QUYỀN RIÊNG TƯ TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

THS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG  – Giảng viên Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh

Ở Việt Nam khi đề cập đến quyền riêng tư, dường như mới chỉ dừng lại ở quyền về bí mật đời tư – Civillawinfor

Ở các nước phát triển, quyền riêng tư được công nhận từ rất sớm, là một trong những quyền cơ bản nhất của con người [1] và hiện đã trở thành một trong những quyền quan trọng nhất của quyền con người trong thời hiện đại. Quyền riêng tư của công dân ngày càng được thừa nhận rộng rãi trong hệ thống pháp luật của nhiều nước. Hiến pháp của hầu hết các quốc gia đều ghi nhận quyền này [2].

1. Sơ lược lịch sử phát triển của quyền riêng tư

Sự riêng tư có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử. Ví dụ trong Kinh Thánh có nhiều điều đề cập đến quyền riêng tư; trong nền văn minh Hebrew, nền văn minh Hy Lạp cổ đại và cả Trung Quốc cổ đại cũng có đề cập đến bảo vệ sự riêng tư [3]. Nhưng có thể nói, quyền riêng tư sơ khai xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước.

Trong xã hội nguyên thủy, cuộc sống bầy đàn cũng như tính gắn kết cộng đồng cao, dường như tính riêng tư của cá nhân bị “bỏ quên”, và con người trong xã hội đó không có khái niệm cũng như không đòi hỏi cái gọi là “riêng tư” cho bản thân mình. Phải đến khi hình thái nhà nước đầu tiên thực sự xuất hiện – là nhà nước chiếm hữu nô lệ – thì “quyền riêng tư” mới manh nha xuất hiện như trường hợp lời thề Hippocrate trong ngành y, đó là việc các thầy thuốc phải tuyên thệ về việc giữ bí mật với hồ sơ bệnh án[4].

Tuy nhiên, trong một xã hội mang tính bất bình đẳng cao giữa các giai cấp như xã hội chiếm hữu nô lệ thì các quyền con người nói chung và quyền riêng tư nói riêng là quyền mà chỉ tầng lớp chủ nô mới có; còn giai cấp nô lệ – được xem là một thứ “tài sản biết nói” của chủ nô – thì không có gì liên quan đến nô lệ mà chủ nô không có quyền được biết. Những gì liên quan đến nô lệ, bao gồm cả bí mật đời tư đều thuộc sở hữu và quyền quyết định của chủ nô. Do đó, quyền riêng tư trong giai đoạn này và cả dưới chế độ phong kiến không được chính thức ghi nhận bởi pháp luật, nó được coi là một “đặc quyền” mà chỉ có các tầng lớp cao quý trong xã hội (chủ nô, lãnh chúa phong kiến…) mới được hưởng.

Quyền riêng tư bắt đầu manh nha xuất hiện trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phát triển cho đến ngày nay. Tuy nhiên, tính rõ ràng của thuật ngữ cũng như tính pháp lý của quyền này chỉ thực sự được khẳng định cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Do đó, có thể nói, quyền riêng tư có nguồn gốc từ phương Tây[5] và phát triển nhờ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.

(more…)

BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH PHÁP NHÂN VÀ ĐẠI DIỆN PHÁP NHÂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Phó Tổng Giám đốc Maritime Bank

1. Khái niệm pháp nhân:

Điều 84 về “Pháp nhân” của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Được thành lập hợp pháp;

2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

Bốn điều kiện cụ thể, rõ ràng nói trên áp dụng cụ thể vào thực tế thì lại rất khó phân biệt và không hề đơn giản. Chẳng hạn Ban quản trị nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở năm 2006 (sửa đổi năm 2009) và văn bản hướng dẫn, thì hoàn toàn cũng đáp ứng được cả 4 điều kiện của một pháp nhân nêu trên:

- Được Hội nghị nhà chung cư bầu ra và được “Uỷ ban nhân dân cấp quận chấp thuận”;

- “Có từ 05 đến 15 thành viên, gồm 01 Trưởng ban, 01 hoặc 02 Phó ban, trong đó có 01 Phó ban là thành phần do Chủ đầu tư hoặc đơn vị quản lý nhà chung cư cử tham gia Ban quản trị”;

- “Nhiệm kỳ tối đa là 3 năm”;

- “Hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số”;

- Có tài sản là nguồn thu độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;

- Có quyền Lựa chọn và ký hợp đồng với doanh nghiệp quản lý vận hành nhà chung cư; huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp doanh nghiệp đó không thực hiện đúng cam kết; giám sát hoạt động của doanh nghiệp quản lý nhà chung cư theo nội dung hợp đồng đã ký.” (khoản 2, Điều 72 về “Quyền và trách nhiệm của Ban quản trị”, Luật Nhà ở).

Hay, một tổ chức hội, thì ngoài cả hội là một pháp nhân ra, tổ chức nào khác thuộc hội sẽ là hay không có tư cách pháp nhân? Ví dụ, Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam ra quyết định thành lập và xác định “Văn phòng Trung ương Hội khuyến học Việt Nam phía Nam” có tư cách pháp nhân, thì văn phòng ấy có tài sản độc lập hay chỉ là một bộ phận hoàn toàn phụ thuộc vào với Hội Khuyến học. Khó tìm được căn cứ pháp lý rõ ràng để khẳng định hay bác bỏ tư cách pháp nhân của Văn phòng ấy.

(more…)

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NUÔI CON SAU LY HÔN: BỊ GIÀNH CON SAU BỐN NĂM LY HÔN

THANH TÙNG

Đã có đủ yếu tố để khởi tố tội bắt cóc – Một độc giả của Báo Pháp luật TPHCM

Gia đình bên nội giữ lại đứa bé, không cho mẹ tiếp tục nuôi dưỡng vì cho rằng cháu đã lớn, cần sự chăm sóc của họ.

Những ngày này chị Phan Thị Lợi (xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, TP.HCM) đang cầu cứu khắp nơi vì phía gia đình chồng cũ quyết giữ đứa con gái mà tòa án đã giao cho chị nuôi dưỡng khi ly hôn. Không chỉ thế, khi đến đòi con chị còn bị phía gia đình chồng cũ dọa nạt…

Ban đầu để vợ nuôi con…

Sau gần 10 năm chung sống, đầu năm 2008 do mâu thuẫn gia đình, chị Lợi chủ động làm đơn xin ly hôn. Xử sơ thẩm, TAND huyện Củ Chi chấp nhận yêu cầu. Về phần con chung, tòa ghi nhận sự thỏa thuận, giao cho chị tiếp tục nuôi con, chồng chị phải cấp dưỡng cho cháu. Theo tòa, bé còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và cũng để ổn định tâm sinh lý nên cần thiết phải giao cho mẹ.

Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực thi hành.

Theo trình bày của chị Lợi, từ năm 2008 đến nay chị luôn hết lòng dốc sức nuôi con. Mặc dù kinh tế không khá giả nhưng chị vẫn đảm bảo đủ điều kiện cho cháu bé sinh hoạt học hành và bản thân cháu cũng rất gắn bó thương yêu chị. Hai mẹ con ở bên nhà ngoại nhưng chị vẫn tạo điều kiện cho chồng cũ thực hiện quyền thăm nuôi bé. Thậm chí mỗi khi rảnh rỗi hay đến dịp nghỉ hè chị đều chở con về cho bé thăm gia đình bên nội vài ba ngày.

Sau bắt lại cháu

Bốn năm sau ngày ly hôn mọi việc vẫn diễn ra êm đẹp, quan hệ giữa hai bên cũng không có biến cố. Nhưng chị Lợi cho biết đầu tháng 6-2012, như thường lệ, chị cho con về bên nội chơi nhưng gần một tuần chị quay lại đón con về thì bị nhà chồng cũ kiên quyết ngăn cản.

(more…)

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: KIỆN BẠN HỌC CỦA CON VÌ CON BỊ GỌI LÀ “GAY”

THANH BÌNH

Nguyên đơn cho rằng bị đơn gọi con trai bà là “gay” (đồng tính nam) là đã xúc phạm tới danh dự của cả con trai bà và bản thân bà…

Bà G. (54 tuổi, ngụ huyện Hóc Môn, TP.HCM) có một con trai tên T. 17 tuổi. Giữa năm 2011, con trai bà theo học nghề mộc tại một trung tâm đào tạo nghề. Trong lớp, T. chơi khá thân với Q. (hơn 19 tuổi) và đưa về nhà chơi nhưng không hiểu vì lý do gì, Q. thường xuyên gọi T. là “gay”…

Gọi bạn là “gay”…

Cách gọi này lọt đến tai người mẹ khiến bà G. vô cùng tức giận, nhiều lần nhắc nhở Q. thay đổi cách gọi và yêu cầu không được gán ghép từ “gay” với con trai bà. Tuy nhiên, sau đó bà G. vẫn loáng thoáng nghe Q. gọi con trai bà như trên. Dò hỏi bạn bè trong lớp của con, bà còn biết tại trường, hay mỗi lần đi chơi, trò chuyện với mọi người xung quanh khi nhắc tới T. thì Q. đều gọi là T. “gay”, thậm chí còn khắc lên bàn học của con trai bà hai chữ T. “gay”.

Bà nhắc nhở Q. không thành nên dọa sẽ tố cáo với trung tâm đào tạo và yêu cầu xin lỗi bà và con trai với hình thức: Xin lỗi công khai tại trung tâm đào tạo nghề, viết đơn xin lỗi gửi tới bạn bè trong trường, đồng thời bồi thường danh dự cho cả hai mẹ con bà tổng số tiền 10 triệu đồng.

Tuy nhiên, yêu cầu này của bà không được Q. chấp nhận vì lý do “chỉ nói bâng quơ cho vui, không hề ám chỉ và không gây ảnh hưởng hay thay đổi bản chất sự thật giới tính của con bà”…

Do không được đáp ứng yêu cầu xin lỗi và bồi thường nên đầu tháng 5-2012, bà G. đã gửi đơn kiện ra TAND một huyện tại TP.HCM khởi kiện Q. vì cho rằng đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con trai bà, làm ảnh hưởng tới tâm lý của con trai. Cách xưng hô thiếu tế nhị này đã làm tổn hại danh dự của bà và con trai.

Mất danh dự cả hai mẹ con

Theo đơn khởi kiện, bà G. trình bày: “Tôi đơn thân nuôi con khôn lớn. Ngay từ mới sinh nó là con trai, giấy chứng sinh tại bệnh viện xác định giới tính của con tôi là nam. Giấy khai sinh cũng chứng thực là nam, toàn bộ giấy tờ học hành, hộ khẩu đều xác định có chứng nhận là nam. Vậy mà nó đổi trắng thay đen nói con tôi là “gay” là không chính xác”.

(more…)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 520 other followers

%d bloggers like this: