh viện đa khoa thị xã Sa Đéc. Theo chị Phúc, khi sinh con tại Bệnh viện đa khoa thị xã Sa Đéc có giấy chứng sinh do bệnh viện cấp, nhưng trên đường về nhà chị đã làm mất giấy chứng sinh của con nên không thể làm khai sinh. Về phía Bệnh viện thì không thể cấp lại giấy chứng sinh cho con chị được. Nghị định 158 chỉ quy định trường hợp nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Trường hợp con chị Phúc sinh trong bệnh viện nhưng mất giấy chứng sinh, cơ quan hộ tịch không biết có thể cho đăng ký khai sinh hay không? Nếu đăng ký khai sinh thì giấy tờ nào sẽ thay thế giấy chứng sinh? Cuối cùng, cán bộ Tư pháp – Hộ tịch xã phải cho chị Phúc làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực để giải quyết việc đăng ký khai sinh cho con chị.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 521 other followers

%d bloggers like this: