HỘ GIA ĐÌNH – NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI SỬA ĐỔI CHẾ ĐỊNH CHỦ THỂ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

THS. LÊ THỊ HOÀNG THANH – Phó trưởng ban, Ban Nghiên cứu Pháp luật dân sự – kinh tế, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp;

PHẠM VĂN BẰNG – Viện Khoa học Pháp lý, Bộ tư pháp

1. Đánh giá quy định của Bộ luật Dân sự về hộ gia đình

Hộ gia đình (HGĐ) là khái niệm được nhắc đến trong các văn bản pháp luật từ rất sớm (từ những năm 1964) và được ghi nhận như là một chủ thể pháp lý tham gia các quan hệ dân sự, chẳng hạn như: chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (Điều 106 đến Điều 110 Bộ luật Dân sự – BLDS – năm 2005); chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000); chủ thể quan hệ pháp luật cư trú, hộ tịch (Điều 24, 25 Luật Cư trú năm 2006); chủ thể quan hệ pháp luật về đăng ký kinh doanh, kinh doanh (Nghị  định số 88/2006 NĐ-CP)[1]; chủ thể quan hệ pháp luật về đất đai (quan hệ giao đất, cho thuê đất, nhận khoán đất sản xuất, chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng (QSD) đất)… Ngoài ra, HGĐ còn là chủ thể trong việc đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, các chương trình vận động, đóng góp tình nguyệnHGĐ với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là vấn đề có nguồn gốc từ lịch sử và mang tính đặc thù của Việt Nam.

Tuy nhiên, trong BLDS 2005, với 5 điều luật từ Điều 106 đến Điều 110 về các giao dịch dân sự, chế định HGĐ đã gây nhiều khó khăn, vướng mắc cho công tác quản lý nhà nước và “cản trở” các giao dịch dân sự mà có HGĐ tham gia với tư cách là một bên trong quan hệ, giao dịch đó.

1.1. Về khái niệm hộ gia đình

Theo Từ điển Luật học, HGĐ là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng”1. Còn trong BLDS, khái niệm HGĐ không được định nghĩa một cách chính thức, mà chỉ khẳng định HGĐ có thể là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự (Điều 106 BLDS). Điều 106 BLDS cho thấy, không phải bất cứ HGĐ nào cũng là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, mà hội tụ đủ hai yếu tố sau đây mới trở thành chủ thể quan hệ dân sự: (i) HGĐ (theo hộ khẩu hành chính, theo quan hệ hôn nhân, theo quan hệ huyết thống, hoặc theo những cách xác định khác) và cộng với (ii) các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác. Điều 106 BLDS chỉ thừa nhận tư cách chủ thể của HGĐ khi giữa các thành viên có sự liên kết về mặt kinh tế và cũng chỉ thừa nhận tư cách chủ thể trong các quan hệ kinh tế, chứ không điều chỉnh tư cách chủ thể của HGĐ khi tham gia các giao dịch tiêu dùng. Như vậy, HGĐ là chủ thể hạn chế của quan hệ pháp luật dân sự. Chúng tôi cho rằng, xác định HGĐ với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự theo quy định tại Điều 106 sẽ không khó khăn nếu đặt trong trạng thái tĩnh, tuy nhiên, trên thực tế, cuộc sống gia đình luôn ở trong trạng thái động, luôn có sự thay đổi, vận động dẫn đến tư cách chủ thể của HGĐ không rõ ràng.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 655 other followers

%d bloggers like this: