QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀNG TẠI VIỆT NAM–MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý

THS. NGUYỄN THU TRANG & THS. CHU THỊ VIỆT ANH – Viện Chiến lược Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tại Việt Nam, vàng luôn là một tài sản tích trữ được ưa chuộng, thậm chí có những giai đoạn, vàng không chỉ còn là phương tiện tích trữ giá trị mà còn đóng vai trò là tiền tệ; giá vàng có lúc đã là một chỉ số ảnh hưởng đến giá cả các loại hàng hóa trong nền kinh tế. Chính vì vậy, các hoạt động kinh doanh vàng tại Việt Nam đã sớm được đưa vào quản lý.

Cùng với các chính sách đổi mới nền kinh tế, ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX, các văn bản pháp lý quy định cụ thể về vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đối với vàng với tư cách là tiền tệ, hay các văn bản quy định các hoạt động huy động và sử dụng vốn bằng vàng, các hoạt động kinh doanh vàng tài khoản đã lần lượt ra đời.

Về cơ bản, các văn bản điều tiết hoạt động kinh doanh vàng được ban hành bước đầu đã tạo lập được hành lang pháp lý cho hoạt động của thị trường vàng. Tuy nhiên, khuôn khổ này chỉ tỏ ra phù hợp với thị trường “không có sóng” của những năm 2000 – 2005, khi giá vàng trong nước tuy có tăng nhưng không có nhiều chênh lệch so với giá vàng thế giới và các hình thức đầu tư kinh doanh vàng chưa được phép thực hiện. Bước sang năm 2006, xu hướng gia tăng mạnh liên tiếp của giá vàng thế giới cộng hưởng với việc cho phép được thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản với các điều kiện tương đối dễ dãi trong bối cảnh diễn biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước bắt đầu bộc lộ nhiều bất ổn đã làm nhu cầu tích trữ, đầu cơ vàng gia tăng đột biến. Giá vàng trong nước thay đổi khó kiểm soát và luôn có một khoảng cách lớn tương đối so với giá vàng thế giới mà đỉnh điểm rơi vào năm 2009. Ðến lúc này, khuôn khổ pháp lý điều tiết hoạt động kinh doanh vàng mới tỏ ra là không còn thích hợp, đặc biệt là trong việc giám sát và can thiệp thị trường. Sự yếu kém của khuôn khổ pháp lý điều tiết đã dẫn đến kết quả là từ năm 2009, thị trường vàng đã rơi vào tình trạng bất ổn, các hoạt động xuất, nhập khẩu vàng lậu và việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh vàng là khó kiểm soát,… Ðiều đó, đã có ảnh hưởng nhất định đến mục tiêu phát triển kinh tế ổn định nói chung, các mục tiêu điều hành và thực thi chính sách tiền tệ của NHNN nói riêng. Chính vì vậy, bước sang năm 2010, bám sát sự chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã tiến hành xây dựng khuôn khổ pháp lý quản lý, điều tiết hoạt động kinh doanh vàng. Và đến ngày 03/4/2012, Nghị định số 24/2012/NÐ-CP của Chính phủ về việc quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 24) đã được ban hành.

Nghị định 24 ra đời đã khắc phục được những lỗ hổng pháp lý của giai đoạn trước, tạo cơ sở pháp lý để tổ chức lại thị trường vàng theo hướng phát triển ổn định và bền vững, tăng cường quản lý đối với thị trường vàng, khắc phục tình trạng đầu cơ tích trữ, buôn bán trái phép, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Nếu như trước đây, Việt Nam chưa có quy định về chức năng quản lý tập trung các hoạt động kinh doanh, đầu tư vàng theo nghĩa là hàng – tiền trong nền kinh tế (Nghị định 174/1999/NÐ-CP ngày 09/12/1999 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng mới chỉ quy định chức năng, nhiệm vụ của NHNN trong quản lý hoạt động kinh doanh vàng là chủ yếu nhằm hỗ trợ cho việc thực thi chính sách tiền tệ như xuất, nhập khẩu vàng nguyên liệu, sản xuất vàng miếng. Trong khi đó, hoạt động kinh doanh vàng trang sức sẽ thực hiện theo Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp) thì Nghị định 24 hiện đã quy định NHNN là cơ quan quản lý tập trung các hoạt động sản xuất và kinh doanh vàng:

- Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất – nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, NHNN sẽ tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyết định hạn mức, thời điểm sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp trong từng thời kỳ.

- Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện và phải được NHNN cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

- Tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép và được NHNN cấp Giấy phép.

Bên cạnh đó, sự ra đời của Quyết định 1623/QÐ-NHNN ngày 23/8/2012 về việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng của NHNN đã chính thức thiết lập tiêu chuẩn cho chất lượng vàng miếng tại Việt Nam. Theo đó, NHNN sẽ tổ chức sản xuất vàng miếng căn cứ vào mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và cung cầu vàng miếng trên thị trường, giao SJC gia công vàng miếng cho NHNN: SJC chỉ được gia công vàng miếng SJC 99,99% cho NHNN theo chỉ đạo của NHNN về hạn mức, thời điểm sản xuất và nguồn vàng nguyên liệu để tổ chức sản xuất vàng miếng và dưới sự quản lý, giám sát chặt chẽ của NHNN.

Từ khi Nghị định 24 ra đời, nhìn chung, diễn biến giá vàng trong nước đã ổn định hơn, hiện tượng buôn lậu, đầu cơ tích trữ vàng đã phần nào được hạn chế. Tuy nhiên, giá vàng trong nước vẫn chịu tác động mạnh của yếu tố tâm lý thị trường nên vẫn còn xảy ra hiện tượng giá vàng trong nước tăng đột biến vào một số thời điểm, đặc biệt khi giá vàng thế giới tăng mạnh vào trung tuần tháng 9/2012 hay khi xuất hiện một số thông tin đồn đoán về hệ thống ngân hàng vào thời điểm cuối tháng 8/2012,… Nhưng quan sát thực tế cho thấy, mặc dù không cần đến những can thiệp từ phía NHNN theo tiền lệ (ví dụ như việc cho phép nhập khẩu vàng để cân đối cung cầu) thì biến động của giá vàng vào thời điểm này đã không còn quá nóng và thị trường đã bắt đầu có khả năng điều chỉnh thích ứng; đồng thời, hiện tượng giá vàng biến động gây sức ép lên tỷ giá như đã xảy ra vào các năm trước đây cũng đã không lặp lại. Và đây được xem là tín hiệu tích cực bước đầu của công tác quản lý hoạt động kinh doanh vàng từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. (Biểu đồ 1)

Biểu đồ 1:

clip_image002

Mặc dù vậy, trong thực tế điều hành, vẫn còn một số tồn tại mà khuôn khổ pháp lý mới được ban hành chưa thể giải quyết được hết, chẳng hạn như hiện tượng chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới ở mức cao – hiện phổ biến khoảng 2,5 đến 3 triệu đồng/lượng (chủ yếu là do Việt Nam là nước nhập khẩu vàng lớn); hoạt động kinh doanh vàng tài khoản chui (do các quy định liên quan đến hoạt động này vẫn chưa được bao quát đầy đủ trong Nghị định 24); hoạt động đầu cơ bằng vàng vật chất (do chưa có sự tách bạch giữa hoạt động kinh doanh vàng vật chất và vàng phi vật chất),… Một số vấn đề tồn tại trên của thị trường vàng trong nước khó có thể được giải quyết trong một sớm một chiều, nhưng để đảm bảo được tính thông suốt và lành mạnh của thị trường, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và diễn biến kinh tế thế giới còn nhiều phức tạp, thì công tác quản lý thị trường vàng cần thiết phải được rà soát, bổ sung, chỉnh sửa thường xuyên đảm bảo đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tiễn theo hướng:

Thứ nhất: Phát triển lành mạnh thị trường vàng, cần đảm bảo sự thông suốt trong phạm vi nền kinh tế và liên thông với thị trường quốc tế. Kinh nghiệm cho thấy, một thị trường phát triển lành mạnh không có nghĩa để thị trường phát triển tự do, nhưng cũng không thể chỉ bằng các giải pháp hành chính, nhất là trong bối cảnh hội nhập. Việc phát triển thị trường vàng cần phải có lộ trình với những bước mở từ từ và thận trọng, phù hợp với trình độ phát triển của thị trường tài chính trong nước. Việc điều tiết các chủ thể tham gia thị trường phải được thực hiện thông qua các công cụ và hàng rào kỹ thuật,… để phát huy được sự đóng góp của thị trường vàng vào kết quả chung của nền kinh tế. Theo đó, những bước đi của Trung Quốc là những kinh nghiệm tham khảo hữu ích cho vấn đề này.

Trung Quốc là quốc gia đứng thứ hai thế giới về quy mô tiêu dùng vàng và là một trong những nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới. Mặc dù tâm lý ưa chuộng tích trữ vàng trong dân cư tại Trung Quốc không mạnh như tại Ấn Ðộ (do trong quá khứ, việc sở hữu vàng tư nhân trước năm 1979 tại Trung Quốc bị coi là bất hợp pháp), nhưng công tác quản lý thị trường vàng luôn được chú trọng tại Trung Quốc. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) luôn là cơ quan đại diện Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý thị trường vàng (theo Ðiều lệ quản lý vàng và Luật Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, PBOC phụ trách quản lý dự trữ vàng quốc gia (thuộc tài khoản dự trữ ngoại hối), phê chuẩn các hoạt động sản xuất, kinh doanh bao gồm gia công, tiêu thụ các sản phẩm vàng, các sản phẩm công nghiệp có hàm lượng vàng, quản lý và kiểm tra thị trường vàng, giám sát thực thi Ðiều lệ quản lý vàng). (Biểu đồ 2)

Biểu đồ 2: Tiến trình cải cách thị trường vàng Trung Quốc

clip_image004

Thứ hai: Các công cụ, các loại hình hoạt động trên thị trường vàng cần có lộ trình phát triển từng bước, phù hợp với điều kiện và trình độ quản lý cụ thể của đất nước, đặc biệt là cần có sự tách bạch giữa hoạt động kinh doanh vàng vật chất và phi vật chất. Cần tránh lặp lại bài học trong quá khứ khi Việt Nam cho phép các sàn giao dịch vàng, các sản phẩm vàng phi vật chất như kinh doanh vàng trên tài khoản ra đời trong khi thực tiễn phát triển của Việt Nam chưa đáp ứng được (về cơ chế giám sát, kiến thức chuyên môn của các nhà đầu tư).

Kinh nghiệm điều tiết hoạt động kinh doanh vàng tại Trung Quốc và Ấn Ðộ – hai quốc gia có nhiều nét tương đồng với thị trường vàng Việt Nam cho thấy, trong quá trình phát triển thị trường vàng, các vấn đề liên quan đến giao dịch vàng vật chất được ưu tiên xử lý trước các vấn đề liên quan đến giao dịch các sản phẩm vàng phi vật chất. Các sản phẩm lưu hành trên thị trường vàng cần được phát triển từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với trình độ phát triển của thị trường và kiến thức của nhà đầu tư. Kinh nghiệm nghiên cứu chỉ ra rằng, trước tiên cần ưu tiên phát triển các sản phẩm kinh doanh vàng vật chất trước các sản phẩm vàng tài chính với các hình thức đơn giản ban đầu là các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu,… rồi sau đó, mới phát triển các hình thức kinh doanh vàng tài khoản với các sản phẩm vàng phái sinh,… Chúng tôi cho rằng, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của Ấn Ðộ trong việc tập trung phát triển các sản phẩm để có thể huy động được tối đa lượng vàng trong nền kinh tế trong giai đoạn quản lý tập trung các hoạt động đầu tư, kinh doanh vàng hiện nay.

Thứ ba: Tạo lập được khuôn khổ pháp lý quy định chặt chẽ về hoạt động kinh doanh vàng tài khoản, kinh doanh vàng phi vật chất. Xem xét luật hóa một cách cụ thể hình thức, phạm vi, đối tượng được phép giao dịch của hoạt động này để tạo kênh "liên thông" hẹp, được kiểm soát chặt nhưng linh hoạt giữa thị trường vàng trong nước và thị trường vàng quốc tế. Ðồng thời, Nhà nước cần sử dụng công cụ thuế, bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt để điều tiết, hạn chế việc đầu cơ vàng.

Kinh nghiệm Trung Quốc đã luôn đảm bảo khả năng quản lý chặt chẽ đối với các giao dịch vàng phi vật chất với các điều kiện cho phép giao dịch chặt chẽ, cụ thể như:

- Các tổ chức tham gia giao dịch phải được sự cho phép của PBOC. Các giao dịch này được thực hiện thống nhất tại hai trung tâm là SGE (PBOC quản lý) và SFE (do CSRC quản lý) và phải tuân thủ theo các nguyên tắc giao dịch tại hai trung tâm này. Ngoài ra, các giao dịch của các ngân hàng thương mại còn phải được báo cáo chi tiết lên Ủy ban giám sát Ngân hàng (CBRC). Ðể được phép tham gia giao dịch tại hai trung tâm giao dịch, các tổ chức phải đáp ứng được các tiêu chuẩn nhất định và phải được sự chấp thuận của PBOC. Do đó, bản thân các tiêu chuẩn này đã là một rào cản quan trọng nhằm đảm bảo vai trò quản lý của PBOC cũng như hạn chế rủi ro cho các tổ chức tham gia.

- Ðòn bẩy tài chính hầu như không được sử dụng trong các giao dịch trên SGE. Ðể tiến hành giao dịch, bên mua phải có một tài khoản thanh toán đặc biệt tại một trong bốn ngân hàng thanh toán do SGE quy định và bên bán phải có vàng giữ tại kho của SGE. Ngay khi một thành viên đặt lệnh mua, SGE tiến hành phong tỏa tài khoản thanh toán của thành viên này và ngay khi một thành viên đặt lệnh bán, SGE cũng tiến hành phong tỏa lượng vàng tương đương của tổ chức này đang lưu trữ tại kho của SGE để đảm bảo cho giao dịch được thực hiện. Mặc dù các tổ chức, thậm chí là các nhà đầu tư cá nhân đã được mở các tài khoản để giao dịch vàng đầu tư, nhưng việc quy định phong tỏa 100% giá trị giao dịch như vậy khiến cho hoạt động đầu tư vàng (theo đúng nghĩa tài khoản đầu tư vàng: nhà đầu tư chỉ ký quỹ một số % nhất định là có thể tiến hành giao dịch như thông lệ quốc tế) thực chất là vẫn chưa được phép tiến hành tại Trung Quốc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vàng theo chức năng Ngân hàng Trung ương”, Mã số: KNH 2009-01, (2010) ThS. Nguyễn Vân Anh.

2. “Kinh nghiệm quản lý thị trường vàng ở Trung Quốc và Ấn Độ”, Viện Chiến lược Ngân hàng.

3. “Thị trường vàng tiếp tục biến động phức tạp”, 06/04/2006, vietbao.vn

4. “Vai trò của vàng và ngoại tệ trong điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam”, (2006), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học, Nhà xuất bản văn hóa thông tin Hà Nội.


SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 18/2012

Trích dẫn từ:

http://www.sbv.gov.vn/wps/wcm/connect/65343a004d596c869d279d3f2c0fbf88/nguyen+thu+trang.doc?MOD=AJPERES&CACHEID=65343a004d596c869d279d3f2c0fbf88

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 669 other followers

%d bloggers like this: