MỘT SỐ ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA QUY ĐỊNH MỚI VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

THS. BÙI ĐỨC GIANG – Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Ngày 22 tháng 2 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 11/2012/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 4 năm 2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về giao dịch bảo đảm (các điều từ 318 đến 373). Văn bản pháp luật mới này đã chỉ rõ một số khía cạnh mà trong thực tiễn áp dụng còn có nhiều cách hiểu khác nhau và có một số quy định mới so với Nghị định 163. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm Nghị định này chưa xử lý một cách thỏa đáng hay mâu thuẫn với quy định của Bộ luật dân sự. Bài viết này sẽ phân tích một số nét chính của lần sửa đổi bổ sung này.

1). Một số điểm mới trong pháp luật về giao dịch bảo đảm

Tài sản bảo đảm – Theo quy định tại điều 4 khoản 1, Nghị định 163 được bổ sung, sửa đổi bởi Nghị định 11/2012/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định mới), tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch. Nghị định mới đã thay thế khái niệm tài sản được phép giao dịch  bằng khái niệm tài sản mà pháp luật không cấm giao dịch. Giải pháp này là phù hợp bởi thông thường quy định pháp luật chỉ nêu danh sách các tài sản bị cấm hay hạn chế giao dịch chứ không thể liệt kê được hết các tài sản được phép giao dịch nhất là các loại tài sản mới ra đời, đặc biệt là các tài sản vô hình.

Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong tương lai – Nghị định mới bổ sung điều 8a về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong tương lai theo đó « trong hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch, các bên không bắt buộc phải thỏa thuận cụ thể về phạm vi của nghĩa vụ bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Khi nghĩa vụ được hình thành, các bên không phải đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm đã đăng ký.” Quy định mới này thật sự là một bước đột phá so với quy định hiện hành. Thực vậy, Bộ luật dân sự và Nghị định 163 cũ chỉ nêu nguyên tắc có thể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nghĩa vụ trong tương lai (khoản 2, điều 319, Bộ luật dân sự) tức là « nghĩa vụ dân sự mà giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ đó được xác lập sau khi giao dịch bảo đảm được giao kết » (khoản 6, điều 3, Nghị định 163). Nghị định mới đi xa hơn khi chỉ rõ không nhất thiết phải miêu tả cụ thể (bao gồm phạm vi và thời hạn) nghĩa vụ phát sinh trong tương lai. Đây là một ngoại lệ mới so với nguyên tắc chung về đối tượng của nghĩa vụ dân sự được quy định tại khoản 2 điều 282 của Bộ luật dân sự theo đó « đối tượng của nghĩa vụ dân sự phải được xác định cụ thể ».

(more…)

PHÍ DỊCH VỤ THẺ ATM – “KẺ MÓC TÚI” NGƯỜI TIÊU DÙNG?

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tể VN (VIAC)

Gần như mọi vấn đề liên quan đến ngân hàng, đều đang là những chủ đề nóng bỏng: Dư nợ, lãi suất, nợ xấu, ngoại tệ, vàng, sáp nhập, phí ATM,… Và song hành với nó là nỗi băn khoăn, lo ngại của người tiêu dùng dịch vụ ngân hàng về các dịch vụ nói chung và về thẻ ATM nói riêng.

1. Thẻ ATM, dịch vụ dành cho tất cả mọi người

Trong quá trình góp ý xây dựng Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, tôi đã viết và trình bày bài tham luận “Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng” tại Hội thảo Quốc tế Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Từ hai góc nhìn Á – Âu, do Nhà Pháp luật Việt – Pháp và Bộ Công thương đồng tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày 27 và 28-9-2010.

Với 22 trang của bài tham luận nói trên, tôi đã nêu ra một loạt vấn đề bất cập, chưa rõ ràng, chưa bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng dịch vụ ngân hàng về các nội dung sau:

- Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền khi rút tiền trước hạn, trong đó có 2 vấn đề sau:[1]

+ Người gửi tiền chỉ được rút trước hạn nếu đã có thoả thuận với ngân hàng và phải thông báo trước một thời hạn nhất định theo quy định của ngân hàng. Nếu không đáp ứng được một trong hai điều kiện này, thì không được rút trước hạn hoặc được rút nhưng phải trả phí rút trước hạn (tức là người gửi tiền không những không được hưởng lãi mà còn bị mất đi một phần tiền gốc);

+ Người gửi tiền rút trước hạn nếu đã đáp ứng được cả hai điều kiện nói trên, thì cũng chỉ được hưởng mức lãi suất “tối đa bằng mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất” của ngân hàng (tức là, gửi 12 tháng, nếu rút tiền vào tháng thứ 11, thì cũng chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn).

(more…)

CHẤM VÀ VẠCH TRONG BIỂN ĐÔNG: NHÌN TỪ LUẬT CHỨNG CỨ BẢN ĐỒ

ERIK FRANCKX* & Marco BENATAR** – Đại họcVrije Brussel, Bỉ

Người dịch: Phan Văn Song
Hiệu đính: Lê Trung Tĩnh

Ngày 07 tháng 5 năm 2009, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) phản đối đệ trình của Việt Nam và đệ trình chung của Malaysia-Việt Nam gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS). Để hậu thuẫn cho các yêu sách của mình, Trung Quốc (TQ) đã kèm một bản đồ có vẽ một đường hình chữ U nhiều chấm bao trùm phần lớn Biển Đông vào công hàm phản đối.

Bài nghiên cứu này là đưa ra một phân tích về mặt pháp lý quốc tế bản đồ nói trên.

I. BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC

A. Nền tảng

Nguồn gốc của đường chữ U bắt đầu từ các hoạt động của Uỷ ban thẩm tra Bản đồ Đất và Nước của Trung Hoa Dân Quốc (THDQ), thành lập vào năm 1933. Trách nhiệm của Uỷ ban này bao gồm việc khảo sát và đặt tên các đảo ở Biển Đông và in ra các bản đồ cho thấy các đảo này thuộc chủ quyền của TQ. [1]
Đường nhiều chấm được chuẩn nhận chính thức đầu tiên phát xuất từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Tờ bản đồ đang bàn do Sở lãnh thổ và Ranh giới Bộ Nội vụ THDQ in ra vào tháng 12 năm 1946. [2] Trên bản đồ này, đường chữ U gồm 11 vạch liên tục bao kín phần lớn Biển Đông và các thể địa lý giữa đại dương. [3] Bắt đầu từ ranh giới Trung-Việt, hai vạch đầu tiên đi qua Vịnh Bắc Bộ. Vạch thứ ba và thứ tư của đường này phân cách bờ biển Việt Nam với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tương ứng. Vạch thứ năm và thứ sáu trên đường đứt đoạn đi qua Bãi cạn James (4° N), thể địa lý biển cực nam mà TQ và THDQ tuyên bố chủ quyền. Di chuyển theo hướng đông bắc, hai vạch tiếp theo nằm giữa quần đảo Trường Sa phía này, và Borneo (Indonesia, Malaysia, và Brunei) và Philippines (tỉnh Palawan), phía kia. Vạch thứ chín, thứ mười, và thứ mười một phân cách Philippines với THDQ. [4] Sau khi loại Quốc dân Đảng khỏi Trung Hoa đại lục, CHNDTH cũng phát hành bản đồ vẽ với cùng các vạch trên. [5] Như vậy, từ đó trở đi, ở hai phía của eo biển Đài Loan đều thấy có bản đồ đường chữ U xuất hiện. Một trong thay đổi đặc biệt cần lưu ý: từ năm 1953, bản đồ Biển Đông TQ chỉ vẽ 9 thay vì 11 vạch (2 vạch ở Vịnh Bắc Bộ đã bị xoá). [6]

B. Công hàm TQ gửi Tổng thư ký LHQ (ngày 07 tháng 5 năm 2009)

Ở cấp độ quốc tế, tranh cãi xung quanh đường 9 chấm đã rộ lên trước Liên Hợp Quốc (LHQ) vào năm 2009 liên quan tới đệ trình chung của Malaysia-Việt nam[7] và đệ trình riêng của Việt Nam[8] cho CLCS. CLCS đưa ra khuyến nghị cho các nước ven biển có nhu cầu xác lập ranh giới bên ngoài thềm lục địa vượt quá 200 hải lý (nm). [9] Thời gian đệ trình của các chính phủ Việt Nam và Malaysia có thể được giải thích bởi thời hạn chót của họ là vào tháng 5 năm 2009. [10] Để đáp trả các đệ trình này, trong cùng ngày TQ đã chính thức gửi Tổng thư ký LHQ hai công hàm riêng biệt có kèm bản đồ đó [11], bằng cách này lần đầu tiên xác nhận đường chữ U, ở cấp quốc tế trong một tranh chấp cấp nhà nước, [12] với phản ứng giống hệt nhau sau đây:

(more…)

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: RỐI RẮM THỤ LÝ TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG

THANH TÙNG

Do vụ án phức tạp nên hai năm sau TAND TP Tân An mới xử sơ thẩm và tuyên bác toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn.

Theo chỉ đạo, tòa cấp sơ thẩm thụ lý nhưng sau đó tòa cấp phúc thẩm lại hủy án, đình chỉ giải quyết…

TAND tỉnh Long An vừa tuyên hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp tài sản chung giữa bà M. cùng các nguyên đơn với ông S. vì chưa đủ điều kiện thụ lý vụ án nhưng TAND TP Tân An vẫn nhận đơn giải quyết. Trong vụ này, trước đây tòa án cấp sơ thẩm từng lừng khừng chuyện nhận đơn, còn TAND tỉnh và TAND Tối cao từng chỉ đạo xem xét thụ lý theo đúng quy định.

Kiện đòi chia thừa kế

Theo hồ sơ, sau khi cha mẹ chết, năm 1990 bà M. cùng bốn anh chị em khác giao toàn bộ nhà, đất cho người anh là ông S. quản lý, làm nơi thờ cúng.

Năm 2000, ông S. đi hợp thức hóa nhà, đất rồi bảy năm sau ông chuyển tài sản sang cho hai con gái đứng tên. Tháng 6-2009, bà M. phát hiện nên cùng các anh chị em khác khởi kiện yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà cha mẹ để lại. Theo bà, năm 1990, khi giao tài sản cho anh quản lý, người anh soạn sẵn văn bản thể hiện bà và các anh chị em khác khước từ nhận tài sản thừa kế. Vì chuyện đã lỡ nên tất cả cùng ký với điều kiện phải ghi thêm dòng chữ: “Ngôi nhà chỉ dùng để làm nhà thờ, không được bán”. Tuy nhiên, dòng chữ này sau đó bị công chứng viên xóa bỏ. Đây là việc làm khuất tất nên bà khởi kiện đòi lại quyền lợi…

Tuy nhiên, yêu cầu này bị tòa từ chối giải quyết vì thời hiệu khởi kiện không còn. Đầu năm 2008, anh em bà M. lại khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ hợp đồng cho tặng nhà giữa ông S. với hai con. Các nguyên đơn (bà M. làm đại diện) cũng nhờ tòa tuyên bố ngôi nhà là tài sản chung của cha mẹ để lại và phải chia đều cho sáu anh chị em.

Ban đầu TAND thị xã Tân An (nay là TP Tân An) trả lại đơn kiện vì cho rằng không đủ điều kiện thụ lý. Suốt hai năm sau đó, phía nguyên đơn làm nhiều đơn khiếu nại nhưng không có kết quả.

Bảo nhận đơn rồi lại đình chỉ

Tháng 11-2009, TAND tỉnh Long An chỉ đạo TAND TP Tân An thụ lý giải quyết vụ án của bà M. vì thấy có cơ sở… Thấy vậy tòa án cấp sơ thẩm đã gọi các đương sự lên và ra quyết định thụ lý vụ án chia tài sản chung. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp nên hai năm sau TAND TP Tân An mới xử sơ thẩm và tuyên bác toàn bộ các yêu cầu của nguyên đơn. Bà M. kháng cáo toàn bộ bản án.

(more…)

BÀN VỀ ĐIỀU 92 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN

TÁC GIẢ CHƯA XÁC ĐỊNH

Nghiên cứu Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011), chúng tôi nhận thấy một số điểm mới được nhà làm luật sửa đổi, bổ sung vào Điều 92 cũng như một số vấn đề còn vướng mắc cần trao đổi, giải quyết như sau:

A. Về một số điểm mới đã được sửa đổi, bổ sung:

Thứ nhất: Bổ sung vào khoản 1 Điều 92 nội dung “Các bên có quyền tự thoả thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản”. Một trong những nguyên tắc tôn trọng tự định đoạt của các đương sự mà Bộ luật tố tụng dân sự đã ghi nhận tại Điều 5 [1], đã được nhà làm luật bổ sung vào khoản 1 của Điều 92 của BLTTDS. Theo đó, khi có tranh chấp về giá trị tài sản, nếu các bên tự quyết định về giá trị khối tài sản đang tranh chấp hoặc thuê tổ chức dịch vụ có chức năng thẩm định giá tài sản, để thẩm định giá tài sản, thì Tòa án tôn trọng sự quyết định của các đương sự trong việc định giá tài sản.

Thứ hai: Trước đây luật không quy định Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là người đại diện của cơ quan tài chính, nên việc sửa đổi, bổ sung lần này, nhà làm luật đã quy định cụ thể Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là người đại diện của cơ quan tài chính, điều này là hoàn toàn phù hợp với cả lý luận và thực tiễn trong việc định giá tài sản. Thực tế trước đây, mặc dù pháp luật không ghi cụ thể Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là thuộc cơ quan nào, song trong thực tế các Tòa án khi ban hành quyết định định giá tài sản đều ghi Chủ tịch hội đồng định giá tài sản là đại diện của cơ quan tài chính [2].

Thứ ba: Để bảo đảm sự vô tư, khách quan của các thành viên trong quá trình định giá tài sản, nhà làm luật đã bổ sung các trường hợp thành viên Hội đồng định giá tài sản phải từ chối tham gia thành viên Hội đồng định giá nếu họ đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó và trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 46 [3] Bộ luật TTDS, mà trước đây chưa quy định.

Thứ tư: Bổ sung vấn đề chế tài đối với “Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá; người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật”. Việc quy định này là hết sức cần thiết, nhằm đảm bảo sự phối hợp và tôn trọng Tòa án trong việc giải quyết nhanh vụ án, tránh trường hợp các cơ quan này từ chối cử người tham gia Hội đồng định giá tài sản cũng như cá nhân người được cử làm thành viên Hội đồng định giá tài sản nhưng không tham gia, gây khó khăn, tốn kém tiền bạc cũng như thời gian của các đương sự và Tòa án mà trước đây không có bất cứ một chế tài nào đối với cơ quan, cá nhân đó [4].

(more…)

MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN BIỆN PHÁP BẢO LÃNH ĐỐI VỚI HƠP ĐỒNG TÍN DỤNG

THS. NGUYỄN THÙY TRANG – Tổng công ty Công nghiệp hóa chất mỏ – Vinacomin

Với bản chất là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bảo lãnh hay bất kỳ biện pháp bảo đảm nào khác trong quan hệ dân sự như đặt cọc, cầm cố, thế chấp, tín chấp, ký quỹ,… được coi là một phần không tách rời với hợp đồng (nếu các chủ thể có lựa chọn biện pháp bảo đảm cho việc ký kết hoặc thực hiện hợp đồng), nhưng vẫn có giá trị độc lập tương đối. Ðiều này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, trao đổi và đưa ra quan điểm của mình1.

Bên cạnh đó, Ðiều 317 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) về chuyển giao nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm quy định “trong trường hợp nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, nếu không có thỏa thuận khác”. Việc phân định rõ vị trí pháp lý của các biện pháp bảo đảm với hợp đồng chính, hợp đồng phụ sẽ giúp cho các bên liên quan hiểu rõ nghĩa vụ pháp lý của mình, đặc biệt trong quan hệ bảo lãnh, một quan hệ vừa mang tính đối nhân – có sự tham gia của người thứ ba, vừa có thể mang tính đối vật – nếu quan hệ bảo lãnh có sự thế chấp, cầm cố tài sản của người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh.

Xung quanh chế định bảo lãnh hiện nay, những vấn đề pháp lý như khái niệm, đặc điểm của biện pháp này và một số vướng mắc khi áp dụng trên thực tiễn được các nhà nghiên cứu và áp dụng pháp luật rất quan tâm. Trong hoạt động ngân hàng, biện pháp bảo lãnh, hay nghiệp vụ bảo lãnh được coi là một trong những công cụ được sử dụng khá thường xuyên, được các ngân hàng hay tổ chức tín dụng áp dụng như một dịch vụ kinh doanh hiệu quả bằng các nghiệp vụ bảo lãnh như “bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng,…”. Bên cạnh đó, biện pháp bảo lãnh còn được áp dụng khá phổ biến trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với tổ chức, cá nhân.

1. Quy định pháp luật hiện hành về bảo lãnh

Khái niệm: Ðiều 361 BLDS 2005 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHOẢN TIỀN BÙ ĐẮP VỀ TINH THẦN DO BỊ XÂM PHẠM VỀ TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. ĐINH VĂN QUẾ

Khoản tiền “bù đắp về tinh thần” do bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín là khoản tiền mà người bị xâm phạm hoặc người thân thích của người bị xâm phạm được hưởng theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Trước khi Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự năm 1995, chưa có quy định nào của pháp luật buộc người gây thiệt hại phải bồi thường khoản tiền này, do còn quan niệm cho rằng, tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín không thể tính ra thành tiền được và “tinh thần” được coi là một phạm trù “phi vật chất”. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử trong nhiều năm cho thấy, việc buộc người gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền để “bù đắp về tinh thần” cho người bị thiệt hại (nếu là sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm) hoặc cho người thân thích của người bị thiệt hại (nếu là tính mạng bị xâm phạm) là cần thiết, phù hợp với tập quán và truyền thống văn hoá xã hội của dân tộc Việt Nam.

Mặc dù Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định về khoản tiền “bù đắp về tinh thần” nhưng chỉ quy định: Tuỳ từng trư­ờng hợp, Toà án quyết định buộc người xâm phạm phải bồi thư­ờng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, còn khoản tiền đó là bao nhiêu thì Bộ luật dân sự năm 1995 chưa quy định. Do vậy, thực tiễn xét xử các Toà án địa phương đã áp dụng không thống nhất. Để khắc phục tình trạng này, ngày 28-4-2004, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; trong đó có khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết này thì:

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm,…

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

NGUYỄN PHÚ ĐỨC

Trong thực tiễn xét xử các vụ án dân sự thời gian gần đây, đã phát sinh một số tình huống gây ra sự tranh cãi về mặt pháp lý cũng như các cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa những người tiến hành tố tụng với nhau cũng như giữa những người tiến hành tố tụng với luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin minh hoạ bằng một trường hợp cụ thể mà hiện nay còn nhiều ý kiến chưa thống nhất.

Nội dung sự việc:

Luật sư Trần Văn S thuộc có nhận làm đại diện uỷ quyền tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị N. Văn bản uỷ quyền được chứng thực theo quy định pháp luật, được nộp ngay từ khi bắt đầu khởi kiện, với nội dung và phạm vi uỷ quyền như sau: “Ông Trần Văn S được đại diện cho bà Nguyễn Thị N tham gia tố tụng tại TAND các cấp; được thay mặt bà Nguyễn Thị N thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo pháp luật quy định; được quyết định mọi việc có liên quan trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết vụ án; bà Nguyễn Thị N cam kết chấp hành đúng những gì đã được xác lập trong tờ uỷ quyền và không khiếu nại về sau; thời gian uỷ quyền: cho đến khi vụ án được giải quyết xong”.

Sau khi xét xử sơ thẩm, do không đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm nên trong thời hạn kháng cáo, ông Trần Văn S đã thay mặt bà Nguyễn Thị N đứng tên kháng cáo đối với bản án sơ thẩm nêu trên và nộp đơn kháng cáo cho TAND huyện M. Nội dung đơn kháng cáo đúng theo quy định nhưng Thẩm phán giải quyết vụ án không nhận đơn với lý do: ông Trần Văn S không được quyền kháng cáo thay cho bà Nguyễn Thị N mà phải có văn bản uỷ quyền ghi rõ là ông S được uỷ quyền kháng cáo thay và phải có công chứng, chứng thực (theo tiểu mục 1.8, mục 1, phần I Nghị quyết 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thực hiện điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ diễn biến nêu trên đã phát sinh 2 quan điểm khác nhau, cụ thể:

(more…)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN THỪA KẾ

PHƯƠNG DUNG – HÀ GIANG

I/ Khái niệm quyền thừa kế

Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân, tổ chức. Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể để lại tài sản (quyền của người để lại di sản) và chủ thể hưởng thừa kế di sản (quyền của người nhận di sản). Quyền thừa kế thuộc về tổ chức được thể hiện theo một chủ thể nhất định, đó là chủ thể hưởng thừa kế di sản (và chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc).

Khi xem xét về vấn đề thừa kế thì di sản là một trong những vấn đề được quan tâm trước tiên. Di sản là cơ sở để thiết lập di chúc bên cạnh các căn cứ khác. Chỉ khi di sản còn tồn tại trên thực tế thì người lập di chúc mới có “cái” để định đoạt.

Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Người có hay không có năng lực hành vi hoặc người có năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế. Trong trường hợp này, người giám hộ sẽ thực hiện giúp những người này các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi tài sản của họ.

II/ Quyền của người để lại tài sản – một số vấn đề vướng mắc

Đối với cá nhân người để lại tài sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của bản thân. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của họ trước khi chết.

Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự thì, người lập di chúc có các quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Ngoài ra, tại Điều 662 BLDS còn quy định, người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc.

(more…)

XÁC ĐỊNH SỞ HỮU TẦNG HẦM NHÀ CHUNG CƯ

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Việc tầng hầm của nhà chung cư là sở hữu chung hay riêng vẫn chưa thật rõ, nên đã dẫn đến nhiều vụ tranh chấp về sở hữu với tầng hầm.

1. Đòi hỏi chính đáng về quyền sở hữu tầng hầm:

Vấn đề tranh chấp nhức nhối nhất liên quan đến chung cư là tranh chấp về quyền sở hữu tầng hầm nhà chung cư. Không bàn đến tầng hầm khác, mà chỉ nói về tầng hầm để xe. Về nguyên tắc tối thiểu, nhà ở phải có chỗ để xe. Nhà chung cư, nhất với căn hộ hàng trăm mét vuông, thì không thể thiếu những phần diện tích thuộc về công năng tối thiểu như tầng hầm làm chỗ để xe. Vậy tầng hầm thuộc sở hữu chung của người mua căn hộ hay của chủ đầu tư thì mới hợp lý?

Nếu chủ đầu tư cho thuê nhà, thì đương nhiên tầng hầm để xe thuộc sở hữu của họ. Còn nếu chủ đầu tư bán nhà, thì tầng hầm để xe phải thuộc sở hữu của người mua. Chủ đầu tư nào bán căn hộ nhưng vẫn cố tình giữ lại quyền sở hữu tầng hầm để xe cho mình, thì không khác nào muốn giữ lại sở hữu lối đi, hành lang, cầu thang đi vào căn hộ.

Ở nhà chung cư, thì kiểu gì cũng phải trả chi phí cho việc trông xe. Ai đứng ra trông xe không quan trọng. Khác nhau cơ bản ở chỗ, khoản thu từ việc giữ xe ấy vào túi nhà đầu tư hay quay trở lại bù đắp cho chi phí vận hành chung cư. Nếu thuộc trường hợp thứ 2 thì giá cả trông xe không thật sự quan trọng, vì tiền chỉ từ túi nọ sang túi kia của chính người dân trong chung cư.

Về phía người mua nhà, không có ai muốn mua căn hộ lại không kèm theo quyền sở hữu tầng hầm để xe.

Về phía chủ đầu tư, không có chủ đầu tư bình thường nào lại bỏ vốn đầu tư rất lớn vào tầng hầm để nuôi hy vọng thu hồi vốn sau vài chục năm bằng việc nhặt nhạnh từng đồng tiền trông giữ xe. Lẽ thường, chủ đầu tư phải phân bổ toàn bộ chi phí xây dựng chung cư, trong đó có phần tầng hầm để xe vào diện tích căn hộ. Bán hết (hoặc gần hết) phần diện tích nhà, thì không có lý do gì để giữ lại tầng hầm, là một phần công năng, tiện ích không thể thiếu, buộc phải kèm theo để phục vụ mục đích của người mua căn hộ chung cư. Nếu chủ đầu tư cứ cố tình giành quyền sở hữu tầng hầm cho riêng mình, thì đó là một sự gian lận, lừa dối khách hàng, vi phạm cả pháp luật và đạo lý.

(more…)

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI ĐƯỢC GIÁM HỘ GÂY RA: CON TÂM THẦN ĐÂM NGƯỜI, CHA MẸ PHẢI BỒI THƯỜNG?

PHÚC TÂN

Do có mâu thuẫn từ trước vì tranh chấp đất đai, sáng 31-7-2010, giữa gia đình bà DTDT và vợ chồng ông NHM (cùng ngụ huyện Mang Thít, Vĩnh Long) đã xảy ra cự cãi, xô xát.

Trong lúc hai bên xô xát, con gái của ông M. đã dùng dao đâm bà T.

Theo kết quả giám định, bà T. bị tổn hại sức khỏe 45%. Tuy nhiên, Công an huyện Mang Thít không khởi tố con gái của ông M. vì người này bị bệnh tâm thần, chỉ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau đó, TAND huyện Mang Thít cũng ra quyết định tuyên bố con gái của ông M. bị mất năng lực hành vi dân sự.

Tháng 5-2011, bà T. đã gửi đơn đến TAND huyện Mang Thít khởi kiện vợ chồng ông M. đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại. Theo bà T., thương tật của bà do con gái của ông M. gây ra nhưng người này bị mất năng lực hành vi dân sự nên vợ chồng ông M. (người giám hộ của người bệnh) phải bồi thường tổng cộng gần 80 triệu đồng.

Trong các buổi hòa giải, vợ chồng ông M. không chịu bồi thường, nại rằng bà T. có lỗi là đánh con gái của ông bà trước. Việc con gái của ông bà có dùng dao đâm bà T. hay không vợ chồng ông bà cũng không biết. Hơn nữa, con gái của ông bà đã hơn 18 tuổi nên ông bà không phải chịu trách nhiệm với hành vi của con. Mặt khác, cô này lại bị mất năng lực hành vi dân sự nên phải được miễn trách nhiệm bồi thường mới đúng…

Mới đây, TAND huyện Mang Thít đã đưa vụ kiện ra xử sơ thẩm. Theo tòa, công an đã xác định việc con gái của ông M. dùng dao đâm vào ngực bà T. gây thương tật 45% là có thật. Xét việc bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường thiệt hại cho bà là có căn cứ. Bởi lẽ tại thời điểm gây thương tích cho bà T. cũng như hiện nay, con gái của ông M. là người bị mất năng lực hành vi dân sự, chưa có chồng và cũng không có tài sản riêng. Theo quy định thì vợ chồng ông M. là người giám hộ nên phải chịu trách nhiệm dân sự với hành vi của con mình.

Tuy nhiên, trong số tiền mà bà T. yêu cầu vợ chồng ông M. phải bồi thường có những khoản chi phí chưa phù hợp nên tòa chỉ chấp nhận các khoản chi phí hợp lý, tổng cộng là hơn 60 triệu đồng.

(more…)

QUYỀN RIÊNG TƯ TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

THS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG  – Giảng viên Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Ở Việt Nam khi đề cập đến quyền riêng tư, dường như mới chỉ dừng lại ở quyền về bí mật đời tư – Civillawinfor

Ở các nước phát triển, quyền riêng tư được công nhận từ rất sớm, là một trong những quyền cơ bản nhất của con người [1] và hiện đã trở thành một trong những quyền quan trọng nhất của quyền con người trong thời hiện đại. Quyền riêng tư của công dân ngày càng được thừa nhận rộng rãi trong hệ thống pháp luật của nhiều nước. Hiến pháp của hầu hết các quốc gia đều ghi nhận quyền này [2].

1. Sơ lược lịch sử phát triển của quyền riêng tư

Sự riêng tư có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử. Ví dụ trong Kinh Thánh có nhiều điều đề cập đến quyền riêng tư; trong nền văn minh Hebrew, nền văn minh Hy Lạp cổ đại và cả Trung Quốc cổ đại cũng có đề cập đến bảo vệ sự riêng tư [3]. Nhưng có thể nói, quyền riêng tư sơ khai xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước.

Trong xã hội nguyên thủy, cuộc sống bầy đàn cũng như tính gắn kết cộng đồng cao, dường như tính riêng tư của cá nhân bị “bỏ quên”, và con người trong xã hội đó không có khái niệm cũng như không đòi hỏi cái gọi là “riêng tư” cho bản thân mình. Phải đến khi hình thái nhà nước đầu tiên thực sự xuất hiện – là nhà nước chiếm hữu nô lệ – thì “quyền riêng tư” mới manh nha xuất hiện như trường hợp lời thề Hippocrate trong ngành y, đó là việc các thầy thuốc phải tuyên thệ về việc giữ bí mật với hồ sơ bệnh án[4].

Tuy nhiên, trong một xã hội mang tính bất bình đẳng cao giữa các giai cấp như xã hội chiếm hữu nô lệ thì các quyền con người nói chung và quyền riêng tư nói riêng là quyền mà chỉ tầng lớp chủ nô mới có; còn giai cấp nô lệ – được xem là một thứ “tài sản biết nói” của chủ nô – thì không có gì liên quan đến nô lệ mà chủ nô không có quyền được biết. Những gì liên quan đến nô lệ, bao gồm cả bí mật đời tư đều thuộc sở hữu và quyền quyết định của chủ nô. Do đó, quyền riêng tư trong giai đoạn này và cả dưới chế độ phong kiến không được chính thức ghi nhận bởi pháp luật, nó được coi là một “đặc quyền” mà chỉ có các tầng lớp cao quý trong xã hội (chủ nô, lãnh chúa phong kiến…) mới được hưởng.

Quyền riêng tư bắt đầu manh nha xuất hiện trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phát triển cho đến ngày nay. Tuy nhiên, tính rõ ràng của thuật ngữ cũng như tính pháp lý của quyền này chỉ thực sự được khẳng định cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Do đó, có thể nói, quyền riêng tư có nguồn gốc từ phương Tây[5] và phát triển nhờ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.

(more…)

BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH PHÁP NHÂN VÀ ĐẠI DIỆN PHÁP NHÂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Phó Tổng Giám đốc Maritime Bank

1. Khái niệm pháp nhân:

Điều 84 về “Pháp nhân” của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Được thành lập hợp pháp;

2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

Bốn điều kiện cụ thể, rõ ràng nói trên áp dụng cụ thể vào thực tế thì lại rất khó phân biệt và không hề đơn giản. Chẳng hạn Ban quản trị nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở năm 2006 (sửa đổi năm 2009) và văn bản hướng dẫn, thì hoàn toàn cũng đáp ứng được cả 4 điều kiện của một pháp nhân nêu trên:

- Được Hội nghị nhà chung cư bầu ra và được “Uỷ ban nhân dân cấp quận chấp thuận”;

- “Có từ 05 đến 15 thành viên, gồm 01 Trưởng ban, 01 hoặc 02 Phó ban, trong đó có 01 Phó ban là thành phần do Chủ đầu tư hoặc đơn vị quản lý nhà chung cư cử tham gia Ban quản trị”;

- “Nhiệm kỳ tối đa là 3 năm”;

- “Hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số”;

- Có tài sản là nguồn thu độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

- Có quyền Lựa chọn và ký hợp đồng với doanh nghiệp quản lý vận hành nhà chung cư; huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp doanh nghiệp đó không thực hiện đúng cam kết; giám sát hoạt động của doanh nghiệp quản lý nhà chung cư theo nội dung hợp đồng đã ký.” (khoản 2, Điều 72 về “Quyền và trách nhiệm của Ban quản trị”, Luật Nhà ở).

Hay, một tổ chức hội, thì ngoài cả hội là một pháp nhân ra, tổ chức nào khác thuộc hội sẽ là hay không có tư cách pháp nhân? Ví dụ, Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam ra quyết định thành lập và xác định “Văn phòng Trung ương Hội khuyến học Việt Nam phía Nam” có tư cách pháp nhân, thì văn phòng ấy có tài sản độc lập hay chỉ là một bộ phận hoàn toàn phụ thuộc vào với Hội Khuyến học. Khó tìm được căn cứ pháp lý rõ ràng để khẳng định hay bác bỏ tư cách pháp nhân của Văn phòng ấy.

(more…)

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NUÔI CON SAU LY HÔN: BỊ GIÀNH CON SAU BỐN NĂM LY HÔN

THANH TÙNG

Đã có đủ yếu tố để khởi tố tội bắt cóc – Một độc giả của Báo Pháp luật TPHCM

Gia đình bên nội giữ lại đứa bé, không cho mẹ tiếp tục nuôi dưỡng vì cho rằng cháu đã lớn, cần sự chăm sóc của họ.

Những ngày này chị Phan Thị Lợi (xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, TP.HCM) đang cầu cứu khắp nơi vì phía gia đình chồng cũ quyết giữ đứa con gái mà tòa án đã giao cho chị nuôi dưỡng khi ly hôn. Không chỉ thế, khi đến đòi con chị còn bị phía gia đình chồng cũ dọa nạt…

Ban đầu để vợ nuôi con…

Sau gần 10 năm chung sống, đầu năm 2008 do mâu thuẫn gia đình, chị Lợi chủ động làm đơn xin ly hôn. Xử sơ thẩm, TAND huyện Củ Chi chấp nhận yêu cầu. Về phần con chung, tòa ghi nhận sự thỏa thuận, giao cho chị tiếp tục nuôi con, chồng chị phải cấp dưỡng cho cháu. Theo tòa, bé còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và cũng để ổn định tâm sinh lý nên cần thiết phải giao cho mẹ.

Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành.

Theo trình bày của chị Lợi, từ năm 2008 đến nay chị luôn hết lòng dốc sức nuôi con. Mặc dù kinh tế không khá giả nhưng chị vẫn đảm bảo đủ điều kiện cho cháu bé sinh hoạt học hành và bản thân cháu cũng rất gắn bó thương yêu chị. Hai mẹ con ở bên nhà ngoại nhưng chị vẫn tạo điều kiện cho chồng cũ thực hiện quyền thăm nuôi bé. Thậm chí mỗi khi rảnh rỗi hay đến dịp nghỉ hè chị đều chở con về cho bé thăm gia đình bên nội vài ba ngày.

Sau bắt lại cháu

Bốn năm sau ngày ly hôn mọi việc vẫn diễn ra êm đẹp, quan hệ giữa hai bên cũng không có biến cố. Nhưng chị Lợi cho biết đầu tháng 6-2012, như thường lệ, chị cho con về bên nội chơi nhưng gần một tuần chị quay lại đón con về thì bị nhà chồng cũ kiên quyết ngăn cản.

(more…)

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: KIỆN BẠN HỌC CỦA CON VÌ CON BỊ GỌI LÀ “GAY”

THANH BÌNH

Nguyên đơn cho rằng bị đơn gọi con trai bà là “gay” (đồng tính nam) là đã xúc phạm tới danh dự của cả con trai bà và bản thân bà…

Bà G. (54 tuổi, ngụ huyện Hóc Môn, TP.HCM) có một con trai tên T. 17 tuổi. Giữa năm 2011, con trai bà theo học nghề mộc tại một trung tâm đào tạo nghề. Trong lớp, T. chơi khá thân với Q. (hơn 19 tuổi) và đưa về nhà chơi nhưng không hiểu vì lý do gì, Q. thường xuyên gọi T. là “gay”…

Gọi bạn là “gay”…

Cách gọi này lọt đến tai người mẹ khiến bà G. vô cùng tức giận, nhiều lần nhắc nhở Q. thay đổi cách gọi và yêu cầu không được gán ghép từ “gay” với con trai bà. Tuy nhiên, sau đó bà G. vẫn loáng thoáng nghe Q. gọi con trai bà như trên. Dò hỏi bạn bè trong lớp của con, bà còn biết tại trường, hay mỗi lần đi chơi, trò chuyện với mọi người xung quanh khi nhắc tới T. thì Q. đều gọi là T. “gay”, thậm chí còn khắc lên bàn học của con trai bà hai chữ T. “gay”.

Bà nhắc nhở Q. không thành nên dọa sẽ tố cáo với trung tâm đào tạo và yêu cầu xin lỗi bà và con trai với hình thức: Xin lỗi công khai tại trung tâm đào tạo nghề, viết đơn xin lỗi gửi tới bạn bè trong trường, đồng thời bồi thường danh dự cho cả hai mẹ con bà tổng số tiền 10 triệu đồng.

Tuy nhiên, yêu cầu này của bà không được Q. chấp nhận vì lý do “chỉ nói bâng quơ cho vui, không hề ám chỉ và không gây ảnh hưởng hay thay đổi bản chất sự thật giới tính của con bà”…

Do không được đáp ứng yêu cầu xin lỗi và bồi thường nên đầu tháng 5-2012, bà G. đã gửi đơn kiện ra TAND một huyện tại TP.HCM khởi kiện Q. vì cho rằng đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con trai bà, làm ảnh hưởng tới tâm lý của con trai. Cách xưng hô thiếu tế nhị này đã làm tổn hại danh dự của bà và con trai.

Mất danh dự cả hai mẹ con

Theo đơn khởi kiện, bà G. trình bày: “Tôi đơn thân nuôi con khôn lớn. Ngay từ mới sinh nó là con trai, giấy chứng sinh tại bệnh viện xác định giới tính của con tôi là nam. Giấy khai sinh cũng chứng thực là nam, toàn bộ giấy tờ học hành, hộ khẩu đều xác định có chứng nhận là nam. Vậy mà nó đổi trắng thay đen nói con tôi là “gay” là không chính xác”.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 515 other followers

%d bloggers like this: